Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ phẫu thuật mắt phải là (53,75%) trái là 46,25% gần tương đồng như nhau. Theo các báo cáo thì thông thường không có sự chênh lệch về tỷ lệ phẫu thuật mắt phải trái, hoặc nếu chênh lệch thì không nhiều: Khúc Thị Nhụn (2

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ phẫu thuật mắt phải là (53,75%) trái là 46,25% gần tương đồng như nhau. Theo các báo cáo thì thông thường không có sự chênh lệch về tỷ lệ phẫu thuật mắt phải trái, hoặc nếu chênh lệch thì không nhiều: Khúc Thị Nhụn (2

Tải bản đầy đủ - 0trang

91



Khúc Thị Nhụn (2006) cũng ở mức thấp với 65,94% có TL < ĐNT 1 m, TL từ

1/10 đến 3/10 chỉ chiếm 11,63% [68]. Nghiên cứu của Đặng Ngọc Hoàng

(2012) báo cáo thị lực trước mổ phaco chủ yếu là thị lực kém <20/70 chiếm

tới 98% [71]. Trong nghiên cứu của Vũ Mạnh Hà, TL dưới 1/10 chiếm

99,1%[69]

Thị lực logMAR trung bình là ở mức thấp, giữa hai nhóm nghiên cứu

cũng khơng có sự khác biệt (1,33 ± 0,64 so với 1,39 ± 0,58). Sau khi chỉnh

kính, TL có tăng lên ở cả hai nhóm nhưng khơng có ý nghĩa thống kê. Nghiên

cứu của Hoffmann PC TL trung bình trước phẫu thuật là 0,93 ± 0,42 logMAR

[74]. Nghiên cứu của Ahmed IIK TL trung bình trước phẫu thuật là 0,7 ± 0,6

logMAR [58] còn của Miyake TL trước phẫu thuật trung bình là 0,93 ± 0,50

logMAR [75]. Nhìn chung TL trung bình trước phẫu thuật của các tác giả

nước ngồi cao hơn trong nghiên cứu của chúng tôi.

4.1.6. Nhãn áp trước phẫu thuật

Nhãn áp trước phẫu thuật được thể hiện ở bảng 3.4. Trong nghiên cứu

của chúng tôi, nhãn áp trung bình trước phẫu thuật ở cả 2 nhóm tương ứng là

15,16 ± 1,49 mmHg và 14,96 ± 1,89 mmHg chênh lệch khơng có ý nghĩa

thống kê.

Khúc Thị Nhụn (2006) nghiên cứu trên 232 mắt phẫu thuật đục TTT có

nhãn áp trước phẫu thuật đo bằng nhãn áp Maclakop là 18,487 ± 1,675 mmHg

[68]. Trần Thế Hưng (2005) nghiên cứu trên 40 mắt trước phẫu thuật đo bằng

nhãn áp Goldmann là 15,61 ± 1,46 mmHg [76]. Vũ Mạnh Hà (2014) nghiên

cứu trên 106 mắt có nhãn áp trung bình trước phẫu thuật đo bằng nhãn áp

Maclakop là 20,05 ± 1,99 mmHg [69].

4.1.7. Loạn thị giác mạc trước phẫu thuật

Loạn thị GM trước phẫu thuật được thể hiện ở các bảng 3.6. Loạn thị



92



GM trước phẫu thuật ở nhóm I là 2,47 ± 0,76 D; nhóm II là 2,34 ± 0,55 D,

của cả hai nhóm là 2,41 ± 0,66 D; giữa hai nhóm sự khác biệt khơng có ý

nghĩa thống kê. Độ loạn thị thấp nhất là 1,50 D, độ loạn thị cao nhất là 5,12

D. Độ loạn thị GM trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn hẳn so với các

nghiên cứu của các tác giả trong nước như nghiên cứu của Thái Thành Nam

(2000): 1,26 ± 0,84 D [73], nghiên cứu của Khúc Thị Nhụn (2006) 1,145 ±

0,76 D [68]; nghiên cứu của Vũ Mạnh Hà: 0,7 ± 0,8 D [69]. Đây là những

nghiên cứu trên các bệnh nhân ngẫu nhiên, nên tỷ lệ và mức độ loạn thị

GM trung bình đều thấp. Nghiên cứu của Hồng Trần Thanh trên 104 mắt

cận thị cao > 6 D có đục TTT ở các mức độ, độ loạn thị nhãn cầu trung bình

trước mổ khá cao là 1,97 ± 0,94 D, tuy nhiên tác giả không công bố độ loạn

thị giác mạc [70]. So sánh với các tác giả nước ngoài với đặt kính nội nhãn

toric được thể hiện trong bảng sau:

Bảng 4.2. Độ loạn thị trước phẫu thuật của một số nghiên cứu

Loạn thị trung bình Giá trị lớn nhất,

(D)

nhỏ nhất

Alio J (2010) [9]

4,46 ± 4,23

2 - 9,5

Bauer (2008) NJ [7]

2,77 ± 1,55

Hoffmann PC(2011) [74]

3,55 ± 0,73

2,64 – 5,39

Mendicute J (2008) [40]

2,34 ± 1,28

1-5

Miyake (2014) [75]

2,34 ± 1,58

Visser (2011) [61]

2,3 ± 1,13

Đặng Xuân Nguyên (2018)

2,41 ± 0,66

1,50- 5,12

Trong nghiên cứu của chúng tơi loạn thị thuận ở nhóm I và nhóm II

Tác giả



tương ứng là 55% và 53,75%, loạn thị ngược là 33,75% và 32,5%, loạn thị

chéo chiểm tỷ lệ ít nhất là 9% và 11%

Tỷ lệ loạn thị thuận ngược và chéo theo các nghiên cứu cũng có sự khác

biệt nhau, tuy nhiên thường thì loạn thị chéo chiếm tỷ lệ thấp nhất. Nghiên

cứu của Nguyễn Mạnh Quỳnh có 35% loạn thị thuận, 41,7% loạn thị ngược,

23,3% loạn thị chéo [48]. Nghiên cứu của Hà Trung Kiên (2006) có 35,3%



93



loạn thị thuận, 37,6% loạn thị ngược, 27,1% loạn thị chéo [47]. Nghiên cứu

của Ahmed có 60,3% loạn thị thuận, 37,6% loạn thị ngược, 4,7% loạn thị

chéo [58]. Ho và cs (2008) nghiên cứu ở nhóm tuổi > 70 tuổi cho thấy có

31,8% loạn thị thuận, 38,6% loạn thị ngược và 29,5% loạn thị chéo.

* Vấn đề chẩn đoán loạn thị giác mạc

Việc chẩn đốn hình thái và mức độ loạn thị GM có vai trò đặc biệt quan

trọng trong phẫu thuật điều chỉnh GM bằng kính nội nhãn, chỉ có hình thái loạn

thị đều mới có chỉ định dùng kính nội nhãn toric. Còn việc chẩn đốn mức độ

loạn thị GM giúp lựa chọn cơng suất kính nội nhãn toric phù hợp.

Các thiết bị được dùng để đánh giá hình thái của GM là các thiết bị

chụp bản đồ GM. Các thiết bị này có thể là những thiết bị chỉ khảo sát hình

thái mặt trước GM theo nguyên lý Placido, hoặc khảo sát được cả mặt sau

GM theo các nguyên lý chụp cắt khe hoặc chụp ảnh Scheimpflug. Những

nghiên cứu về loạn thị mặt sau GM đã chỉ ra rằng loạn thị mặt sau thường là

trục đứng, là mặt cầu âm, nó có tác động ngược lại với mặt trước GM là mặt

cầu dương dẫn đến làm tăng công suất ở trục ngang. Sự tác động này làm

giảm công suất loạn thị đối với các trường hợp loạn thị thuận và làm tăng các

trường hợp loạn thị nghịch. Điều này dẫn đến khả năng dễ bị điều chỉnh q

mức với loạn thị thuận còn loạn thị nghịch thì điều chỉnh bị non.

Theo tác giả, mặc dù loạn thị mặt sau GM là khá nhỏ nhưng cũng phần

nào ảnh hưởng đến kết quả khúc xạ của GM và đến khúc xạ của toàn bộ con

mắt. Do vậy nếu muốn tối ưu hóa kết quả điều chỉnh loạn thị thì cần xem xét

đến yếu tố loạn thị mặt sau. Trong những trường hợp khơng có thơng số loạn

thị mặt sau GM, phần lớn các tác giả đều cho rằng không chọn cơng suất kính

nội nhãn lớn hơn mức độ loạn thị, đặc biệt trong những trường hợp loạn thị

thuận nên chọn phương án để tồn dư độ loạn < 0,5 D để bù trừ vào loạn thị

mặt sau GM. Nghiên cứu của chúng tôi dùng máy chụp bản đồ GM OPD của



94



hãng Nidek. Đây là một máy chụp sử dụng nguyên lý placido nên chỉ đánh

giá được hình thái loạn thị GM mặt trước. Do vậy khi tính tốn cơng suất kính

nội nhãn toric trong các trường hợp loạn thị thuận, chúng tôi chọn phương án

để lại độ loạn thị tồn dư là 0,3 D. Đây là giá trị loạn thị mặt sau trung bình

theo nghiên cứu của Koch DD [24].

Chẩn đoán mức độ loạn thị GM và trục loạn thị có nhiều phương pháp

khác nhau như sử dụng thơng số từ phương pháp chụp bản đồ GM hoặc sử

dụng các phương pháp khác như sinh trắc quang học nhãn cầu, khúc xạ kế tự

động. Tuy nhiên các thông số về độ lớn và trục thì phần lớn các tác giả lại sử

dụng phương pháp khác mà chủ yếu là dùng IOL Master. Trong nghiên cứu

này, chúng tôi cũng dùng thiết bị IOL Master để đo công suất và trục loạn thị,

đồng thời cũng đo cơng suất cầu của kính nội nhãn.

Nhìn chung các tác giả cho rằng khơng nên sử dụng đơn thuần một

phương pháp nào để đánh giá tình trạng loạn thị GM mà cần phối hợp các

phương pháp để có cái nhìn tổng thể về tình trạng loạn thị của bệnh nhân.

Hầu hết các nghiên cứu của các tác giả trên thế giới đều sử dụng phương pháp

chụp bản đồ GM để phân biệt các hình thái loạn thị để lựa chọn đúng ứng cử

viên cho phẫu thuật đặt kính nội nhãn Toric. Các GM kế tự động chỉ được

dùng để đo công suất và trục loạn thị chứ không thể thay thế được khám

nghiệm chụp bản đồ GM.

4.1.8. Các mức độ cơng suất của kính nội nhãn toric

Kính nội nhãn Acrysof toric (Alcon) được tính tốn dựa trên nhiều yếu tố

ảnh hưởng khác nhau qua phần mềm trực tuyến www.acrysoftoriccalculator.com.

Để tính tốn được các thơng số của kính nội nhãn toric, các thơng tin cần có bao

gồm cơng suất cầu của kính nội nhãn, loạn thị GM và trục loạn thị, vị trí vết mổ và

ước tính loạn thị gây ra do phẫu thuật.

Cách tính này chú ý đến sự kết hợp của nhiều yếu tố, trong đó độ lớn

và vị trí vết mổ được đặc biệt quan tâm. Mặc dù với phẫu thuật phaco hiện



95



đại, vết mổ dưới 3mm được coi là trung tính với loạn thị gây ra do vết mổ

nhỏ, nhưng trên thực tế nó gây ra những thay đổi đáng kể đến độ lớn và

hướng của loạn thị GM, đặc biệt là những đường mổ phía trên. Loạn thị gây

ra do vết mổ sẽ làm ảnh hưởng đến độ lớn và trục loạn thị nguyên phát của

GM. Nếu không xét đến những ảnh hưởng này thì sẽ làm giảm tính chính xác

của phương pháp.



Hình 4.1. Bảng tính thơng sơ IOL acrysof toric (Alcon)

Bảng tính cơng suất kính nội nhãn trên cho thấy với vết mổ 3mm, đặt ở

vị trí 180 độ với IIA ước tính là 0,5D× 90o sẽ làm cho loạn thị GM trước mổ là

2,2 D× 30o chuyển thành 2,0 D × 36o . Nếu khơng tính tốn đến sự thay đổi

này, việc đặt kính nội nhãn sẽ cố thể lệch đi một khoảng là 6 độ dẫn đến giảm

sự chính xác của kỹ thuật.

Trong nghiên cứu này, qua các khám nghiệm của bản thân, chúng tôi

thấy loạn thị gây ra do vết mổ của chúng tôi thường từ 0,3 D cho đến 0,4 D

với vết mổ 2,8 mm do vậy chúng tôi sử dụng thông số 0,4 D trong bảng tính



96



cơng suất của kính toric.

Việc quyết định vị trí vết mổ ở đâu cũng là những lựa chọn mà phẫu

thuật viên cần cân nhắc để lựa chọn được loại kính nội nhãn phù hợp và thu

được kết quả tốt nhất. Thường là các tác giả vẫn sử dụng đường mổ quen

thuộc của mình, sau đó tính tốn thêm độ loạn thị gây ra do phẫu thuật. Trong

nghiên cứu này, với nhóm can thiệp sử dụng kính nội nhãn toric, chúng tôi sử

dụng đường mổ thái dương là chủ yếu. Chỉ có 3 trường hợp do độ loạn thị

thuận vượt quá dải điều trị của kính nội nhãn toric nên chúng tơi quyết định

dùng đường mổ phía trên theo trục loạn thị để làm giảm bớt một phần loạn thị

của GM.

Kính nội nhãn toric SN60T4, SN60T5 là 2 nhóm được sử dụng nhiều

nhất chiếm tỷ lệ 56,25% cho phép điều trị độ loạn thị GM từ 2,0 đến 2,5 D. Đây

cũng là mức độ loạn thị trung bình có tỷ lệ cao nhất trong nghiên cứu.

4.2. Đánh giá kết quả phẫu thuật phaco đặt kính nội nhãn toric (nhóm I)

4.2.1. Kết quả thị lực

Kết quả TL sau phẫu thuật của nhóm I được thể hiện ở các bảng 3.7; 3.8;

3.9; 3.10.

Sau phẫu thuật 1 ngày, TL khơng chỉnh kính ở nhóm I đã ở mức cao, chủ

yếu là TL khá (36,25%) và tốt (46,25%). TL ≥ 20/40 chiếm 82,5%. Sau khi

chỉnh kính, TL có tăng lên so với trước chỉnh kính với 90% số mắt có TL ≥

20/40; 77,5% số mắt có TL ≥ 20/25; 30% số mắt có TL 20/20. TL trung bình

logMAR sau chỉnh kính là 0,123 ± 0.105 so với trước mổ là 0,95 ± 0,67. Mặc dù

có ít tác giả mơ tả TL ngày đầu tiên, tuy nhiên theo những tài liệu thu thập

được, chúng tôi thấy đều thấy TL sau phẫu thuật tăng sớm ngay từ ngày đầu

tiên. Osher R.H nghiên cứu trên 100 mắt phẫu thuật phaco với kính nội nhãn

toric, báo cáo kết quả rất cao với 98% mắt đạt TL ≥ 20/40 sau 1 ngày.

Farooqui JH báo cáo kết quả điều chỉnh loạn thị bằng kính nội nhãn Acrysof



97



toric, ngày đầu tiên thu được kết quả TL 0,172 logMAR [77].

Sau 1 tuần, TL của nhóm I đã tăng lên mức đáng kể. Với mức TL chưa

chỉnh kính ở mức tốt là 68,75% so với 46,25% của ngày đầu tiên. Có 86,25%

số mắt có TL ≥ 20/40. TL khơng kính trung bình 1 tuần là 0,148 ± 0,123

logMAR. Sau khi chỉnh kính, TL trung bình tăng nhẹ lên mức 0,074 ± 0,102

logMAR. Nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước đều báo cáo tỷ lệ

TL đạt mức cao ở thời điểm 1 tuần, do hầu hết các biến chứng sớm sau phẫu

thuật như phù GM, bỏng vết mổ, loạn thị gây ra do phẫu thuật và tình trạng

nhãn cầu đã ổn định. Hoffmann PC (2011) báo cáo kết quả phẫu thuật trên 43

mắt loạn thị cao của 33 bệnh nhân với độ loạn thị GM trung bình trước phẫu

thuậtlà 3,55 ± 0,73 D (dao động từ 2,64 D đến 5,39 D) với kính nội nhãn

Acrysof toric từ SN60T6 đến SN60T9 điều chỉnh loạn thị GM từ 2,77 D đến

4,11D. Tại thời điểm 1 tuần sau mổ, TL trung bình đạt được là 0,21 ± 0,12

logMAR dao động từ 0,5 đến 0. Đồng thời TL chỉnh kỉnh cũng tăng lên là 0,1

± 0,11 với dao động từ 0,4 đến -0,1. Điều này chỉ ra rằng, mặc dù TL đạt được

ở mức cao nhưng vẫn còn tồn dư độ loạn hoặc sai lệch kính cầu, và TL tăng

lên bằng chỉnh kính [74].

Từ thời điểm sau phẫu thuật 1 tháng trở đi, TL không chỉnh kính đều ổn

định và khơng có sự khác biệt nhiều giữa các thời điểm. TL khơng chỉnh kính

ở các thời điểm sau phẫu thuật 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng, 1 năm đạt mức cao

với mức TL tốt tương ứng là 70%; 68,75%; 68,75% và 70%. TL khá (≥ 20/40)

đạt các mức tương ứng là 86,25%; 88,75%; 87,5% và 87,5%. TL trung bình

cũng ở mức cao với các thời điểm sau phẫu thuật 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng, 1

năm tương ứng là 0,138 ± 0,132; 0,138 ± 0,127; 0,136 ± 0,131; 0,136 ± 0,130

logMAR. TL có chỉnh kính cũng tăng nhẹ ở các thời điểm và đạt mức TL

trung bình tương ứng ở các thời điểm sau phẫu thuật 1 tháng, 3 tháng, 6

tháng, 1 năm là 0,068 ± 0,104; 0,064 ± 0,103; 0,066 ± 0,104; 0,064 ± 0,103.



98



Tình trạng TL ổn định này là do khúc xạ của mắt trong suốt quá trình theo dõi

ổn định và khơng có các biến chứng muộn nào được ghi nhận.

Các tác giả trong nước và trên thế giới cũng đều báo cáo kết quả TL ổn

định và đạt mức cao tại các thời điểm theo dõi đến 1 năm sau phẫu thuật.





Bauer NJ (2008) báo cáo kết quả nghiên cứu sử dụng kính nội nhãn Acrysof

toric trên 53 mắt của 43 bệnh nhân đục TTT kèm theo loạn thị. TL trung bình

trước phẫu thuật là 0,46 ± 0,19 đơn vị Snellen. Độ loạn thị trung bình trước phẫu

thuật là 2.85 ± 1,75D. Thời gian theo dõi trung bình 4,3 ± 1,9 tháng. Kết quả thu

được TL chung cả cả nhóm nghiên cứu 0,84 ± 0, 22 đơn vị Snellen và từ 75%



đến 85% đạt TL ≥ 20/25 tùy từng phân nhóm [7].

 Mendicute J (2008) báo cáo kết quả đặt kính Acrysof toric trên 30 mắt của

15 bệnh nhân có loạn thị GM 2.34 ± 1.28D. Kết quả TL trung bình sau

phẫu thuật ở thời điểm 3 tháng đạt 0.16 ± 0.18 logMAR. Có 93,3% số mắt

có TL ≥ 20/40 và 66,6% số mắt có TL ≥ 20/20 [40].

 Zuberbuhler B (2008) báo cáo kết quả nghiên cứu trên 44 mắt của 33 bệnh nhân

đục TTT có loạn thị GM cho tới 5D. Kết quả sau 3 tháng phẫu thuật tác giả thu

được kết quả TL có chỉnh kính 0,01 ± 0,11 logMAR [60].

 Ahmed (2010) báo cáo kết quả phẫu thuật đặt kính nội nhãn Acrysof toric trên

234 mắt của 117 bệnh nhân có tuổi từ 21 trở lên, có độ loạn thị GM từ 1 –

2,5D. TL trung bình trước phẫu thuậtlà 0,7 ± 0,6 logMAR. TL 2 mắt khơng

chỉnh kính đạt 0,06 ± 0,12 logMAR sau 1 tháng, 0,05 ± 0,11 logMAR sau 3

tháng và 0,05 ± 0,11 logMAR sau 6 tháng [58]

 Alio JL (2010) báo cáo kết quả điều trị loạn thị cao trên 2D bằng kính nội

nhãn Toric Acry.Comfort 646 TLC (Carl Zeiss Meditec) trên 21 mắt của 12

bệnh nhân đục TTT có độ loạn trên 2D (2D – 9D). Kết quả có 76,1% số mắt

đạt TL ≥ 20/40 ở thời điểm 3 tháng sau phẫu thuật [9].

 Farooqui JH (2015) báo cáo kết quả TL của phẫu thuật đặt kính nội nhãn

acrysof toric, ngày đầu thu TL trung bình là 0,172 logMAR, 1 tuần là 0,138

logMAR và ổn định ở thời điểm 1 tháng là 0,081 logMAR [77]



99







Alio JL (2011) sử dụng kính Acrysof toric trên nhóm nghiên cứu có độ loạn

thị GM trước mổ là 2,87 ± 0,78D, thu được kết quả thị lực sau mổ là 0,16 ±

0,15 logMAR [78]

Tỷ lệ các mức thị lực sau của các tác giả được thể hiện theo bảng sau:

Bảng 4.3. Tỷ lệ các mức kết quả TL sau phẫu thuật

Tác giả



Loại kính Loạn thị

nội nhãn trước PT



Sun XY (2000) [53]

Staar

2,57 ± 1,15

Ruhswurm (2000) [52]

Staar

2,68 ± 0,93

De Silva (2006) [57] Microsil 3.52 ± 1,11

Bauer NJ (2008) [7]

Acrysof 2,85 ± 1,75

Mendicute (2008) [40] Acrysof 2,34 ± 1,28

Acri

Alio J (2010) [9]

3,73 ± 1,79

Comfort

Hoffmann (2011) [74]

3,55 ± 0,73

Farooqui (2015) [77]

2,54 ± 0,90

Đặng Xuân Nguyên

2,47 ± 0,73

(2018)



TL

≥ 20/40



Trung bình

(logMAR)

0,21 ± 0,21



≥ 20/25



84%

48,6%



0,2 ± 0,15

93,3%



75 – 85%

66,6%



76,1%

88,9%



50%

0,081



87,5%



70%



0,136 ± 0,117



4.2.2. Nhãn áp

Nhãn áp sau phẫu thuật ở các thời điểm sau phẫu thuật đều hạ thấp hơn

so với trước phẫu thuật. So với nhãn áp trước mổ, từ thời điểm 1 tuần, 1

tháng, 3 tháng, 6 tháng và 1 năm, nhãn áp hạ từ 1,64- 1,85mmHg.

Các tác giả trong nước và trên thế giới đều báo cáo tình trạng nhãn áp hạ

thấp hơn so với thời điểm trước phẫu thuật. Khúc Thị Nhụn (2006) báo cáo

kết quả hạ nhãn áp ở thời điểm 1 tuần, 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng và 1 năm

tương ứng là 1,393; 1,661; 1,824; 1,841 và 1,950 mmHg [68]. Đặng Xuân

Nguyên (2005) báo cáo phẫu thuật phaco trên mắt giả bong bao cho thấy nhãn

áp hạ được 2,08 và 1,96 mmHg ở thời điểm 1 tháng và 3 tháng sau phẫu thuật

[78]. Trần Thế Hưng (2005) báo cáo kết quả hạ nhãn áp ở thời điểm 3 tháng

sau mổ là 2,96 ± 2,25 mmHg [76]. Mannes K (2001) nghiên cứu đánh giá tác

dụng hạ nhãn áp của phẫu thuật phaco qua đường phẫu thuật GM trong phía



100



thái dương, thu được kết quả hạ nhãn áp sau 3 tháng là 3.42 mmHg, 5 tháng là

3,36 mmHg [79]

Các tác giả đều cho rằng phẫu thuật phaco làm cải thiện dòng thốt lưu thủy

dịch do góc tiền phòng mở rộng hơn, sóng siêu âm trong phẫu thuật phaco làm

kích thích vùng bè sản xuất ra chất interleukin 1α có tác dụng mở rộng các lỗ

vùng bè. Yếu tố cơ học là do q trình rửa trơi các chất trong phẫu thuật, do xơ co

túi bao TTT sau phẫu thuật làm co kéo các sợi Zinn, làm mở rộng lỗ bè.

4.2.3. Kết quả khúc xạ

Khúc xạ cầu và khúc xạ trụ (loạn thị tồn dư) sau phẫu thuật được thể

hiện trong bảng 3.12.

4.2.3.1. Khúc xạ cầu

Kết quả cho thấy thấy rằng khúc xạ cầu ở nhóm I có xu hướng viễn thị

nhẹ, cao nhất ở thời điểm 1 ngày với mức trung bình là 0,33 ± 0,52 D, sau đó

giảm dần nhưng ổn định ở các thời điểm theo dõi sau đó.

Jin H (2010) và cộng sự báo cáo kết quả khúc xạ cầu có xu hướng

viễn thị so với mức dự đoán. Mức khúc xạ cầu thực tế đạt được là 0,46 ±

0,88D (dao động từ - 1,50 đến 1,75D) và cao hơn có ý nghĩa thống kê so

với mức dự đoán là 0,09 ± 0,86 (dao động từ - 2,10 đến 1,40). Loạn thị

trước phẫu thuật trung bình là 2,91 ± 1,63D (dao động từ 1,14 đến 7,50D).

Sau phẫu thuật, loạn thị thực tế còn tồn dư là 1,59 ± 1,02 D cao hơn có ý

nghĩa thống kê so với mức tính tốn chỉ là 1,29 ± 0,94 D. Tác giả lý giải do

khúc xạ mong muốn của mắt sau mổ được tính tốn sao cho giá trị khúc xạ

cầu tương đương xấp xỉ giá trị 0 (Độ cầu tương đương = độ cầu + ½ độ

loạn). Khi độ loạn thị còn tồn dư thì theo cơng thức cầu trung bình, độ viễn

thị đo được sẽ tăng lên. Độ khúc xạ cầu dịch chuyển về phía viễn thị đồng

thời với độ loạn tồn dư làm công thức khúc xạ của mắt có xu hướng trở

thành loạn thị hỗn hợp [50].



101



4.2.3.2. Khúc xạ trụ (loạn thị tồn dư)

Loạn thị tồn dư ở nhóm I cao nhất ở 1 ngày sau phẫu thuật với mức 0,46 ± 0,26 D, ổn định từ thời điểm 1 tuần là - 0,36 ± 0,25 D.

Các tác giả trên thế giới báo cáo các kết quả khá khác biệt về kết quả

loạn thị tồn dư do đặc điểm loạn thị của nhóm nghiên cứu cao thấp khác nhau,

sử dụng các loại kính nội nhãn khác nhau.





Với các nghiên cứu sử dụng kính nội nhãn chất liệu Silicon, các tác giả thu

được kết quả tồn dư loạn thị khá cao, với đặc điểm của kính khơng ổn định



-



trong túi bao TTT làm trục của kính dễ bị xoay

Sun XY (2000) đặt kính nội nhãn Staar toric, độ loạn thị trước phẫu thuật 2,57

± 1,15 D, sau 3 tháng độ loạn thị giảm xuống còn 1,03 ± 0,79 D và có 55.4%



-



số mắt có độ loạn thị ≤ 0,75 D [53].

Ruhswurm I và cộng sự (2000) đặt kính Starr toric, độ loạn thị trung bình

trước phẫu thuật 2,68 ± 0,93 D. Độ loạn thị giảm xuống còn 0,78 ± 0,64 D sau

2 tuần và 0,84 ± 0,63 D ở thời điểm theo dõi cuối cùng. Độ loạn thị trung bình



-



giảm được 1,84 ± 0,82 D [52]

DeSilva và cộng sự (2006) báo cáo kết quả đặt kính nội nhãn toric

MicroSil 6116TU (HumanOptics), loạn thị GM trước phẫu thuật là 3,52 ±

1,11 D, giảm xuống còn 1,23 ± 0,90 D ở thời điểm 6 tháng sau phẫu thuật.



[57]

 Với kính nội nhãn Acrysof toric, các tác giả thu được kết quả giảm độ loạn thị

rất ấn tượng. Các nghiên cứu dùng kính nội nhãn Acrysof toric cho kết quả

giảm độ loạn thị tốt, loạn thị tồn dư sau phẫu thuật thường ở mức thấp và ổn

-



định trong suốt thời gian theo dõi.

Dardzhikova A (2007) báo cáo kết quả đặt kính nội nhãn Acrysof toric với độ

loạn thị trung bình trước phẫu thuật là 1,25 D và đạt được kết quả độ loạn thị



-



trung bình còn 0,32 D 6 tháng sau phẫu thuật [59]

Bauer NJ (2008) báo cáo kết quả sử dụng kính nội nhãn Acrysof toric với độ

loạn thị trung bình trước phẫu thuậtlà 2,85 ± 1,75 D, sau phẫu thuật đạt được



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ phẫu thuật mắt phải là (53,75%) trái là 46,25% gần tương đồng như nhau. Theo các báo cáo thì thông thường không có sự chênh lệch về tỷ lệ phẫu thuật mắt phải trái, hoặc nếu chênh lệch thì không nhiều: Khúc Thị Nhụn (2

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×