Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hình 1.5: Hình thể giải phẫu TMT bên phải [20].

Hình 1.5: Hình thể giải phẫu TMT bên phải [20].

Tải bản đầy đủ - 0trang

8

nhánh chạy trên mặt ngoài và mặt trong tinh hoàn rồi chọc qua lớp áo trắng

vào tinh hoàn và phân nhánh cấp máu cho tinh hồn. Động mạch tinh hồn

còn cho các nhánh mào tinh và các nhánh niệu quản.

Quanh động mạch tinh, nhiều tác giả còn tìm thấy nhiều nhánh vi tĩnh

mạch cận động mạch tinh có nối thơng với TMT.

1.1.3.2. Ống dẫn tinh

Ống dẫn tinh liên tiếp với ống mào tinh ở đuôi mào tinh, rồi quặt ngược

lên và ra trước chạy vào thừng tinh cùng với tĩnh mạch tinh, động mạch tinh và

động mạch ống dẫn tinh. Khi đến vòng bẹn sâu thì vào chậu hơng tới mặt sau

bàng quang rồi chọc qua tuyến tiền liệt đổ vào niệu đạo tiền liệt tuyến ở ụ núi.

Ống dẫn tinh đường kính khoảng 2- 3mm, nhưng lòng ống chỉ rộng 0,5 mm.

1.1.3.3. Động mạch ống dẫn tinh

Mạch nuôi ống dẫn tinh xuất phát từ động mạch túi tinh- ống dẫn tinh,

một nhánh của động mạch bàng quang trên. Động mạch này cung cấp máu

cho toàn bộ chiều dài ống dẫn tinh. Động mạch ống dẫn tinh cũng cấp máu

một phần cho tinh hồn.

1.1.3.4. Tinh hồn

Tinh hồn nằm trong bìu, tinh hoàn trái thường xuống thấp hơn tinh

hoàn phải 1cm. Tinh hoàn phát triển nhanh trong giai đoạn trưởng thành. Tinh

hồn có hình xoan dẹt, mặt nhẵn, màu trắng xanh, trục tinh hoàn hơi chếch

xuống dưới và ra sau. Ở người trưởng thành, tinh hồn có kích thước trung bình

như sau: Dài 4,5cm, rộng 2,5cm, dày 3cm, với thể tích thay đổi từ 12- 30ml.

Tinh hoàn sờ thấy chắc, hơi rắn và nắn có cảm giác đau đặc biệt. Tinh hồn có

hai mặt: Mặt ngồi lồi, mặt trong phẳng hơn; có hai cực: Cực trên và cực

dưới; có hai bờ: Bờ trước và bờ sau. Ở cực trên có một mẩu nhỏ nhơ ra gọi là

mẩu phụ tinh hồn, là di tích của đầu trên ống cạnh trung thận. Bờ sau có mào

tinh hồn úp chụp lấy tinh hồn. Tinh hoàn (TH) là một tuyến vừa ngoại tiết



9

(sản xuất ra tinh trùng) vừa nội tiết (tiết ra nội tiết tố nam, quan trọng nhất là

testosterone).

1.1.3.5. Mào tinh hoàn

Mào tinh hoàn có hình chữ C, gồm đầu, thân và đi. Mào tinh hoàn

nằm dọc theo đầu trên và phần ngoài bờ sau tinh hồn. Đầu và đi dính vào

tinh hồn bởi mơ liên kết, thân khơng dính vào tinh hồn, lá tạng của bao tinh

hoàn lách vào khe thân mào tinh và tinh hoàn tạo nên một túi cùng gọi là

xoang mào tinh. Trên đầu mào tinh có một mẩu phụ dính vào gọi là mẩu phụ

mào tinh, di tích của trung thận.

1.1.4. Mô học của TMT

TMT là tĩnh mạch cỡ trung bình, cấu tạo mơ học gồm 3 lớp: Áo trong, áo

giữa, áo ngoài. Đặc biệt được quan tâm đến là cấu trúc mơ học của van tĩnh

mạch (TM). Lòng của TMT có những van giữ dòng máu chỉ chảy theo chiều

về tim. Mỗi van tĩnh mạch gồm hai lá van hình bán nguyệt đối xứng nhau.

Mỗi lá van được hình thành do sự gấp lại của áo trong TM. Giữa hai mặt của

lá van là lớp sợi collagen mỏng xen với lưới sợi chun, những thành phần này

liên tiếp với lớp dưới nội mô của áo trong TM. Mặt hướng vào lòng mạch của

lá van, các tế bào nội mô xếp theo chiều ngang so với trục của mạch; ở mặt

hướng vào thành mạch, các tế bào nội mô có chiều dài hướng theo chiều dọc

của mạch. Khoang tạo nên giữa van và thành mạch được gọi là xoang của

van. Ở khu vực bờ cong của chân van, nơi gắn với thành mạch, thành tĩnh

mạch mỏng hơn và lòng mạch rộng hơn đáng kể so với nơi khác. Khi tĩnh

mạch chứa đầy máu khu vực này hơi phình ra, vì vậy có thể xác định vị trí

của van từ phía ngồi mạch bằng mắt thường. Hai bờ tự do của van nhơ ra và

hướng xi về phía dòng máu chảy. Khi dòng máu chảy về hướng tim, hai lá

van ép sát vào thành mạch. Áp lực của cột máu phía trên van tăng lên làm hai

lá van đóng lại, ngăn khơng cho máu chảy ngược.



10



Hình 1.6: Cấu tạo van tĩnh mạch [21]

1.2. Bệnh nguyên

Bệnh GTMT chiếm đến 90% chỉ gặp ở một bên và 10% GTMT xảy ra

hai bên. Trong số TMT giãn một bên, có đến 90 - 95% là ở bên trái [22].

Giải phẫu của TMT trong bên trái là yếu tố thuận lợi gây trào ngược. TMT

bên phải ngắn và đổ vào tĩnh mạch chủ dưới với một góc nhọn, trong khi đó TMT

trong bên trái dài hơn bên phải và đổ gần như vng góc vào tĩnh mạch thận. Áp

lực trong tĩnh mạch thận trái tăng cao cũng là yếu tố thuận lợi gây trào ngược.

Một số tác giả khi nghiên cứu áp lực trong tĩnh mạch thận trái ở người bị

GTMT thấy cao hơn ở người bình thường. Ngun nhân có thể là do hiện

tượng “Kẹp” phía trên do tĩnh mạch thận trái bị hẹp khi chạy qua động mạch

chủ ở phía sau và động mạch mạc treo tràng trên ở phía trước (hiệu ứng

“nutcracker” phía bên dưới được mơ tả bởi Coolsaet BL). Sự ép lên tĩnh mạch

chậu chung trái của động mạch chậu chung trái, gây ra chảy máu ngược dòng về

phía TMT ngồi và tĩnh mạch ống dẫn tinh cũng góp phần tạo nên GTMT [23].

Cơ chế gây GTMT được nhiều người chấp nhận nhất là do khơng có

van hoặc hệ thống van ở TMT trong bị mất tác dụng, vì vậy có trào ngược

máu từ tĩnh mạch thận trái hay tĩnh mạch chủ dưới vào đám rối TMT [24].

Năm 1994, Braedel HU đánh giá trên 650 bệnh nhân GTMT thấy rằng 73%

bệnh nhân khơng có van tĩnh mạch [25].



11



Hình 1.7: Tổn thương của van TMT [21]

Nguyên nhân GTMT được cho là phức tạp và kết hợp nhiều yếu tố.

Cũng có quan điểm cho rằng GTMT có thể là một cơ chế tự miễn của cơ thể

để bảo vệ tinh hoàn bệnh lý hơn là một bệnh lý tự phát gây ảnh hưởng lên tinh

hoàn khỏe mạnh (Nieschlag Evà cs., 1998) [26].

Mới đây, bằng phân tích TMT dưới kính hiển vi, người ta phát hiện có

sự thay đổi lớp cơ dọc và sự suy giảm các yếu tố thần kinh, mạch máu của

thành mạch. Điều này ảnh hưởng lên cơ chế co bóp và vận chuyển máu trong

đám rối TMT (Tilki D, 2007) [27].

1.3. Những thay đổi sinh lí và giải phẫu bệnh lí trong GTMT

1.3.1. Thể tích tinh hồn

Thể tích tinh hồn bình thường khoảng 12-30ml, tinh hồn hai bên

chênh lệch nhau không quá 2 ml [28], [29].

Tác động gây hại của GTMT có thể biểu hiện dưới dạng tinh hoàn

ngừng phát triển, rối loạn chức năng tế bào Leydig và các biến đổi mô học.

Điều này đã được một số tác giả khẳng định như: Steeno O (1991) thấy thể

tích tinh hồn bị giảm xuống trong các bệnh nhân bị GTMT, mức độ GTMT

càng nặng thể tích tinh hồn càng giảm. Sự khác biệt thể tích này thường hồi

phục sau thắt tĩnh mạch tinh giãn (TMTG) [30], [31].



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hình 1.5: Hình thể giải phẫu TMT bên phải [20].

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×