Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
của người trẻ tuổi trên địa bàn các quân nội đô Tp. Đà Nẵng (n = 120 )

của người trẻ tuổi trên địa bàn các quân nội đô Tp. Đà Nẵng (n = 120 )

Tải bản đầy đủ - 0trang

68

Khi phân tích ý kiến của các đối tượng khảo sát ở mức đô ưu tiên 2 trở

lên, cho thấy:

Đối với khách hàng người lớn tuổi:

Qua bảng 3.15, cho thấy: Về nhu cầu tâm lý: 29 ý kiến (36.25%) đáp ứng

nhu cầu cảm xúc và ý chí, 34 ý kiến (42%) sự kích thích, 61 ý kiến (76.25%)

giảm căng thẳng, 33 ý kiến (41.25%) thoả mãn nhu cầu thẩm mỹ, 31 ý kiến

(38.75%) trải nghiệm.

Đơng cơ văn hố xã hơi: 74 ý kiến (92.50%) liên kết công đồng thông qua

TDTT, 77 ý kiến (64.17%) tương tác gia đình và xã hơi, 77 ý kiến (96.25%) kết

nối văn hố, 71 ý kiến (88.75%) vì hâm mơ nhân vật thể thao nổi tiếng, 65 ý

kiến (81.25%) kết nối mang mầu sắc địa phương.

Đông cơ thực dụng: 47 ý kiến (58.75%) mua để phục vụ tập luyện TDTT,

27 (33.75%) mua để cho tặng, 66 ý kiến (82.50%) mua để sử dụng trong đời

sống hàng ngày, 37 ý kiến (46%) mua để sử dụng làm cổ đơng viên, 32 ý kiến

(40.0%) khơng có mục đích rõ ràng.

Đối với khách hàng đang làm việc:

Qua bảng 3.16 cho thấy: Về nhu cầu tâm lý: 134 ý kiến (89.33%) đáp ứng

nhu cầu cảm xúc và ý chí, 135 ý kiến (83.33%) sự kích thích, 110 ý kiến

(73.33%) giảm căng thẳng, 141 ý kiến (94.0%) thoả mãn nhu cầu thẩm mỹ, 136

ý kiến (90.67%) trải nghiệm.

Đông cơ văn hố xã hơi: 146 ý kiến (97.33%) liên kết cơng đồng thông

qua TDTT, 133 ý kiến (96.67%) tương tác gia đình và xã hơi, 145 ý kiến

(96.67%) kết nối vãn hố, 142 ý kiến (94.67%) vì hâm mơ nhân vật thể thao nổi

tiếng, 142 ý kiến (94.67%) kết nối mang mầu sắc địa phương.

Đông cơ thực dụng: 134 ý kiến (89.33%) mua để phục vụ tập luyện

TDTT, 135 (90.0%) mua để cho tặng, 110 ư kiến (73.33%) mua để sử dụng



69

trong đời sống hàng ngày, 141 ý kiến (94.0%) mua để sử dụng làm cổ đông viên,

135 ý kiến (90.0%) khơng có mục đích rõ ràng.

Đối với khách hàng trẻ tuổi:

Qua bảng 3.17 cho thấy: Về nhu cầu tâm lý: 114 ý kiến (95.0%) đáp ứng

nhu cầu cảm xúc và ý chí, 117 ý kiến (97.50%) sự kích thích, 100 ý kiến

(83.33%) giảm căng thẳng, 111 ý kiến (92.5%) thoả mãn nhu cầu thẩm mỹ, 116

ý kiến (96.67%) trải nghiệm.

Đông cơ văn hố xã hơi: 87 ý kiến (72.50%) liên kết công đồng thông qua

TDTT, 106 ý kiến (88.33%) tương tác gia đình và xã hơi, 116 ý kiến (96.67%)

kết nối văn hố, 99 ý kiến (82.50%) vì hâm mơ nhân vật thể thao nổi tiếng, 92 ý

kiến (76.67%) kết nối mang mầu sắc địa phương.

Đông cơ thực dụng: 114 ý kiến (95.0%) mua để phục vụ tập luyện TDTT,

117 (97.50%) mua để cho tặng, 63 ý kiến (52.50%) mua để sử dụng trong đời

sống hàng ngày, 111 ý kiến (92.50%) mua để sử dụng làm cổ đông viên, 108 ý

kiến (90.0%) khơng có mục đích rõ ràng.

3.1.4.4. Các kênh thơng tin có tác dụng kích thích tiêu thụ, trang phục,

dụng cụ TDTT của khách hàng.

Khảo sát các kênh thông tin truyền thống có tác dụng kích thích tiêu thụ,

trang phục, dụng cụ TDTT của khách hàng (theo tỷ lệ mức đơ ưu tiên 2 trở lên);

trình bày ở bảng 3.18, cho thấy:

Đối với khách hàng lớn tuổi:

69 ý kiến (86.25%) thơng qua quảng cáo tiếp thị trên truyền hình, 34 ý

kiến (42.50%) thông qua quảng cáo tiếp thị trên các các phương tiện thông tin

khác, 44 ý kiến (55.0%) thông qua các tin tức, nhân vật thể thao.

Đối với khách hàng đang làm việc:

109 ý kiến (72.67%) thông qua quảng cáo tiếp thị trên truyền hình, 58 ý



70

kiến (38.67%) thông qua quảng cáo tiếp thị trên các các phương tiện thông tin

khác, 139 ý kiến (92.67%) thông qua các tin tức, nhân vật thể thao nổi tiếng.

Đối với khách hàng trẻ tuổi:

114 ý kiến (95.0%) thông qua quảng cáo tiếp thị trên truyền hình, 110 ý

kiến (91.67%) thơng qua quảng cáo tiếp thị trên các các phương tiện thông tin

khác, 111 ý kiến (92.50%) thông qua các tin tức, nhân vật thể thao nổi tiếng.

Nhìn chung ở cả 3 đối tượng khách hàng vẫn có xu thế tiếp cận các thông tin về

sản phẩm thể thao thông qua các kênh truyền thông truyền thống, mà chủ yếu

thông qua các chương trình truyền hình thể thao. Tuy vậy mức đơ tiếp cận ở

khán giả lớn tuổi có thấp hơn khán giả đang làm việc và khán giả trẻ tuổi

(86.25% so với 95.0%). Kết quả khảo sát cho thấy phù hợp đặc điểm tâm lý lứa

tuổi.



Bảng 3.18. Két quả khảo sát các kênh thơng tin có tác dụng kích thích

mua sắm dụng cụ, trang phục thể dục thể thao của khách hàng



1

2

3



11



13.75



46



57.5



36



45



29



19.33



92



61.33



7



4.67



6



5



10



8.33



9



7.5



I. Đối với khách hàng lớn tuổi (n=80)

Thông qua quảng cáo, tiếp thị thể thao trên truyền

36

45.0

33

41.25

hình

Thơng qua quảng cáo, tiếp thị thể thao trên các

17

21.25

17

21.25

phương tiện thông tin khác

Thông qua các tin tức, sự kiện thể thao và nhân vật

19

23.75

25

31.25

thể thao.

II. Đối với khách hàng đang làm việc (n=150)

Thông qua quảng cáo, tiếp thị thể thao trên truyền

85

56.67

36

24

hình

Thơng qua quảng cáo, tiếp thị thể thao trên các

44

29.33

14

9.33

phương tiện thông tin khác

Thông qua các tin tức, sự kiện thể thao và nhân vật

131 87.33

12

8

thể thao.

III. Đối với khách hàng trẻ tuổi (n= 120)

Thông qua quảng cáo, tiếp thị thể thao trên truyền

101 84.17

13

10.83

hình

Thơng qua quảng cáo, tiếp thị thể thao tren các

77

64.17

33

27.5

phương tiện thông tin khác

Thông qua các tin tức, sự kiện thể thao và nhân vật

98

81.67

13

10.83

thể thao.



p



<0.001



%



18.47



mi



%



<0.001



3



mi



%



 2bảng



<0.001



2



mi



 2tính



18.47



1



Ưu tiên 3



18.47



3



Ưu tiên 2



35.17



2



Ưu tiên 1



172.04



1



Nội dung



18.99



TT



71

3.1.4.5. Sự tương tác giữa truyền thông và kinh doanh, tiêu thụ trang phục

TDTT thông qua ý kiến chuyên gia, chủ doanh nghiệp và khán giả-khách hàng.

Để có có sở phát triển truyền thơng thể thao với phát triển kinh doanh và tiêu thụ

dụng cụ, trang phục TDTT, tiến hành khảo sát sự tương tác của các chủ thể đồng thời là

khách thể của tương tác gồm: 34 chuyên gia là các nhà khoa học TDTT, truyền thông,

kinh tế; 89 đại diện chủ doanh nghiệp và 350 khán giả xem thường xuyên tiếp cận các

chương trình truyền hình thể thao, đồng thời là khách hàng tiêu dụng cụ, trang phục

TDTT trên đại bàn các quận nơi đơ Tp. Đà Nẵng, trình bày ở bảng 3.19, cho thấy:

Đối với truyền thông:

Doanh nghiệp và người tiêu dùng TDTT có thể được tương tương tác 2

chiều, có 30 (88.24%) ý kiến cần thiết đến rất cần thiết, 04 (11.75%) cho rằng

không cần thiết; Doanh nghiệp và người tiêu dùng cùng được chia sẻ thơng qua

truyền thơng, có 26 (76.47) ý kiến cần thiết đến rất cần thiết, 08 (23.53%) cho

rằng khơng cần thiết; Doanh nghiệp TDTT có thể xử lý nhanh chóng ý kiến của

khách hàng thơng qua truyền thông: 28 (82.35%) ý kiến cho rằng cần thiết đến

rất cần thiết, 06 (17.65%) ý kiến cho rằng không cần thiết (p<0.05).

Đối với doanh nghiệp: Truyền thông thể thao là công cụ để lắng nghe, là

công cụ để phát triển doanh nghiệp và thâm nhập thị trường, có 78 (87.64%) ý

kiến cho rằng cần thiết đến rất cần thiết, 11 (12.36%) ý kiến không cần thiết;

Truyền thông thể thao là nguồn cảm hứng của khách hàng khi mua dụng cụ

TDTT, có 69 (77.53%) ý kiến cho rằng cần thiết đến rất cần thiết, 20 (22.47%) ý

kiến không cần thiết; Truyền thông thể thao giúp doanh nghiệp TDTT gần gũi

khách hàng, có 68 (47.40%) ý kiến cho rằng cần thiết đến rất cần thiết, 21

(23.6%) ý kiến không cần thiết (p<0.001).

Đối với khán giả-khách hàng: Người tiêu thụ TDTT được biết đến thương

hiệu thơng qua truyền thơng, có 229 (65.43%) ý kiến cho rằng cần thiết đến rất

cần thiết, 121 (34.57%) ý kiến không cần thiết; Người tiêu thụ TDTT muốn chia

sẻ nhãn hiệu, thương hiệu dụng cụ TDTT với bạn bè qua thông tin thu được từ

truyền thông, có 219 (62.57%) ý kiến cho rằng cần thiết đến rất cần thiết, 131

(37.43%) ý kiến không cần thiết; Người tiêu thụ TDTT coi yếu tố hấp dẫn của

truyền thông thể thao là đông lực thúc đẩy tiêu thụ dụng cụ TDTT, có 216

(61.71%) ý kiến cho rằng cần thiết đến rất cần thiết, 134 (38.29%) ý kiến không

cần thiết (p<0.001).



Bảng 3.19. Kết quả khảo sát sự tương tác giữa truyền thông và kinh doanh, tiêu thụ dụng cụ,

TT



1

2

3

1

2

3

1

2

3



trang phụcTDTT thông qua khảo sát ý kiến chuyên gia, chủ doanh nghiệp và khán giả-khách hàng

Rất cần

Khơng cần

Cần thiết

thiết

thiết

Nội dung

 2tính

SL

%

SL

%

SL

%

I. Đối với truyền thông (n = 34):

Doanh nghiệp và người tiêu dùng TDTT có thể được tương

tác hai chiều qua truyền thông

Doang nghiệp và người tiêu dùng TDTT cùng được chia sẻ

thơng qua truyền thơng

Doang nghiệp TDTT có thể xử lí nhanh chóng ý kiến của

khách hàng thơng qua truyền thông

II. Đối với doanh nghiệp (n = 89):

Truyền thông thể thao là công cụ để lắng nghe, là công cụ

để phát triển doanh nghiệp và thâm nhập thị trường.

Truyền thông thể thao là nguồn cảm hứng của khách hàng

khi mua dụng cụ TDTT.

Truyền thông thể thao giúp doanh nghiệp TDTT gần gũi

khách hàng.

III. Đối với khán giả-khách hàng (n=350):

Người tiêu thụ TDTT được biết đến thương hiệu thông qua

truyền thông

Người tiêu thụ TDTT muốn chia sẻ nhãn hiệu, thương hiệu

dụng cụ TDTT với bạn bè qua thông tin thu được từ truyền

thông

Người tiêu thụ TDTT coi yếu tố hấp dẫn của truyền thông

thể thao là đông lực thúc đẩy tiêu thụ dụng cụ TDTT



19



55.88



11



32.35



4



11.76



17



50



9



26.47



8



23.53



21



61.76



7



20.59



6



17.65



59



66.29



19



21.35



11



12.36



47



52.81



22



24.72



20



22.47



49



55.06



19



21.35



21



23.6



197



56.29



32



9.14



121



34.57



161



46



58



16.57



131



37.43



155



44.29



61



17.43



134



38.29



 2bảng



p



10.22



9.49



<0.05



86.47



18.47



<0.001



1042.83



18.47



<0.001



72

Như vậy qua kết quả khảo sát ở bảng 3.19, cho thấy có sự tương tác giữa

truyền thông, kinh doanh và tiêu thụ dụng cụ, trang phục TDTT.

3.1.4.6. Tư duy và các quan điểm của khán giả khi tiếp cận các chương

trình truyền hình thể thao và tiêu thụ sản phẩm thể thao.

Nghiên cứu về truyền hình là nghiên cứu về lĩnh vực xã hơi – nhân văn, vì

vậy khơng ít luận án tiến sĩ về truyền hình chỉ đăng nguyên văn tư duy, quan

điểm của các chuyên gia hoặc các khán giả được phỏng vấn, sau đó rút ra những

vấn đề cần quan tâm để hoàn thành luận án (Tham khảo luận án tiến sĩ báo chí

của Bùi Chí Trung, năm 2011 với đề tài: “Nghiên cứu xu hướng phát triển của

truyền hình từ góc đô kinh tế học truyền thông” [63]. Chúng tôi ứng dụng

phương pháp này để đưa ra nguyên văn bản trả lời các câu hỏi phỏng vấn khán

giả (khán giả lớn tuổi, khán giả đang làm việc, khán giả trẻ tuổi) để thấy rõ tư

duy và các quan điểm của họ khi xem các chương trình truyền hình và tiêu dùng,

tiêu thụ sản phẩm thể thao phục vụ luyện tập và đáp ứng các nhu cầu khác.

Tuy nhiên các văn bản trả lời phỏng vấn của khán giả truyền hình đều trả

lời theo các nôi dung gợi ý như sau (Dẫn chứng khán giả đại diện cho mỗi nhóm

đối tượng):

1. Họ và tên

2. Nơi cư trú

3. Ơng bà (anh chị) thích xem chương trình truyền hình nào nhất? Vì sao?

4. Thời gian xem truyền hình hàng ngày của ơng bà (anh chị) là bao nhiêu

giờ? Vào ban ngày hay buổi tối?

5. Ơng bà (anh chị) có hâm mơ chương trình truyền hình thể dục thể thao

hay khơng? Hâm mơ ở mức đơ nào? Vì sao?

6. Ơng bà (anh chị) thường xem tường thuật bóng đá ở nhà hay ở đâu?

7. Ơng bà (anh chị) thấy chương trình truyền hình thể dục thể thao có

khuyến khích tiêu dùng trang phục, dụng cụ thể dục thể thao hay khơng? Vì sao?

8. Ơng bà (anh chị) mong muốn chương trình truyền hình thể dục thể thao

cải tiến thế nào?

Dưới đây xin trình bày một số ý kiến trả lời phỏng vấn của các khán giả.



73

Khán giả là nam giới 67 tuổi

Cư trú tại:



Quận Ngũ Hành Sơn



Tơi thích xem thời sự, tin tức chính trị - xã hơi – kinh tế trong và ngồi

nước. Ngồi ra tơi cũng thích theo dõi các vấn đề về ngoại giao giữa các nước,

thích xem mơt số phim truyền hình nhiều tập về tình cảm của trong và ngồi

nước, thỉnh thoảng thích xem chương trình biểu diễn ca nhạc ở Việt Nam.

Do sức khỏe của tơi có hạn chế hơn trước, vì vậy tơi chỉ thích xem các

chương trình truyền hình nhẹ nhàng nêu trên, khơng thích xem các chương trình

gây căng thẳng.

Ở nhà tơi chỉ có mơt cái tivi, vì vậy tơi thường xem tivi vào ban ngày. Tơi

khơng hâm mơ chương trình truyền hình thể dục thể thao, mặc dù có tập thể dục

hàng ngày. Chương trình thể dục thể thao ít giúp tơi giải trí, dễ gây căng thẳng

Tơi chưa bao giờ xem tường thuật bóng đá, vì khơng thích.

Tơi nghĩ chương trình thể dục thể thao giúp cho nhiều người thích thể dục

thể thao, vì vậy cũng phần nào giúp họ thích mua trang phục, dụng cụ thể dục

thể thao để tập luyện. Tơi có tập thể dục, vì vậy có mua giầy ba-ta, quần sooc và

áo thun để tập luyện, mặc dù rất ít để ý tới chương trình truyền hình thể dục thể

thao. Tơi muốn các chương trình truyền hình được phong phú hơn.

Khán giả 59 tuổi nữ giới ngụ tại Quận Hải Châu

Tơi thích xem thời sự, mơt số chương trình liên quan đến phụ nữ, ca nhạc

Việt Nam, môt số phim truyện. Tơi ít xem truyền hình vì đa số thời gian giành

cho việc gia đình. Tơi chỉ thỉnh thoảng xem chương trình truyền hình thể dục thể

thao liên quan đến phụ nữ. Tơi ít khi xem thi đấu thể thao trừ những trận bóng

đá của đơi tuyển Việt Nam vì khi đó cả nhà đều cùng xem.

Tơi khơng rõ chương trình truyền hình thể dục thể thao có giúp người ta

tăng cường mua trang phục, dụng cụ thể dục thể thao hay khơng. Riêng tơi có

tập thể dục dưỡng sinh vào buổi sáng, vì vậy chỉ mua giầy tập, quần áo đồng

phục theo câu lạc bô dưỡng sinh.



74

Tôi không rõ về kỹ thuật truyền hình nên khơng thể đưa ra ý kiến mong

muốn cải tiến chương trình truyền hình.

Khán giả là nam giới hiện đang sinh sống tại Quận Cẩm Lệ 34 tuổi

Tơi giành nhiều thời gian xem truyền hình. Tơi thích xem các chương

trình truyền hình văn nghệ, thể thao, các chương trình giải trí, tìm hiểu về nước

ngồi. Sở dĩ tơi thích các chương trình truyền hình này vì đầu óc được thanh

thản. Tơi thường xem khoảng 3 – 4 giờ hàng ngày vào buổi tối. Vào ngày nghỉ

có thể xem nhiều thời gian hơn. Tất nhiên tơi có hâm mơ chương trình truyền

hình thể dục thể thao, vì tơi thích mơt số mơn thể thao, và đặc biệt thích xem

tường thuật bóng đá giải ngoại hạng Anh, các trận đấu của đơi tuyển Việt Nam

Chương trình truyền hình thể dục thể thao giúp tơi u thích thể thao hơn,

vì vậy chắc nhiều khán giả cũng được khích lệ tập thể dục thể thao và mua trang

phục, dụng cụ thể dục thể thao có liên quan để tập.

Tơi mong muốn chương trình truyền hình thể dục thể thao phong phú hơn

thời lượng phát sóng nhiều hơn, và nên có kèm theo quảng cáo những doanh

nghiệp, cửa hàng bán trang phục, dụng cụ thể dục thể thao uy tín, đáng tin cậy.

Khán giả là nam giới 29 tuổi hiện đang sống tại Quận Liên Chiểu

Tơi thích xem các chương trình tin tức thời sự, và đặc biệt thích xem

tường thuật bóng đá, bóng rổ, tennis, vì tơi thích những môn thể thao này. Thi

đấu các môn này gay cấn, có vẻ đẹp riêng. Thỉnh thoảng tơi cũng xem phim trên

truyền hình, nhưng chỉ thích xem mơt số phim hành đơng của nước ngồi.

Tơi thường xem truyền hình vào buổi tối và các ngày nghỉ. Thời gian xem

nhiều hay ít tùy thc vào sự rảnh rỗi của mình.

Tơi thấy chương trình truyền hình thể dục thể thao rất bổ ích, đài truyền

hình nào cũng có. Chương trình truyền hình thể dục thể thao giúp cho con người

thích xem và thích hoạt đông thể dục thể thao hơn. Tôi thường chơi tennis, vì

vậy rất thích xem thi đấu tennis. Tơi thường mua quần áo, giày tập tennis, vợt

tennis, dây căng vợt và môt số sản phẩm khác phục vụ cho tập tennis. Rõ ràng



75

truyền hình thể dục thể thao có thúc đẩy tôi mua trang phục, dụng cụ thể dục thể

thao. Tôi biết đến các cửa hàng bán dụng cụ thể thao tại Đà Nẵng thông qua việc

quảng cáo trên truyền hình.

Tơi mong chương trình truyền hình thể dục thể thao tường thuật nhiều

hơn nữa các trận thi đấu tennis và bóng đá quốc tế.

Khán giả nữ 29 tuổi hiện đang làm việc tại ngân hàng ở Quận Thanh Khê

Tôi là nữ, nhưng rất thích xem chương trình truyền hình thể dục thể thao,

nghệ thuật, trang phục, làm đẹp cơ thể. Mơt số bạn của tơi cũng thích xem

những chương trình truyền hình này, bởi vì vừa được giải trí, thanh thản đầu óc,

vừa học hỏi thêm được những tri thức, kỹ năng làm đẹp cho chính mình.

Tơi thường xem truyền hình vào giờ nhàn rỗi vào buổi tối mn.

Tơi thích xem những vận đông viên nữ thi đấu ở các giải bóng chuyền

trong nước, giải tennis quốc tế. Tơi nghĩ truyền hình thể dục thể thao gây nên sự

hứng thú với thể dục thể thao cho mọi người, vì vậy chắc chắn khuyến khích

mọi người mua trang phục, dụng cụ thể dục thể thao để tập luyện. Riêng tôi,

trang phục thể thao đẹp, tôi cũng mua để mặc hàng ngày hoặc vào dịp đi du lịch,

picnic. Tôi biết đến các cửa hàng bán dụng cụ thể thao thông qua việc thơng tin

trên truyền hình.

Tất nhiên, tơi muốn chương trình truyền hình thể dục thể thao được phát

sóng nhiều hơn.

Qua phỏng vấn mơt số khán giả xem truyền hình, ta có thể nhận xét như

sau:

Tất cả người được phỏng vấn đều thích xem truyền hình thể thao.

Mỗi buổi tối, mỗi người đều chọn cho mình mơt số ít chương trình truyền

hình thể thao ưa thích để xem.

Các nơi dung chương trình tin tức truyền hình thể thao được người cao

tuổi thích xem hơn người trẻ tuổi.

Các nơi dung chương trình truyền hình thể thao về thi đấu được hầu hết



76

người đang làm việc và những người trẻ tuổi thích xem.

Thời gian xem truyền hình có sự khác biệt ở mỗi đối tượng người.

Phân tích SWOT về truyền hình thể thao và tiêu thụ dụng cụ, trang

phục thể thao của Thành phố Đà Nẵng

Điểm mạnh (Strengths):



Điểm yếu (Weaknesses):



S1. Truyền hình đã phản ánh kịp thời,



W1. Thời lượng phát các Chương trình



nhanh chóng tất cả các sự kiện trên địa



thể thao của Đài truyền hình Đà Nẵng



bàn, định hướng dư luận, tạo sự đồng



(DRT); còn hạn hẹp so với các đài



thuận cao trong xã hơi, góp phần tích



truyền hình khác;



cực vào cơng cc xây dựng và phát



W2. Các doanh nghiệp Đà Nẵng lựa



triển thành phố trong những năm qua;



chọn để hợp đồng phát sóng quảng bá



S2. Truyền hình đã triển khai đồng bơ hình ảnh, sản phẩm chủ yếu là các bảng

nhiều giải pháp để đổi mới, nâng cao tin kèm hình ảnh tĩnh đăng ở mục

chất lượng chương trình theo đúng tơn thơng tin, quảng cáo đan xem giữa các

chỉ mục đích, phong phú về nơi dung, chương trình truyền hình. Chưa có

sinh đơng về hình thức thể hiện, tăng chương trình quảng cáo chuyên biệt;

nhanh các chương trình giao lưu, W3. Phần lớn tivi tại Đà Nẵng là chủng

truyền hình trực tiếp;



loại tivi không hỗ trợ kết nối internet và



S3. Truyền hình thể thao phủ sóng trên truyền hình kỹ thuật số mặt đất chỉ có

địa bàn Tp. Đà Nẵng đã có đổi mới về 19% số lượng tivi có trang bị kết nối

nôi dung, cơ sở vật chất, công nghệ internet và có 5% số hơ được đang sử

hiện đại. Căn bản đáp ứng nhu cầu thụ dụng tivi cho mục đích kinh doanh;

hưởng của cơng chúng;



W4. Với tổng số cơ sở kinh doanh



S4. Sự chuyển biến tích cực về nhận dụng cụ thể thao, doanh thu, vốn điều

thức của các cấp ủy đảng, chính quyền lệ, nơp ngân sách và bình qn tiêu thụ

địa phương về vai trò của thể dục, thể dụng cụ thể thao trên đầu người của

thao trong sự nghiệp đào tạo và phát môt môt thành phố tiềm năng như Đà

huy nhân tố con người;



Nẵng, thì con số này còn rất khiêm tốn;



S5. Phong trào “Toàn dân rèn luyện W5. Mức tiêu thụ dụng cụ TDTT mới



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

của người trẻ tuổi trên địa bàn các quân nội đô Tp. Đà Nẵng (n = 120 )

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×