Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hình 1.12: Các vị trí thắt vi phẫu tĩnh mạch tinh giãn [59]

Hình 1.12: Các vị trí thắt vi phẫu tĩnh mạch tinh giãn [59]

Tải bản đầy đủ - 0trang

32

hoàn, vi vậy sẽ thấy hết các tĩnh mạch giãn, kể các tĩnh mạch hoặc vòng nối

bất thường [4]. Do đó hạn chế được nguy cơ tái phát của bệnh, theo Goldstein

2002 tỉ lệ này còn 1% [55].

- Một số các nghiên cứu trên thế giới và tình hình nghiên cứu trong

nước về phương pháp điều trị GTMT bằng vi phẫu thuật.

+ Trên thế giới

Mối liên quan giữa vô sinh nam và giãn tĩnh mạch tinh được biết đến từ

thế kỷ XVIII khi năm 1885 Barwell HJ đã báo cáo một nghiên cứu gồm 100

bệnh nhân giãn tinh mạch tinh được điều trị bằng thắt tĩnh mạch tinh [60].

Cùng thời gian này, Bennet W lần đầu tiên chứng minh sự cải thiện chất

lượng tinh trùng trên một bệnh nhân giãn tĩnh mạch tinh hai bên và được điều

trị phẫu thuật thắt tĩnh mạch tinh [61]. Năm 1952, Tulloch W đã báo cáo một

trường hợp bệnh nhân khơng có tinh trùng đã có khả năng sinh sản sau khi

phẫu thuật thắt tĩnh mạch tinh [62].

Năm 1992, Goldstein M đã có bài báo cáo đầu tiên về phương pháp

điều trị GTMT bằng vi phẫu thuật [11]. Đến năm 2009 Baazeem A và cộng

sự đã đưa ra quy trình vi phẫu thuật thắt TMTG [59]. Cũng là Goldstein M,

năm 2002 đã nghiên cứu về hiệu quả của phương pháp vi phẫu thuật điều

trị GTMT. Nghiên cứu cho thấy tỉ lệ tái phát sau phẫu thuật là 1%, tràn

dịch tinh mạc là 0%, khả năng có biến chứng nặng là khơng và bảo tồn

động mạch là có [55].



+ Tại Việt Nam

Năm 1996, Nguyễn Thành Như đã có báo cáo đầu tiên về phương pháp

vi phẫu thuật trong điều trị TMTG. Đến năm 2010, tác giả đã có nghiên cứu

đánh giá hiệu quả vi phẫu cột TMTG trong hiếm muộn nam. Nghiên cứu cho



33

thấy 66% bệnh nhân sẽ cải thiện TDĐ sau phẫu thuật và 32% bệnh nhân vợ có

thai tự nhiên [63].

Các bác sỹ Bệnh viện hữu nghị Việt Đức đã bắt đầu tiến hành vi phẫu

thuật điều trị GTMT từ năm 2006. Và tới năm 2011 có báo cáo về kết quả

điều trị GTMT bằng vi phẫu thuật nhận thấy triệu chứng lâm sàng, các xét

nghiệm tinh dịch đồ cải thiện hơn so với trước phẫu thuật [64].



34

CHƯƠNG 2



ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn

- Bệnh nhân được chẩn đoán là GTMT và được điều trị bằng phương

pháp vi phẫu thuật tại Trung tâm Nam Học Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức

trong thời gian từ tháng 3/2016 đến tháng 7/2016.

- GTMT một bên hoặc cả hai bên.

2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ

- Các bệnh nhân có nghi ngờ GTMT trên lâm sàng nhưng khơng có dấu

hiệu giãn và dòng trào ngược của TMT trên siêu âm Doppler.

- Bệnh nhân có những bệnh mạn tính phối hợp làm ảnh hưởng đến sự

bài tiết hormon cũng như ảnh hưởng đến q trình sinh tinh.

- Bệnh nhân có bệnh lý ở bụng : U thận, u sau phúc mạc,...

- Bệnh nhân không đến tái khám đầy đủ, không đồng ý tham gia nghiên cứu.

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.2.1. Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu tiến cứu.

Thu thập số liệu trên bệnh nhân được khám và điều trị tại Trung tâm

Nam- Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức.

Số liệu được ghi nhận đầy đủ các giá trị thông tin theo tiêu chuẩn lựa

chọn vào bệnh án thống nhất.

2.2.2. Cơ mẫu nghiên cứu

Cỡ mẫu nghiên cứu được lấy theo cỡ mẫu thuận tiện.

2.2.3. Phương tiện và trang thiết bị nghiên cứu

- Phòng mổ và bàn mổ ngoại tổng quát hoặc ngoại tiết niệu.



35

- Bộ phẫu thuật vi phẫu, gồm có:

+ Kính mổ Zeiss phóng đại 4,5 lần.

+ Bộ dụng cụ vi phẫu thuật.

- Bộ dụng cụ mổ mở truyền thống.

- Các vật tư tiêu hao đi kèm.: Chỉ Prolene 4/0- 5/0, Vicryl 4/0-5/0, chỉ

khâu da,…



Hình 2.1: Kính mổ Zeiss



Hình 2.2: Bộ dụng cụ vi phẫu



36

- Bộ dụng cụ mổ mở truyền thống.



Hình 2.3: Bộ dụng cụ mổ mở truyền thống

2.2.4. Các bước tiến hành nghiên cứu

2.2.4.1. Hồ sơ bệnh án.

Trong nghiên cứu, các bệnh nhân được tiến hành chẩn đoán lâm sàng

và điều trị phẫu thuật thống nhất. Các thông tin bệnh nhân, nội dung nghiên

cứu và các biến số nghiên cứu được lấy theo một mẫu bệnh án thống nhất với

các chỉ tiêu nghiên cứu.

* Lâm sàng:

- Tuổi bệnh nhân: Được chia thành 4 nhóm, dưới hoặc bằng 20 tuổi, từ

21 tuổi đến 30 tuổi, từ 31 đến 40 tuổi và trên 40 tuổi.

- Lý do đến khám của bệnh nhân: Đau tức bìu, vơ sinh, bìu giãn …

Được ghi nhận triệu chứng chính, triệu chứng kèm theo, thời gian từ lúc bắt

đầu có triệu chứng đến lúc bệnh nhân phải đi khám và nhập viện.

- Tiền sử có bệnh lý nội khoa, ngoại khoa hoặc phẫu thuật trước đó.

- Khám lâm sàng, khám bệnh trong phòng ấm, bệnh nhân tư thế đứng

và kết hợp với nghiệm pháp Valsalva khi cần. Đánh giá vị trí bên bị bệnh,

đánh giá mức độ GTMT theo chuẩn quốc tế, phát hiện những bệnh lý kèm

theo (nếu có): nang mào tinh hồn, bất sản ống dẫn tinh,...



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hình 1.12: Các vị trí thắt vi phẫu tĩnh mạch tinh giãn [59]

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×