Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Biểu đồ 3.4: Vợ bệnh nhân có thai

Biểu đồ 3.4: Vợ bệnh nhân có thai

Tải bản đầy đủ - 0trang

64

3.5. Sự tương quan giữa tình trạng van tĩnh mạch với một số chỉ tiêu

nghiên cứu.

Trong nghiên cứu có 51 mẫu tĩnh mạch đánh giá được tình trạng van

tĩnh mạch. Trong đó có 10 mẫu tĩnh mạch có van tĩnh mạch và 41 mẫu tĩnh

mạch khơng có van tĩnh mạch.

3.5.1 Sự tương quan giữa tình trạng van tĩnh mạch với mức độ giãn của

tĩnh mạch tinh trước và sau khi làm nghiệm pháp Valsalva.

Bảng 3.29: Liên quan giữa tình trạng van tĩnh mạch với mức độ chênh

giữa đường kính tĩnh mạch trước và sau khi làm nghiệm pháp Valsalva.

Đường kính trước



Đường kính sau



±s



±s



Có van TM (n=10)



3,12±0.96



3,77±0,79



Khơng có van TM (n=41)



2,95±0,66



3,67±0,65



Yếu tố đánh giá



PH

0,678



Nhận xét: Mức độ chênh đường kính tĩnh mạch trước và sau khi làm nghiệm

pháp Valsalva của tĩnh mạch có van tĩnh mạch so với của tĩnh mạch có van

khơng có sự khác biệt với P= 0,678> 0,05.

3.5.2 Sự tương quan giữa tình trạng van với số lượng tinh trùng trước và

sau khi phẫu thuật.

Trong 51 mẫu tĩnh mạch đánh giá tình trạng van được có 4 mẫu tĩnh

mạch của 2 bệnh nhân giãn tĩnh mạch tinh 2 bên (bệnh nhân lấy 2 mẫu tĩnh

mạch 2 bên làm giải phẫu bệnh), nên có 49 bệnh nhân được làm giải phẫu

bệnh đánh giá tình trạng van. Nhưng có 2 bệnh nhân khơng làm TDĐ. Nên

còn 47 bệnh nhân được đánh giá TDĐ sau mổ.



65

Bảng 3.30: Liên quan giữa tình trạng van TM với số lượng tinh trùng

trước và sau phẫu thuật

Yếu tố đánh giá

Có van TM (n=7)

Khơng có van TM (n=40)



Số lượng trước mổ



Số lượng sau mổ



±s



±s



68,98±63,26



155,56±93,83



64,04±59,99



102,94±75,19



PH



0,224



Nhận xét: Mức độ cải thiện của số lượng tinh trùng của bệnh nhân mẫu tĩnh

mạch có van tĩnh mạch so với của bệnh nhân mẫu tĩnh mạch khơng có van

tĩnh mạch chưa có sự khác biệt với p = 0,224 > 0,05.

3.5.3 Sự tương quan giữa tình trạng van với mật độ tinh trùng trước và sau

vi phẫu thuật.

Bảng 3.31: Liên quan giữa tình trạng van TM với mật độ tinh trùng

trước và sau vi phẫu thuật.

Yếu tố đánh giá

Có van TM (n=7)

Khơng có van TM (n=40)



Mật độ trước mổ



Mật độ sau mổ



±s



±s



23,05±19,24



45,66±26,74



25,11±23,54



40,91±31,44



PH



0,545



Nhận xét: Mật độ tinh trùng sau mổ có sự tăng lên và mức độ tăng của những

bệnh nhân có mẫu tĩnh mạch có van tăng so với những bệnh nhân có mẫu tĩnh

mạch khơng có van khơng có sự khác biệt với p = 0,545> 0,05.



66



3.5.4. Sự tương quan giữa tình trạng van với tỷ lệ sống của tinh trùng

trước và sau vi phẫu thuật.

Bảng 3.32: Liên quan giữa tình trạng van TM với tỷ lệ sống của tinh trùng

trước và sau vi phẫu thuật.

Yếu tố đánh giá



Tỷ lệ sống trước mổ Tỷ lệ sống sau mổ



Có van TM (n=7)

Khơng có van TM (n=40)



±s



±s



37,43±21,27



60,43±5,59



41,24±19,74



44,82±.18,30



PH



0,048



Nhận xét: Tỷ lệ sống của tinh trùng sau mổ có sự tăng lên và mức độ tăng

của những bệnh nhân có mẫu tĩnh mạch có van tăng cao hơn so với những

bệnh nhân có mẫu tĩnh mạch khơng có van, sự khác biệt này có ý nghĩa thống

kê với p= 0,048< 0,05.

3.5.5. Sự tương quan giữa tình trạng van với độ di động tiến tới của tinh

trùng trước và sau vi phẫu thuật.

Bảng 3.33: Liên quan giữa tình trạng van TM với độ di động tiến tới

của tinh trùng trước và sau vi phẫu thuật.

Độ di động tiến tới



Độ di động tiến



trước mổ



tới sau mổ



±s



±s



Có van TM (n=7)



25,55±19,93



51,74±12,54



0,00



Khơng có van TM (n=40)



32,18±17,54



33,91±.15,58



8



Yếu tố đánh giá



PH



Nhận xét: Độ di động tiến tới của tinh trùng sau mổ có sự tăng lên và mức độ

tăng của những bệnh nhân có mẫu tĩnh mạch có van tăng cao hơn so với

những bệnh nhân có mẫu tĩnh mạch khơng có van sự khác biệt này có ý nghĩa

thống kê với p=0,008< 0,05.



67

3.5.6. Sự tương quan giữa tình trạng van với hình dáng của tinh trùng

trước và sau vi phẫu thuật.

Bảng 3.34: Liên quan giữa tình trạng van TM với hình dáng bình thường

của tinh trùng trước và sau vi phẫu thuật.

Yếu tố đánh giá

Có van TM (n=7)

Khơng có van TM (n=40)



Hình dáng bình



Hình dạng bình



thường trước mổ



thường sau mổ



±s



±s



22,14±12,86



29,29±3,45



25,78±13,97



29,14± 10,52



PH



0,497



Nhận xét: Hình dáng của tinh trùng sau mổ có sự tăng lên và mức độ tăng của

những bệnh nhân có mẫu tĩnh mạch có van so với những bệnh nhân có mẫu

tĩnh mạch khơng có van tĩnh mạch khơng có sự khác biệt với P= 0,497> 0,05.



68

CHƯƠNG 4



BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm chung của nhóm bệnh nhân nghiên cứu.

Trong nghiên cứu của chúng tơi độ tuổi trung bình của bệnh nhân

GTMT là 26,57 ± 6,44, tuổi bệnh nhân thấp nhất là 17 tuổi, tuổi bệnh nhân

cao nhất là 50 tuổi. Nhóm tuổi từ 21-30 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất với 42 bệnh

nhân chiếm 58,3%.

Tần suất GTMT được Oster J (1971) ghi nhận là 0% ở trẻ dưới 10

tuổi và 16,2% ở trẻ em từ 10 - 19 tuổi. Thường gặp nhất ở độ tuổi từ 21 30 tuổi, ít gặp ở lứa tuổi trên 40 [66]. Trong nghiên cứu của Hoàng Long và

cộng sự (2006), tuổi bệnh nhân GTMT trung bình là 26,7 ± 6,3 tuổi [67].

Theo Lee HJ và cộng sự (2011), tuổi trung bình là 25,4 ± 8,9 tuổi [68].

Ta thấy lứa tuổi từ 21- 30 tuổi gặp nhiều nhất có thể là do sinh lý xảy ra

trong dậy thì, dòng máu đến tinh hồn nhiều hơn làm các tĩnh mạch bộc lộ các

bất thường tiềm ẩn, do đó làm cho tĩnh mạch tinh giãn và biểu hiện ra lâm

sàng. Độ tuổi này cũng là độ tuổi sinh sản và chậm con cũng gia tăng lên

trong độ tuổi này.

4.2. Đặc điểm lâm sàng.

4.2.1. Lý do đến khám bệnh

Bệnh nhân đến viện khám vì đau tức vùng bìu chiếm tỷ lệ cao nhất

với 48 bệnh nhân chiếm tỷ lệ 66,7%. Nhóm bệnh nhân đến khám vì hiếm

muộn có 21 bệnh nhân chiếm tỷ lệ 29,2%.Còn lại, bệnh nhân đi khám vì

thấy búi tĩnh mạch tinh giãn là 3 bệnh nhân chiếm 4,1%.

Theo Lê Huy Ngọc (2012), với tỷ lệ bệnh nhân đến khám vì đau tức bìu

là 61,4% và tỉ lệ đến khám vì hiếm muộn là 19,3%. Đây cũng là những lý do

chủ yếu đến khám bệnh tương tự như trong một số nghiên cứu khác của



69

Hoàng Long và cộng sự (2006) triệu chứng đau bìu là 100% [67], Trịnh

Hồng Giang (2006) bệnh nhân đến khám vơ sinh là 41,5% [57] và Jarow JP

(1993) bệnh nhân có dấu hiệu đau tức bìu là 80% [69].

4.2.2. Thời gian mắc bệnh.

Thời gian mắc bệnh được tính từ khi biểu hiện triệu chứng đến khi

bệnh nhân được khám bệnh. Trong nghiên cứu của chúng tơi có 21 bệnh

nhân đi khám vì chậm con. Bệnh nhân khơng để ý đến tình trạng đau tức

bìu và tình trạng bìu nên khơng xác định được thời gian mắc bệnh. Còn lại

bệnh nhân đến khám vì đau tức vùng bìu và thấy búi tĩnh mạch xác định

được thời gian khởi phát bệnh, thời gian phát hiện bệnh trung bình là

7,53±5,91 tháng. Trong đó nhóm phát hiện bệnh dưới 9 tháng chiếm nhiều

nhất với tỷ lệ 62,7%.

Trong nghiên cứu của Hirsch IH (1998) thời gian mắc bệnh trung bình

là 15,23 ± 2,39 tháng [70], và của Cayan S (2005) là 14,78 ± 2,34 tháng [71].

Ở đây thời gian phát hiện bệnh ghi nhận của chúng tơi có ngắn hơn. Sự khác

biệt này có thể là do dân trí của người dân tăng lên, kèm theo đó là vấn đề về

truyền thơng và mạng thơng tin phổ cập các kiến thức về sức khỏe nam giới.

4.2.3. Vị trí giãn tĩnh mạch tinh.

Trong nghiên cứu của chúng tơi, có 69 bệnh nhân giãn tĩnh mạch tinh bên

trái chiếm tỷ lệ 95,8%, 3 bệnh nhân giãn tĩnh mạch tinh hai bên chiếm tỷ lệ

4,2%, và khơng có bệnh nhân nào giãn tĩnh mạch tinh bên phải đơn thuần.

Nghiên cứu của Richard B (1885) thấy tỷ lệ giãn tinh mạch tinh bên trái

là 93,2%, cả hai bên là 5,9% và 0,9% là bên phải [72]. Theo Parrott RS

(1993) thì tỷ lệ giãn tĩnh mạch tinh bên trái là 94,6% [47], [73].

Ở Việt Nam, theo nghiên cứu của Trịnh Hoàng Giang (2006) thì vị trí

giãn tinh mạch tinh bên trái là 95,1%, vị trí gặp ở cả hai bên là 4,9% và không

gặp trường hợp giãn tinh mạch tinh phải đơn độc [57]. Nguyễn Hoài Bắc và



70

cộng sự (2011), vị trí gặp giãn tinh mạch tinh bên trái là 92,31% [47]. Lê Huy

Ngọc (2012), giãn tĩnh mạch tinh bên trái chiếm 95,2%, còn lại là cả hai bên

chiếm 4,8% [58].

Qua đó thấy được có sự tương đồng về vị trí tĩnh mạch tinh giãn giữa

nghiên cứu của chúng tôi với đa số các tác giả báo cáo trước đây.

4.2.4. Phân độ giãn tĩnh mạch tinh theo phân độ quốc tế.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, GTMT độ 3 chiếm nhiều nhất với 41

bệnh nhân chiếm tỷ lệ 56,9%, GTMT độ 2 có 29 bệnh nhân chiếm tỷ lệ

40,3%, GTMT độ 1 có 2 bệnh nhân và khơng có bệnh nhân nào GTMT độ 0.

Đỗ Trường Thành (2013) cho thấy tỉ lệ TMTG độ 3 là 64,8%, độ 2 là

27,6% và độ 1 là 2,1% [65]. Nguyễn Hoài Bắc (2011) gặp tỉ lệ TMTG độ 3 là

56,2%, độ 2 là 24,6% và độ 1 là 19,2% [47].

Theo Cayan S (2000) tỉ lệ TMTG độ 3 là 27,7%, GTMT độ 2 là 24,6% [54].

Goldstein M (2002) ghi nhận có 25,9% TMTG độ 3 và 22,2% TMTG độ 2 [55].

Như vậy mức độ GTMT trong nghiên cứu của chúng tôi là gần như tương

đồng với các tác giả khác trong nước nhưng vẫn cao hơn với các nghiên cứu ngoài

nước. Hiện nay dân trí của nhân dân ta đã tăng lên nhưng vẫn chủ quan về sức

khỏe và thường khi đau nhiều hay nhiều năm chưa có con mới đến khám.

4.3. Đặc điểm cận lâm sàng

4.3.1. Siêu âm.

Trong bệnh GTMT siêu âm có một vai trò hết sức quan trọng. Siêu âm 2D

kết hợp với siêu âm Doppler giúp chẩn đoán bệnh với độ đặc hiệu và độ nhậy

cao. Siêu âm còn là một thăm dò chẩn đốn dễ thực hiện, khơng xâm lấn và

có tính hiệu quả kinh tế cao.

Tất cả bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi đều được làm siêu âm

Doppler tinh hoàn, mào tinh hoàn kèm theo siêu âm ổ bụng. Đánh giá đường



71

kính tĩnh mạch tinh khi không làm nghiệm pháp Valsalva và khi làm nghiệm

pháp Valsalva, đánh giá tình trạng dòng trào ngược của dòng máu trong tĩnh

mạch, kèm theo đánh giá thể tích tinh hồn. Ngồi ra còn siêu âm ổ bụng để

loại trừ các khối u chèn ép hay bệnh phối hợp khác.

Đường kính tĩnh mạch tinh trung bình khi khơng làm nghiệm pháp

Valsalva là 2,97± 0,66mm. Đường kính lớn nhất là 5,1 mm và đường kính nhỏ

nhất là 1,5 mm. Trong đó, nhóm có đường kính nhỏ hơn hay bằng 3 mm

chiếm tỷ lệ cao nhất chiếm 69,3%.

Đường kính tĩnh mạch tinh trung bình khi làm nghiệm pháp Valsalva là

3,71± 0,60 mm. Đường kính lớn nhất là 5,7 mm và đường kính nhỏ nhất là

2.9 mm - đây là đường kính tĩnh mạch tinh phải trong trường hợp bệnh nhân

đi khám vì vơ sinh và bị giãn tĩnh mạch tinh 2 bên. Nhóm chiếm chủ yếu là

nhóm có đường kính từ lớn hơn 3 đến 4 mm với tỷ lệ 72%.

Tất cả tĩnh mạch tinh giãn đều có dòng trào ngược, chủ yếu là tĩnh

mạch khi làm nghiệm pháp Valsalva với tỷ lệ 80%. Sự khác biệt về đường

kính TMTG khi khơng thực hiện nghiệm pháp Valsalva và khi thực hiện

nghiệm pháp cũng đã phần nào phản ánh sự hiện diện của dòng trào ngược.

Trong nghiên cứu của Chiou RK (1997) cũng như Rajfer J (1998) đều

khẳng định có dòng trào ngược ở 100% TMTG [51], [39]. Theo Đỗ Trường

Thành và cộng sự (2013) đường kính trung bình TMT khi khơng làm nghiệm

pháp Valsalva là 2,61±0,45 mm, đường kính TMT sau khi làm nghiệm pháp

Valsalva là 3,58±0,55 mm, và tất cả đều có dòng trào ngược [65].

Thể tích tinh hồn cùng bên TMTG qua siêu âm ghi nhận có 14,7 %

tinh hồn bị nhỏ hơn so với bình thường còn lại 85,3 % tinh hồn có thể tích

và hình thái bình thường.



72

4.3.2. Xét nghiệm tinh dịch đồ.

Kết quả tinh dịch đồ trong nghiên cứu của chúng tôi được ghi nhận: Số

lượng tinh trùng trung bình trong mẫu tinh dịch là 59,85±57,81 triệu, có 32

bệnh nhân có số lượng tinh trùng dưới 39 triệu chiếm tỷ lệ 46,4 % trong đó

có 3 bệnh nhân khơng có tinh trùng và có 3 bệnh nhân tinh trùng chỉ có vài

con; về mật độ tinh trùng trung bình là 23,60±22,00 triệu/ml, số bệnh nhân có

mật độ tinh trùng dưới 15 triệu/ml là 33 bệnh nhân chiếm tỷ lệ 47,8% và từ trên

15 triệu/ml có 36 bệnh nhân chiếm tỷ lệ 52,2 %; tỷ lệ sống của tinh trùng dưới

58% có 59 bệnh nhân chiếm tỷ lệ 85,5%; độ di động tiến tới của tinh trùng từ

32% trở lên có 38 bệnh nhân chiếm tỷ lệ 55,1% và dưới 32% có 31 bệnh nhân

chiếm tỷ lệ 44,9%; hình dáng bình thường của tinh trùng dưới 30% có 27 bệnh

nhân chiếm tỷ lệ 39,1% và từ 30% trở lên có 42 bệnh nhân chiếm tỷ lệ 60,9%.

Sự ảnh hưởng của GTMT đến chức năng sinh tinh của tinh hoàn đã được

ghi nhận trong nhiều nghiên cứu. Đó là các bất thường về giảm số lượng tinh

trùng, giảm tỷ lệ sống, khả năng di động, hình thái bình thường [35], [74]. Như

Seftel AD (1997) cho rằng ở nam giới bị GTMT, 80% các mẫu tinh dịch có

tình trạng giảm di động tinh trùng và có 57% có mật độ tinh trùng dưới 20

triệu/ml [75], hay theo Sigma M (2002) thì cho rằng các tỷ lệ này tương ứng

là 70% và 35% [22].

4.3.3. Nồng độ Hormone.

Nồng độ Testosterone trong nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận ở bệnh

nhân trước mổ trung bình là 16,18 ± 5,88 nmol/l, số bệnh nhân có nồng độ

lớn hơn 12 nmol/l đến 35 nmol/l là 47 bệnh nhân chiếm tỷ lệ 73,4%, số bệnh

nhân có nồng độ ≤ 12 nmol/l là 17 bệnh nhân chiếm tỷ lệ 26,6%, khơng có

bệnh nhân nồng độ vượt ngưỡng bình thường.

Nồng độ FSH trung bình là 6,09 ± 5,58 mUI/ml, trong đó số bệnh nhân

có nồng độ FSH trên 6mUI/ml là 18 bệnh nhân chiếm tỷ lệ 28,1%. FSH được



73

xem như chất phản ánh sự sinh tinh, khi FSH > 14mUI/ml thì khả năng sinh

tinh của tinh hồn rất kém [17]. Trong nghiên cứu của chúng tơi có 3 bệnh

nhân nồng độ FSH >14mUI/ml, trong đó có 2 bệnh nhân khơng có tinh trùng

và 1 bệnh nhân chỉ có vài con tinh trùng.

Nồng độ hormone LH trung bình 5,03 ± 3,61 mUI/ml. Bệnh nhân có

nồng độ hormone LH bình thường là 62 bệnh nhân chiếm 96,9%.

4.4. Phương pháp vi phẫu thuật điều trị GTMT.

4.4.1. Vô cảm

Tất cả các bệnh nhân đều được gây tê tủy sống kể cả thắt tĩnh mạch

tinh cả 2 bên. Đây là một phương pháp vô cảm hiệu quả, ngồi ra nó còn tốt

cho q trình hồi phục sau mổ và hiệu quả kinh tế cao.

4.4.2. Kỹ thuật

Tư thế bệnh nhân nằm ngửa bình thường nên rất thuận lợi, không

phải chỉnh tư thế bệnh nhân trước mổ và cũng dễ dàng thực hiện phẫu thuật

cả 2 bên.

Rạch da đường ngang vị trí tại lỗ bẹn ngồi, chiều dài vết mổ từ 2- 3cm.

Tại vị trí này việc tiếp cận thừng tinh, đưa thừng tinh ra ngoài vết mổ rất dễ

dàng. Hơn nữa, quá trình đưa tinh hoàn lên qua vết mổ và bộc lộ TMT ngoài

và tĩnh mạch dây treo tinh hồn cũng dễ dàng.

Dùng kính vi phẫu trong q trình phẫu tích được tiến hành một cách

thuận lợi, giúp cho việc bộc lộ từng tĩnh mạch tinh giãn, cô lập động mạch

tinh, bạch huyết, ống dẫn tinh một cách thuận lợi.

4.5. Kết quả phẫu thuật.

4.5.1. Các tai biến trong mổ.

Quá trình vi phẫu thuật cho 72 bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng

tôi được tiến hành thuận lợi và khơng có tai biến nào xảy ra.



74

Theo y văn, phương pháp vi phẫu thuật thắt tĩnh mạch tinh có thể có

các tai biến như chảy máu, thắt ĐMT hay bạch mạch. Ở đây, việc kiểm soát

chảy máu dễ dàng, kèm theo nếu thắt phải ĐMT hay bạch huyết thì có thể cắt

sợi chỉ buộc thì sự lưu thơng động mạch hay bạch huyết lại có thể trở lại bình

thường. Với các phương pháp khác như phẫu thuật nội soi sau hay trong phúc

mạc thắt tĩnh mạch tinh giãn, có thể gặp các tai biến như chảy máu, tổn

thương niệu quản, tổn thương tạng, tràn khí dưới da, thủng phúc mạc, thủng

màng phổi và chuyển mổ mở [58]. Những tai biến trong vi phẫu thuật nhẹ

nhàng hơn và xử trí cũng đơn giản hơn nhiều.

4.5.2. Thời gian phẫu thuật.

Bệnh nhân được tiến hành vi phẫu thuật trong thời gian trung bình là

56,67± 16,53 phút. Thời gian phẫu thuật dài nhất là 100 phút và thời gian ngắn

nhất là 30 phút.

Tác giả Kandari AM (2007) đã so sánh thời gian phẫu thuật của nhóm

vi phẫu thuật dài hơn so với nhóm phẫn thuật nội soi: 60,9 ± 9 phút với 34 ±

5 phút, p < 0,05 [76]. Nguyễn Hồi Bắc (2011) cũng cho thấy thời gian trung

bình của vi phẫu thuật 71,2 ± 11,9 phút dài hơn thời gian trung bình của phẫu

thuật nội soi thắt TMTG là 32,5 ± 1,9 phút [47].

Ở đây được ghi nhận là thời gian thực hiện vi phẫu thuật có thể dài

hơn các phương pháp. Nhưng bệnh nhân mổ ở tư thế nằm ngửa và được

gây tê tủy sống ít nguy cơ tai biến hơn với hiệu quả cao cho thấy lợi thế

của vi phẫu thuật.

4.5.3. Kết quả phẫu thuật đến khi ra viện

Việc đánh giá kết quả phẫu thuật khi bệnh nhân ra viện của chúng tơi

dựa vào các tiêu chí là: Đau tinh hồn và bìu bên mổ, sự tiến triển của vết mổ,

vết mổ có khơ, liền tốt khơng hay sưng nề và nhiễm trùng vết mổ. Theo dõi và

đánh giá các biến chứng có thể xảy ra: tụ máu bìu, sau mổ bìu có bị tụ máu



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Biểu đồ 3.4: Vợ bệnh nhân có thai

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×