Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hình 1.8: Hình ảnh Siêu âm Doppler màu – TMTG [51]

Hình 1.8: Hình ảnh Siêu âm Doppler màu – TMTG [51]

Tải bản đầy đủ - 0trang

20

Các bất thường có thể gặp trong xét nghiệm TDĐ: giảm mật độ tinh

trùng, giảm khả năng di động của tinh trùng, tăng tỉ lệ tinh trùng có hình

dáng bất thường. Ở nam giới bị GTMT, gặp 70% các mẫu tinh dịch có tình

trạng giảm di động tinh trùng và 35% có mật độ tinh trùng nhỏ hơn 20

triệu/ml [12], [22].

Ngồi ra, bệnh còn ảnh hưởng tới hình thái học của tinh trùng với hình

ảnh tinh trùng đầu bị dài và giãn rộng ra do sự hiện diện của tế bào chất.

Bảng 1.2: Tiêu chuẩn bình thường của tinh dịch đồ ở nam giới theo

(WHO 2010) [2]

Các chỉ số

Màu sắc

Sự ly giải

Thể tích tinh dịch

pH

Mật độ tinh trùng

Tổng số tinh trùng trong mỗi lần xuất tinh

Độ di động tiến tới của tinh trùng

Độ di động của toàn bộ tinh trùng

Tỉ lệ sống của tinh trùng

Tinh trùng có hình dạng bình thường



Giới hạn bình thường

Thường trắng sữa, đồng nhất

Trong vòng 30 phút ở trong tủ

ấm 370C

≥1,5ml (1,4-1,7ml)

≥ 7,2

≥15.106/ml

≥ 39.106

≥32%

≥40%

≥58%

≥30%



1.4.4.3. Các xét nghiệm nội tiết tố

Các xét nghiệm nội tiết tố liên quan với chức năng của tinh hoàn bao

gồm nồng độ FSH, LH, Testosterone trong máu. FSH và LH là hai hóc mơn

quan trọng do tuyến n tiết ra, kiểm sốt chức năng tinh hoàn. Testosterone

được sản xuất bởi tế bào Leydig dưới sự điều khiển của LH [41]. Trị số bình

thường của LH trong huyết thanh 1-15mIU/ml. FSH chịu trách nhiệm khởi

đầu và duy trì sự sinh tinh thơng qua tác động lên tế bào Sertoli. Nồng độ

FSH huyết thanh bình thường 2-6 mUI/ml. Testosterone được tổng hợp trong

tế bào Leydig với nồng độ trong huyết tương 12– 35 nmol/l [53].



21

Nhiều nghiên cứu đã ghi nhận sự giảm nồng độ Testosterone trong các

trường hợp vô sinh nam do GTMT và tăng trở lại sau phẫu thuật, do có sự cải

thiện chức năng tế bào Leydig [41]. FSH được xem như chất phản ánh sự sinh

tinh và ảnh hưởng bởi cơ chế feed-back từ hoạt động của tế bào Sertoli. Khi

nồng độ FSH gia tăng thì khả năng sinh tinh của tinh hồn giảm, khi FSH >

14 mIU/ml thì khả năng sinh tinh của tinh hoàn rất kém (Turek, 1995) [17].

Các trường hợp trước mổ có FSH > 10mIU/ml thì sau phẫu thuật nồng độ

FSH giảm rõ (Cayan S, 2005) [54].

1.4.4.4. Chụp cắt lớp vi tính (CT Scanner) và chụp cộng hưởng từ (MRI)

Trong y văn, chụp cắt lớp vi tính và chụp cộng hưởng từ có thể được

dùng để chẩn đốn GTMT, nhưng ít dùng. Tuy nhiên CT Scanner và MRI

thường được chỉ định khi nghi ngờ GTMT thứ phát do khối u sau phúc mạc.

1.4.4.5. Chụp cản quang TMT

Là phương pháp chẩn đoán được coi như là tiêu chuẩn vàng trong việc

phát hiện GTMT độ 0, khơng có biểu hiện lâm sàng. Nó cho phép phát hiện

trào ngược máu tĩnh mạch bất thường vào hệ thống TMT trong và đám rối

tĩnh mạch hình dây leo.

Tuy nhiên, do đây là phương pháp gây sang chấn nên thường chỉ áp

dụng trong trường hợp lập sơ đồ hệ thống mạch để thực hiện điều trị nút

mạch. Kết quả tùy thuộc vào kỹ năng của người thực hiện và khơng phải là

khơng có biến chứng. Vì vậy, hiện nay nhiều tác giả ưa chuộng biện pháp

chẩn đốn hình ảnh siêu âm Doppler hơn vì khơng xâm phạm và kết quả cũng

rất chính xác [51].

1.4.4.6. Đo nhiệt độ bìu

Được thực hiện bằng cách đo dán trực tiếp hay qua tia hồng ngoại. Do

phương pháp này có tỷ lệ dương tính giả là 16 - 20% và âm tính giả là 20 - 32%,

nên vai trò của nó trong chẩn đốn GTMT rất hạn chế [12].



22

1.4.4.7. Sinh thiết tinh hoàn

Giúp phát hiện những thay đổi của tinh hồn do GTMT gây ra, nhưng

khơng giúp tiên lượng được khả năng hồi phục của sự sinh tinh. Tuy nhiên,

nếu trên bệnh nhân vô sinh mà sinh thiết tinh hồn có tinh trùng trưởng thành

thì đó là dấu hiệu tiên lượng tốt nếu thắt TMT giãn được thực hiện [12].

1.4.4.8. Đo thể tích tinh hồn

Tinh hồn nhỏ thường gặp ở tinh hoàn cùng bên GTMT ở thiếu niên.

Thắt TMT giãn ở thiếu niên giúp tăng thể tích tinh hồn sau phẫu thuật một

cách có ý nghĩa thống kê. Vì thế, nếu có sự chênh lệch trên 2ml của hai tinh

hồn trên thiếu niên bị GTMT thì đó là chỉ định nên phẫu thuật sớm [52].

1.5. Điều trị GTMT

Mục tiêu của điều trị GTMT là điều trị triệu chứng và cải thiện chức năng

của tinh hoàn, làm tăng chất lượng TDĐ để tăng khả năng có con. Bao gồm:

1.5.1. Điều trị nội khoa

GTMT rõ ràng có ảnh hưởng xấu đến sự phát triển tinh hoàn cũng như

sự sinh tinh. Thực ra phần lớn nam giới bị GTMT vẫn có con bởi vì những

ảnh hưởng nêu trên là khiêm tốn và bởi vì tiềm năng sinh tinh cao khiến cho

TDĐ còn giữ được trong giới hạn có khả năng thụ tinh.Vì thế chỉ riêng sự

hiện diện của GTMT khơng phải là chỉ định mổ.

Trong trường hợp giãn rất nhẹ, phát hiện tình cờ khi làm siêu âm do

một bệnh lý khác vùng bìu - hạ vị, chỉ cần theo dõi diễn biến của bệnh bằng

cách đi khám thường xuyên.

Trong một số trường hợp GTMT làm bệnh nhân thấy bìu sệ xuống hơn

so với bình thường hoặc so với bên đối diện, người bệnh được khuyên dùng

băng nâng thể thao vùng bìu cũng giúp bệnh nhân thoải mái hơn.



23

Nếu người bệnh có cảm giác khó chịu như: Đau vùng bìu, tức nặng

vùng bìu,… có thể dùng thuốc tăng trương lực thành mạch, giảm đau, chống

viêm, giảm phù nề.

Điều trị nội khoa thường khơng có hiệu quả với GTMT [12].

1.5.2. Điều trị can thiệp GTMT

1.5.2.1. Chỉ định điều trị can thiệp GTMT

* Đối với nam giới trưởng thành.

- GTMT gây triệu chứng khó chịu hoặc đau tức bìu kéo dài ảnh hưởng

tới sinh hoạt và khả năng lao động [54].

- GTMT được phát hiện trên cặp vợ chồng vô sinh [12], [55].

* Đối với nam thiếu niên.

- Kass EJ (1995) khuyên nên mổ khi khám thấy thể tích tinh hồn hai

bên chênh lệch rõ hoặc khi GTMT gây đau bìu kéo dài [36].

- Belloli G (1996) chỉ định phẫu thuật cho GTMT độ 2 và độ 3 kết hợp

với teo tinh hoàn [30].

- Còn Sigman M và Jarow JP (2002) chỉ định phẫu thuật cho GTMT độ

2 hoặc độ 3 kết hợp với chậm phát triển tinh hồn cùng bên (bình thường

chênh lệch hai tinh hồn khơng q 2ml [22].

1.5.2.2. Các phương pháp can thiệp điều trị GTMT.

Gồm 2 nhóm phương pháp lớn là:

* Can thiệp nội mạch làm tắc TMT giãn

Đây là phương pháp dùng thuốc cản quang để xác định cấu trúc giải

phẫu và thấy được hình ảnh trào ngược dưới sự quan sát của màn hình tăng

sáng, sau đó bơm chất hay thuốc gây xơ hoá (Sodium Monohydrate, N-butyl

cyanoacrylate, polidocarnol,…) làm tắc các TMT giãn [56].



24

- Làm tắc nghẽn xi dòng: Vơ cảm tại chỗ. Chọc dò các TMT giãn ở

vùng bẹn - bìu rồi bơm thuốc cản quang để xác định cấu trúc giải phẫu và

thấy được hình ảnh hồi lưu dưới sự quan sát của màn hình quang tăng sáng,

sau đó bơm các chất tạo xơ vào các TMT giãn.

- Làm tắc nghẽn ngược dòng: Vơ cảm tại chỗ. Chọc dò tĩnh mạch đùi,

luồn catheter mạch máu vào tĩnh mạch chủ dưới qua tĩnh mạch thận để đi đến

TMT. Sau khi bơm thuốc cản quang và quan sát dưới màn hình quang tăng

sáng để xác định cấu trúc giải phẫu và thấy được hồi lưu của TMT thì tiến hành

làm tắc tĩnh mạch. Đa số các tác giả đều bơm thuốc gây xơ hóa vì rẻ tiền, gần

đây một số các tác giả dùng vòng xoắn (coil) hay bong bóng gây tắc mạch

nhưng chi phí còn khá cao.



Hình 1.9: Hình ảnh minh họa làm tắc nghẽn TMT trái ngược dòng [56]

* Điều trị phẫu thuật.

Có nhiều kỹ thuật mổ khác nhau nhưng mục đích đều giống nhau là

thắt tĩnh mạch tinh nhằm tránh trào ngược máu từ tĩnh mạch thận vào

đám rối tĩnh mạch tinh.

- Các phương pháp phẫu thuật mở cổ điển.

Bao gồm phẫu thuật đường bẹn, đường chậu sau phúc mạc và đường bìu.



25



Hình 1.10: Hình ảnh minh họa các đường phẫu thuật mở điều trị GTMT [57]

+ Mổ đường bẹn.

 Kỹ thuật mổ của Schoysman.

Đường rạch da giống với đường mổ của thoát vị bẹn. Đầu dưới của

đường rạch ở điểm giữa gai mu và khớp mu nơi mức lỗ bẹn ngoài. Đường

rạch da xiên lên trên và ra ngoài, theo đường phân giác của góc giữa dây cung

đùi và bờ ngồi của cơ thẳng to của bụng. Chiều dài trung bình của đường

rạch là từ 8 - 10cm, càng dài nếu người bệnh càng béo.

Dưới da, cắt qua các lớp mỡ dưới da: thường phải kẹp và đốt các mạch

máu dưới da vùng này.

Rạch cân cơ chéo lớn theo tất cả chiều dài của đường rạch da, bắt đầu

từ lỗ bẹn sâu cho đến tận lỗ bẹn nơng.

Mở thừng tinh phẫu tích cuống mạch cho đến tận lỗ bẹn sâu, tách riêng

các tĩnh mạch, chú y bảo tồn động mạch tinh. Thắt và cắt các tĩnh mạch.

Khâu cân cơ chéo lớn và da theo các lớp giải phẫu.

Kỹ thuật mổ này chống chỉ định với những bệnh nhân có tiền sử mổ

thốt vị bẹn vì dễ phạm phải các thành phần của thừng tinh khi mổ lại. Hơn

nữa, TMT tại vị trí này đã phân nhánh nên có nhiều nhánh dễ bị bỏ sót khi



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hình 1.8: Hình ảnh Siêu âm Doppler màu – TMTG [51]

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×