Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chỉ số RI động mạch nhu mô giai đoạn sớm có tương quan đồng biến mức độ trung bình với creatinin huyết thanh sau 6-12 tháng theo phương trình y=40,16+99,81*x, với hệ số tương quan r = 0.39.

Chỉ số RI động mạch nhu mô giai đoạn sớm có tương quan đồng biến mức độ trung bình với creatinin huyết thanh sau 6-12 tháng theo phương trình y=40,16+99,81*x, với hệ số tương quan r = 0.39.

Tải bản đầy đủ - 0trang

59



Chỉ số



PI giai



Hệ số tương



6 tháng

104,76±19,10

53-146



đoạn sớm

1,11±0,23

0,69-1,69



quan

R=0,64*



Phương trình

y=67,08+36,72*x



80



90



100



110



120



130



Ā±SD

Min-max



Creatinin HT



.5



1



PI 7 ngày



Creatitnin 6 tháng



1.5



2



Tuong quan



Biểu đồ 3.6. Liên quan của chỉ số PI nhu mô thận ghép giai đoạn sớm với

Creatin huyết thanh sau 6-12 tháng

Nhận xét:



- Chỉ số PI động mạch nhu mơ giai đoạn sớm có tương quan đồng biến

mức độ chặt chẽ với creatinin huyết thanh sau 6-12 tháng theo phương

trình y=67,08+36,72*x, với hệ số tương quan r = 0,64.



* Vận tốc đỉnh tâm thu (Vp)

Bảng 3.16. Liên quan của chỉ sốVp nhu mô thận ghép giai đoạn sớm với

Creatin huyết thanh sau 6-12 tháng



60



Chỉ số



Creatinin HT



Vp giai



Hệ số tương



6 tháng



đoạn sớm

48,66±16,9



quan



6

20-98



R=0,21



104,76±19,10



Min-max



53-146



y=92,94+0,28*x



50



100



150



Ā±SD



Phương trình



0.50



0.60



0.70

RI 1/3



Creatinin sau 6 tháng



0.80



0.90



Tuong quan



Biểu đồ 3.6. Liên quan của chỉ sốVp nhu mô thận ghép giai đoạn sớm với

Creatin huyết thanh sau 6-12 tháng

Nhận xét:

- Chỉ sốVp của động mạch nhu mô giai đoạn sớm có tương quan đồng

biến mức độ yếu với creatinin huyết thanh sau 6-12 tháng theo phương trình

y=92,94+0,28*x, với hệ số tương quan r = 0,21.



CHƯƠNG 4

BÀN LUẬN



61



Qua kết quả nghiên cứu 44 bệnh nhân ghép thận tại bệnh viện Việt Đức

và bệnh viện Bạch Mai thời gian từ T9/2013-T9/2014, chúng tôi xin đưa ra

một số ý kiến bàn luận như sau:

4.1. ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA NHÓM BỆNH NHÂN NGHIÊN CỨU

4.1.1. Tuổi và giới

* Tuổi

Độ tuổi trung bình của người nhận thận trong nhóm nghiên cứu là từ 20

đến 50 tuổi, chiếm 88,6%. Tuổi trung bình là 35,1±10,16 tuổi. Tuổi thấp nhất

trong các đối tượng nghiên cứu là 19 tuổi và cao nhất là 60 tuổi. Tỷ lệ bệnh

nhân trẻ được ghép thận (<40 tuổi) là khá cao, đây là độ tuổi đang đóng góp

sức lao động cho xã hội. Kết quả này cũng phù hợp với một số nghiên cứu

khác trong nước, tuy nhiên thấp hơn các nghiên cứu trên thế giới. Điều này

thể hiện sự ưu tiên chọn lựa ghép thận - một phương pháp điều trị còn khá tốn

kém - cho người trẻ của một đất nước thuộc nền kinh tế đang phát triển như

nước ta.

Tuy nhiên, độ tuổi trung bình của người cho thận ở nghiên cứu của

chúng tôi là 33,39±9,86, tuổi thấp nhất là 19 tuổi và cao nhất là 58 tuổi, thấp

hơn so với nghiên cứu về thận ghép trong nước của Bùi Văn Mạnh (2010) và

Phạm Quang Cử (2010) cũng như trên thế giới của ELISABET (2011). Sự

chênh lệch này có lẽ do chúng tôi thực hiện nghiên cứu tại cơ sở ghép tạng đi

tiên phong và đạt được các thành công đáng ghi nhận trong ghép thận từ

người cho chết não, thường có tuổi trẻ, số trường hợp phẫu thuật ghép thận từ

người cho chết não chiếm 23%.

* Giới



62



Có sự chênh lệch khá rõ về giới của người nhận thận, trong đó bệnh nhân

nam chiếm đến 70,5%. Tỷ lệ này phù hợp với tỷ lệ mắc bệnh thận trong cộng

đồng (nam mắc bệnh thận nhiều hơn nữ). Các nghiên cứu trong nước cũng

như quốc tế cũng cho một kết quả tương tự chúng tơi.

Bên cạnh đó, cũng có sự khác biệt nhẹ ở phân bố giới của người cho

thận, nữ chiếm 39,5%. Kết quả này cũng tương đương với kết quả của các

nghiên cứu khác.

4.1.2. Chỉ số khối cơ thể (BMI)

Theo MEIER-KRIESCHE (1992), BMI có một liên quan chặt chẽ với

kết quả ghép thận, những bệnh nhân có BMI quá cao (>36kg/m 2) hoặc quá

thấp (<18kg/m2) đều là yếu tố nguy cơ cao liên quan đến sự sống còn của thận

ghép [44].

BMI nhóm nghiên cứu của chúng tơi, BMI trung bình của người nhận

thận là 20,10 ± 2,67 kg/m2, trong đó có 6 trường hợp có BMI < 18kg/m 2,

chiếm 13,6%, khơng có trường hợp nào BMI > 30kg/m 2. Trong 6 trường hợp

BMI thấp có 2 bệnh nhân khơng đạt được mức creatinin bình thường sau 6-12

tháng theo dõi (chiếm 50%).

MEIER-KRIESCHE (1992) cũng cho rằng, BMI quá cao (>36kg/m 2) có

khả năng làm giảm thời gian liền vết mổ, tăng nguy cơ nhiễm trùng và tăng

thời gian dẫn lưu sau mổ [44].



63



Hình 4.1. Bệnh nhân nam Phạm Thanh Tr. 45 tuổi

BMI trước ghép là 17,8; nồng độ creatinin ngày đầu sau ghép, giai đoạn sớm

và sau 6tháng theo dõi lần lượt là 353, 160 và 166micromol/ml

Chỉ số PSV, RI, PI nhu mô giai đoạn sớm lần lượt là 56cm/s, 0,76, 1,77.

4.1.3. Mức độ hoà hợp miễn dịch.

Trong nghiên cứu của chúng tơi, người cho thận phần lớn khơng có

quan hệ huyết thống với người nhận thận, chiếm 50%, tương tự như các

nghiên cứu nước ngồi. Sau đó đến nhóm bố/mẹ cho con, chiếm khoảng

20% trong tổng số.

Có lẽ bởi đặc điểm trên, mà mức độ hoà hợp HLA trong nghiên cứu của

chúng tôi thấp hơn các nghiên cứu khác trong nước, chủ yếu ở mức 2-4AG

chiếm 70,5%, trong đó có 3 trường hợp khơng hồ hợp HLA và hồ hợp hồn

tồn 6/6 AG chỉ có 3 trường hợp đó là bố đẻ cho con trai và anh trai cho em

trai. Trong khi đó, theo 85% trường hợp có mức hồ hợp HLA > 3/6AG.



64



Trong những năm gần đây, việc lựa chọn cho thận được mở rộng hơn với

những người không cùng huyết thống với người nhận, hồ hợp HLA chỉ có

2/6AG và thậm chí là 0/6 AG vẫn được chọn cho thận, kết quả sau ghép thận

hoạt động tốt [45].

Hoà hợp tổ chức giữa người cho và người nhận là tiêu chuẩn miễn dịch

quanh trọng, lý tưởng nhất giữa người cho và người nhận là có sự tương thích

nhóm máu ABO và HLA giống nhau hoàn toàn, nhưng tiêu chuẩn này khơng

phải ở cặp ghép thận não cũng có thể lựa chọn được phù hợp hoàn toàn.

DUNN J.F (1986) theo dõi kết quả sau ghép thận so với hoà hợp HLA,

nhận thấy các trường hợp ghép thận có hồ hợp HLA nhiều hơn 2 Halotype

thì thận ghép phát triển ổn định và chức năng thận sau ghép hồi phục tốt hơn

nhóm ít hồ hợp hơn. Tuy nhiên ngày này có nhiều loại thuốc ức chế miễn

dịch tốt có thể hỗ trợ điều trị sau ghép, đã và đang mang lại kết quả khả quan

cho người bệnh, nên việc lựa chọn người cho có thể mở rộng hơn. Người cho

và người nhận cơ bản là hồ hợp nhóm máu ABO, hồ hợp HLA chỉ cần

tương đối.

4.1.4. Phẫu thuật ghép thận.

Tại cơ sở chúng tôi thực hiệnnghiên cứu, các nhà ngoại khoa sử dụng

phương pháp chụp MSCT 64 dãy giống như các trung tâm ghép tạng trên thế

giới để chẩn đoán mạch thận trước ghép. Phương pháp này cho phép đánh giá

đầy đủ, rõ nét hệ thống động mạch thận: số lượng, nguyên uỷ, đường đi, kích

thước, độ dài mạch máu, phát hiện vị trí hẹp, xơ vữa bám thành động mạch.

Ngồi ra phương pháp này còn đánh giá rất tốt về hình ảnh tĩnh mạch thận,

nhu mô thận, đường bài xuất, khoang quanh thận dự định lấy ghép. Vì vậy,

trong 44 trường hợp ghép thận, khơng thấy có sai lệch giữa hình ảnh chẩn

đoán trước mổ và thực tế trong mổ như ở một số nghiên cứu sử dụng phương

pháp chụp động mạch thận theo phương pháp Seldinger, chụp động mạch số

hoá xố nền.



65



Hình 4.2. Bệnh nhân NguyễnVăn N. 23T.

CLVT 64 dãy dựng hình mạch thận cho thấy thận trái có 2 thân động mạch,

được đề nghị lấy thận phải ghép.



Hình 4.3. Bệnh nhân Trần Thanh L. 24T

CLVT 64 dãy dựng hình mạch thận cho thấy thận thận hai bên có 2 thân động

mạch, được đề nghị lấy thận trái ghép



66



Trong nhóm nghiên cứu, phần lớn thận được lấy ghép là thận trái, vì tĩnh

mạch thận trái dài, thuận lợi cho phẫu tích bộc lộ cắt thận, thận lấy ra cũng

thuận lợi cho việc cấy ghép. Thận phải có 1 động mạch được chọn lấy trong

29,5% trường hợp, khi thận trái có nhiều hơn 1 động mạch. Các trường hợp

thận lấy ghép có nhiều hơn 1 động mạch gặp trong người cho chết não,

chiếm 13,6%, tuy nhiên trong số này, hiện không có biến chứng mạch máu

nào trong các trường hợp này. Các nghiên cứu khác cũng có cùng kết quả

như chúng tơi.



Hình 4.4. Bệnh nhân Nguyễn Minh Kh. 40T

2 động mạch thận ghép

Phương pháp ghép động mạch thận và tĩnh mạch thận tại cơ sở chúng tôi

là phương pháp nối động-tĩnh mạch thận với động-tĩnh mạch chậu tận – bên,

không giống với một số cơ sở ghép thận khác, chọn phương pháp ghép bó

mạch thận với động mạch chậu trong bằng phương pháp tận – tận. Phương

pháp nối tận – tận với động mạch chậu trong có ưu điểm là khẩu kính động

mạch tương xứng, có dòng chảy sinh lý hơn, tuy nhiên nhược điểm là thời

gian phẫu tích lâu, giảm tưới máu sàn chậu và có nguy cơ bị gấp khúc động

mạch chậu trong khi quặt ngược lên để nối với động mạch thận ghép. Ngược

lại, đối với phương pháp của chúng tơi thời gian phẫu tích rất nhanh, giảm



67



thời gian thiếu máu thận (điều này rất quan trọng trong ghép thận từ người

cho chết não), tuy nhiên dòng chảy qua vị trí nối khơng sinh lý bằng và có

nguy cơ gây huyết khối động mạch chi dưới.



Hình 4.5. Bệnh nhân Tạ Bá H. 36T

Hình ảnh vị trí nối động mạch thận vào động mạch chậu ngoài

Trong 44 bệnh nhân của chúng tơi có một bệnh nhân có huyết khối động

mạch chi dưới, bệnh nhân nam Trần Anh Tr. 31tuổi, ghép thận lần 2 tại bệnh

viện Việt Đức vào hố chậu trái vào ngày 20/11/2013, sau đó 2 tháng xuất hiện

huyết khối tĩnh mạch chi dưới bên trái.

Với kỹ thuật trồng niệu quản vào bàng quang, các nhà ngoại khoa tại cơ

sở của chúng tôi sử dụng phương pháp Lich-Grégoir, khác với phương pháp

Politano-Leadbetter như quy trình ghép thận đã thông qua bộ Y tế, bởi kỹ

thuật này chỉ mở bàng quang nhỏ, giảm nguy cơ nhiễm trùng và nguy cơ rò

nước tiểu, giảm thời gian trồng niệu quản. Vì vậy, biến chứng về niệu khoa

sau ghép của chúng tôi là 1/44 TH, thấp hơn các nghiên cứu khác.

Trong khi phẫu thuật thận ghép, chỉ có 4/44 trường hợp ghi nhận tổn

thương thận, với hình ảnh đại thể là vùng nhu mơ thận chuyển sang màu tím,



68



gặp chủ yếu trong phẫu thuật lấy thận ghép ở người cho chết não là do thiếu

máu thận gây bởi tình trạng suy tuần hồn của người cho. Các vùng tổn

thương được mơ tả kỹ lưỡng trong biên bản mổ nhằm hướng dẫn siêu âm theo

dõi thận ghép giai đoạn hậu phẫu.

DUNN J.F (1986) nghiên cứu thấy các tai biến trong phẫu thuật thận gồm

có rách bao thận (3,7%), tụ máu dưới bao (5,6%), rách tĩnh mạch thận (3,7%).

4.1.5. Các chỉ số lâm sàng sau cấy ghép.

* Huyết áp

Có sự thay đổi huyết áp đáng kể trước và sau ghép thận, huyết áp tối đa

tăng cao sau 24h, sau đó giảm dần và ổn định vào thời gian hậu phẫu.

CHISTIAN (2003) nghiên cứu thấy sự chênh lệch này có tương quan chặt chẽ

với các chỉ số siêu âm.

* Đường máu

Đường máu tăng khác nhau có ý nghĩa thống kê sau ghép 24 giờ ở những

người có chỉ số siêu âm bình thường và bất thường , trung bình trước ghép là

5,1 ±0,81 và sau ghép là 5,66 ±1,64. Những người có chỉ số siêu âm bất

thường thì có đường máu tăng sau ghép nhiều hơn những người có chỉ số siêu

âm trong giới hạn bình thường. CHISTIAN (2003) cũng cho rằng điều này

ảnh hưởng đến sự thay đổi các chỉ số siêu âm trong giai đoạn hậu phẫu.

* Creatinin máu

Trong số 44 TH có 6 bệnh nhân có nồng độ creatinin ổn định ngay ngày

đầu tiên sau ghép và suốt giai đoạn hậu phẫu, tuy nhiên có 1 trường hợp trong

số này có rối loạn chỉ số này sau 6-12 tháng. 23 bệnh nhân đã đạt mức

creatinin huyết thanh bình thường sau giai đoạn hậu phẫu mặc dù chỉ số này

cao ở ngày đầu tiên sau ghép. 4 bệnh nhân không đạt được mức creatinin



69



huyết thanh trong giới hạn bình thường (<130) từ sau khi ghép thận đến sau

6-12 tháng.

4.2. MÔ TẢ ĐẶC ĐIỂM THẬN TRƯỚC VÀ SAU GHÉP GIAI ĐOẠN SỚM.

4.2.1. Đặc điểm thận trước ghép

Để được chọn, thận trước ghép phải có hình thái, kích thước bình

thường, nhu mơ dày bình thường, phân biệt tuỷ-vỏ rõ, đài bể thận và niệu

quản không giãn, khơng có sỏi. Chúng tơi đánh giá kích thước và hình thái

thận qua chiều dài, chiều rộng và chiều dày của thận, kết quả tương đương với

nghiên cứu kích thước thận của Hồng Văn Ngoạn (2009).



Hình 4.6. Bệnh nhân Bùi Thị Nh. 32T

Kích thước thận ghép

H. Tayebi Khosroshahi và Cs (2005) nghiên cứu siêu âm 20 thận trước

ghép thấy chiều dài trung bình của thận là 112 +/- 8,2mm, chiều rộng là

43,9+/-4,6mm, dày nhu mơ trung bình 8,8+/-1,2mm.

Theo khuyến cáo của các trung tâm ghép thận, để đánh giá thận chọn

ghép nên sử dụng phương pháp chụo CLVT 64 dãy, bởi siêu âm thận ghép có

độ nhạy rất thay đổi, phụ thuộc vào người làm, trong việc đánh giá các nhánh

động mạch thận phụ, sự chia nhánh của động mạch thận. Tuy nhiên, siêu âm

lại là phương pháp chẩn đốn hình ảnh được lựa chọn hàng đầu trong theo dõi



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chỉ số RI động mạch nhu mô giai đoạn sớm có tương quan đồng biến mức độ trung bình với creatinin huyết thanh sau 6-12 tháng theo phương trình y=40,16+99,81*x, với hệ số tương quan r = 0.39.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×