Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Các yếu tố bên trong:

Các yếu tố bên trong:

Tải bản đầy đủ - 0trang

112

trực tiếp tới hoạt đông kinh doanh của doanh nghiệp. Vốn trong doanh nghiệp

được hình thành từ 3 nguồn chính: Vốn tự có, vốn ngân sách nhà nước cấp và vốn

vay: được phân bổ dưới hai hình thức là vốn cố định và vốn lưu đông. Tuỳ đặc

điểm của từng doanh nghiệp, doanh nghiệp nhà nước thì vốn ngân sách nhà nước

cấp là chủ yếu, doanh nghiệp tư nhân vốn chủ sở hữu và vốn vay là chủ yếu.

Con người là nhân tố quyết định cho mọi hoạt đông trong doanh nghiệp.

Trong thời đại ngày nay, hàm lượng chất xám sản phẩm ngày càng cao thì trình

đơ chun mơn của người lao đơng có ảnh hưởng rất lớn tới kết quả hoạt đông

của doanh nghiệp. Trong nhân tố con người trình đơ chun mơn có ý nghĩa

quyết định tới hiệu quả sản xuất kinh doanh. Điều đó đòi hỏi doanh nghiệp phải

có kế hoạch tỉ mỉ từ khâu tuyển dụng tới việc đào tạo bồi dưỡng, nâng cao trình

đơ chun môn cho người lao đông, nhất là đôi ngũ các cán bô quản lý.

Kỹ thuật và công nghệ là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp tới mọi hoạt đông

sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp nào áp dụng kỹ thuật và

cơng nghệ tiên tiến, doanh nghiệp đó sẽ có lợi thế cạnh tranh.

Chất lượng của chiến lược kinh doanh là nhân tố đầu tiên và quan trọng

nhất quyết định sự thành công hay thất bại của môt doanh nghiệp.

Thơng tin được coi là mơt hàng hố, là đối tượng kinh doanh và nền kinh

tế thị trường hiện nay được coi là nền kinh tế thơng tin hố. Để đạt được thành

công khi kinh doanh trong điều kiện cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt, các

doanh nghiệp cần nhiều thơng tin chính xác về cung cầu thị trường hàng hố, về

cơng nghệ kỹ thuật, về người mua, về các đối thủ cạnh tranh… Ngồi ra, doanh

nghiệp còn rất cần đến các thông tin về kinh nghiệm thành công hay thất bại

của các doanh nghiệp khác ở trong nước và quốc tế, cần biết các thông tin về các

thay đổi trong các chính sách kinh tế của Nhà nước và các nước khác có liên

quan.

Trong kinh doanh biết mình, biết người và nhất là hiểu rõ được các đối



113

thủ cạnh tranh thì mới có đối sách giành thắng lợi trong cạnh tranh, có chính

sách phát triển mối quan hệ hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau. Kinh nghiệm thành công

của nhiều doanh nghiệp nắm được các thông tin cần thiết và biết sử lý sử dụng

các thơng tin đó kịp thời là môt điều kiện quan trọng để ra các quyết định kinh

doanh có hiệu quả cao. Những thơng tin chính xác được cung cấp kịp thời sẽ là

cơ sở vững chắc để doanh nghiệp xác định phương hướng kinh doanh, xây dựng

chiến lược kinh doanh dài hạn [28].

-Sự tương tác truyền thông và marketing thể thao:

U23 Vietnam Asian Cup đã khép lại với niềm tự hào và sự tự tin của

người hâm mơ Việt Nam đối với bóng đá nước nhà. Mơt thành tích vượt qua

mọi dự đốn và chất lượng chuyên môn của đôi tuyển, cũng đủ lớn để bảo đảm

cho môt vài giấc mơ ở những giải đấu tiếp theo. Tuy nhiên, tạm gác chuyên môn

thể thao để nhìn lại các xu hướng hiện đại về Marketing và truyền hình với thể

thao của thế giới đã vơ hình được thể hiện trong sự kiện vừa qua, như thực

chứng cho sự thay đổi mạnh mẽ trong ngành mà các marketer cần hiểu rõ để

nắm bắt các cơ hôi sinh ra từ bối cảnh mới này.

Sự kiện của Á quân U23 Việt Nam. Có lẽ chưa lúc nào thể thao Việt Nam

chứng kiến môt cơn địa chấn lớn như vậy. Sự kiện đôi tuyển Việt Nam bất ngờ

đoạt ngôi Á quân giải đấu cao nhất châu lục dành cho đô tuổi U23 đã hôi tụ đủ

các yếu tố tuyệt vời của môt sự kiện Marketing thể thao đúng nghĩa. Đó là qui

mơ tác đơng của sự kiện, sự hào hứng của khán giả, câu chuyện gay cấn từ

những diễn biến chun mơn và tính bất ngờ được duy trì. Nếu như với những

người làm bóng đá Việt Nam, đây là sự kiện mang tính bước ngoặt thì đối với

những người làm Marketing, kinh doanh và làm truyền hình thì đây là mơt bài

học mới mẻ nhưng đầy phấn khích dành chuẩn bị cho tương lai.

Điều được trông thấy rõ, đây là sự kiện có nhiều cái đầu tiên đã diễn ra,

đó là sự bùng nổ các hoạt đơng Marketing ăn theo chỉ trong môt đêm trong mọi



114

lĩnh vực, các cổ đông viên truyền tay nhau các tài khoản mạng xã hơi Live

Stream trận bóng thay vì các trang Web truyền thống, đó là VTV mở kênh tường

thuật lễ đón tuyển thủ trên Facebook, hay tranh cãi về cách thức tạo lan tỏa

truyền thơng, cùng hình ảnh tuyển thủ trên chuyến bay của môt hãng hàng

không giá rẻ. Và đây cũng là lần đầu mơt loạt cầu thủ có đại diện truyền thơng

lập kịch bản "thả thính" mơt cách bài bản, rồi khi vừa xuống sân bay đã có ngay

bản đơn giá khai thác thương hiệu tới cả trăm ngàn USD chờ ký.

Tất cả những "sơi đơng" ấy, có thể được nhìn nhận dưới cả hai góc đơ, sự

phát triển về mức đô (thành công trên sân cỏ cũng như năng lực phản xạ từ giới

kinh doanh) và sự thay đổi trong phương thức tương tác truyền thông với người

hâm mơ. Còn nhìn nhận dưới xu hướng truyền thơng thể thao toàn cầu, rõ ràng

đây là những hướng đi bắt buôc trong cuôc chơi chung. Thể thao giờ đây dù chỉ

xét riêng ở khía cạnh tiềm năng, nơi bạn có thể tiếp cận được số lượng người

cực lớn, thì nó vẫn cung cấp môt vài khoảnh khắc ý nghĩa mà truyền hình trực

tiếp dù cho có kỹ thuật phát lại cũng không thể nào làm được. Mặc cho sự đa

dạng các kênh thức truyền thông trong thế kỷ 21, khoảng mơt nửa dân số tồn

cầu, đã tập trung trở lại vào "ti vi truyền thống" trong sự kiện Olympics 2016 tại

Rio, theo Hơi đồng Olympic quốc tế (IOC).

Dù vậy, có quá nhiều thay đổi trong hành vi người tiêu dùng, được dẫn dắt

rơng rãi bởi các bước tiến nhanh chóng của công nghệ, cách thức tiếp thị thể

thao cũng cần phải thay đổi mơt cách sắc nét.

Các tóm lược dưới đây là những xu hướng chính mà người làm Marketing

cũng như các công ty truyền thông phải chạm tới nhằm dành chiến thắng trong

bối cảnh Marketing trong thể thao ngày nay. Tiếp đó là nhận diện thách thức cốt

lõi cần được giải quyết để khai thác tối đa các cơ hơi có được.

Marketing thể thao đang chuyển đổi sang các nền tảng mới và khác: Mơt

nhân tố chính của sự thay đổi là cách thức người tiêu dùng, cụ thể là dưới góc



115

nhìn của người trẻ, đang xem thể thao ngày nay. Khuôn mẫu cũ từ xưa là các

khán giả quần tụ xung quanh môt chiếc TV, tạo ra môt sự kiện gia đình ở mơt

địa điểm cố định. Nhưng số lượng khán giả truyền thống ấy đang ngày càng suy

giảm, trong khi cách theo dõi truyền hình đã phát triển ở những hướng khác. Đó

là vai trò mới của điện thoại di đông, thiết bị thực tế ảo hay nhiều phương tiện

kỹ thuật số khác.

Đóng vai trò nổi bật trong sự thay đổi cc chơi chính là sự tăng vọt của

truyền hình xã hơi (Social Broadcasting). Cả Twitter và Facebook đều đang

thúc đẩy tính năng trực tiếp ("Live") của mình, điểm đến đầu tiên của các cổ

đơng viên, đặc biệt là người trẻ, để theo dõi các cuôc thi đấu trực tuyến hiện

nay. Twitter gần đây đã ra thông cáo rằng thể thao là mơt trong những phân

khúc chính mà họ lập kế hoạch để phát triển trên mặt trận truyền hình trực tiếp.

Trong khi đó, YouTube Live vừa đạt được thỏa thuận về tường thuật trực tiếp

các trận chung kết của UEFA Champion League như là môt đối tác của kênh

thể thao BT Sport.

Các nhà sản xuất truyền hình sẽ tìm kiếm những phương thức để hiện đại

hóa sản phẩm của họ, nhằm để duy trì tính thương mại và cả để thích nghi nhằm

tăng trưởng số lượng người hâm mơ thể thao trẻ tuổi vốn ưa thích xem thể thao

trực tuyến.

Nhiều chuyên gia dự đoán rằng địa hạt tiếp theo cho các cơng ty truyền

hình xã hơi đó là những khoản thanh tốn nhỏ để mua vé theo dõi hay các

chuyến du lịch được khuyến mãi để tham gia theo dõi các trận đấu trực tuyến

hay trực tiếp. Bên cạnh đó, mơt lĩnh vực khác cũng có thể phát triển trong tương

lai gần đó là các mơn thể thao có thể tự tạo nên những nền tảng cho riêng mình.

Đây là lựa chọn đặc biệt hấp dẫn đối với những môn thể thao nhỏ, vốn không

nhận được nhiều ưu tiên từ các cơng ty truyền hình truyền thống.

Ngay cả các công ty thuần chất kỹ thuật số cũng vẫn phải dựa vào sự tiếp



116

cận và sức mạnh của ti vi để phát tán thông điệp và các dịch vụ của họ. Rồi đây

chúng ta sẽ thấy những thay đổi theo cấp số nhân khi các thương hiệu, chủ sở

hữu và các liên đoàn tự xây dựng khán giả của chính họ. Tuy vậy, mơt số chun

gia vẫn nhấn mạnh vai trò thống trị của ti vi truyền thống. Ngay cả các công ty

thuần chất kỹ thuật số cũng vẫn phải dựa vào sự tiếp cận và sức mạnh của ti vi

để phát tán thông điệp và các dịch vụ của họ.

Người hâm mộ thể thao đòi hỏi nhiều sự gần gũi và trải nghiệm sâu sắc

hơn bao giờ hết: Thực sự rằng thể thao đã chuyển từ mơt loại hình thưởng thức

thụ đơng thành sự tham gia của những khán giả chủ đông. Điều này tạo nên cơn

địa chấn mạnh mẽ trong hoạt đông Marketing. Những người hâm mô ngày nay

muốn gần hơn với các diễn biến thi đấu, với các vận đông viên, với các số liệu

thống kê và những góc máy Camera sống đơng nhất. Họ muốn có cái nhìn của

người trong cc. Do đó, việc tạo ra các nôi dung đôc nhất, quyến rũ và đôc

quyền đã trở thành ưu tiên của những người làm Marketing.

Tài trợ thể thao là mơt hình thức mang lại cho thương hiệu những lý do

đáng tin cậy để tham gia và làm chủ các cuôc trao đổi, cho phép nó tạo nên

những nơi dung thú vị nhờ sự tiếp cận các vận đông viên, nhà quản lý và các

cảnh hậu trường. Thứ khiến khiến người hâm mô cảm thấy gần gũi hơn với

những ngôi sao thể thao là môt sức mạnh tiềm tàng. Đặc biệt, đối với thế hệ trẻ những người đang trưởng thành trong bối cảnh truyền thông xã hôi lên ngôi. Họ

mong muốn sự chân thực và những tương tác không dàn dựng với các vận đông

viên. Xu hướng này tạo ra nhiều cơ hôi lớn để việc Marketing thực sự hấp dẫn

và sáng tạo, làm sâu sắc thêm mối quan hệ với khách hàng thay vì chỉ là mơt bài

tập vẽ Logo mà trước kia từng làm.

Tiếp thị thể thao đang chuyển nhiều hơn sang phong cách sống và hướng

giải trí: Được thúc đẩy bởi việc người hâm mô mong muốn biết thêm về các anh

hùng thể thao của họ, vận đông viên sẽ ngày càng trở nên nổi tiếng. Và điều này



117

mang đến kỳ vọng rằng họ cư xử giống như những ngôi sao ca nhạc hay diễn

viên và những ngày hôi thể thao sẽ có xu hướng bắt chước các sự kiện giải trí.

Thực tế thì có vẻ như các vận đơng viên đã chuẩn bị để chơi trò chơi tài

trợ mới này, với rất nhiều người hào hứng đăng tải các câu chuyện về chế đô đào

tạo hoặc việc chuẩn bị trước trận đấu trên các tài khoản mạng xã hôi. Bên cạnh

đó là những bình luận chia sẻ cảm xúc, hình ảnh và các chi tiết cá nhân trong

cc sống riêng.

Các thương hiệu thể thao cũng khéo léo hòa nhập thể thao, lối sống, thời

trang và thế giới âm nhạc lại với nhau. Mở rơng thị trường thơng qua tính giải trí

đến những hâm mơ thơng thường giúp cho thể thao trở thành môt kênh

Marketing hiệu quả hơn. Như những gì trải qua trong thời gian khủng hoảng

kinh tế gần đây, con người đã phải tìm kiếm những cách thức để thốt khỏi khó

khăn và tìm kiếm sự an ủi trong niềm đam mê của bản thân. Chuyển biến tâm lý

này mang lại nhu cầu có thực về sự nâng đỡ tinh thần bằng cả niềm vui nhất thời

và duy trì đơng lực lâu dài trong thể thao [1], [19], [28].

Văn hóa Marketing thể thao đang ngày càng trở nên phổ biến: Ý tưởng

cho rằng thể thao là thế giới của đàn ơng đã lỗi thời như chính quan niệm vị trí

của phụ nữ là trong căn bếp. Thể thao đang ở vị trí tiên phong trong việc thách

thức các vai trò giới tính. Các thương hiệu khác đang chiến đấu với những chiến

dịch tương tự trong Marketing thể thao bằng cách thúc đẩy sự đa dạng. Sẽ có

nhiều điều mới mẻ và các đối tác sáng tạo, thông qua đó chúng ta sẽ thấy thương

hiệu được bồi đắp và cơng khai đối phó với những chủ đề cấm như tính dục,

phân biệt giới tính và tình trạng tàn tật, đồng thời mở rông phạm vi tiếp cận

khán giả bằng việc đặt thương hiệu vào trong tất cả các khía cạnh của văn hoá

đại chúng [67], [76], [88], [89].



Kết luận chương 3.

Kết quả khảo sát thực trạng các chương trình thể thao (các kênh truyền



118

hình đại chúng), cho thấy: Thời lượng phát các Chương trình thể thao trong 1

tuần của Đài truyền hình Việt Nam (VTV) là 1.015 phút/tuần, chiếm tỷ trọng

hơn nửa thời lượng phát sóng của cả 3 đài (51.01%); Tiếp đến là Đài truyền hình

Tp. Hồ Chí Minh (HTV) với thời lượng phát sóng là 855 phút/tuần (42.96%) và

thấp nhất là Đài truyền hình Đà Nẵng (DRT), chỉ có 120 phút tuần (6.03%).

Khảo sát thực trạng tiếp cận các chương trình truyền hình thể thao của cơng

chúng trên địa bàn các quận nôi đô Tp. Đà Nẵng, cho thấy: Bình quân tần suất

tiếp cận các chương trình truyền hình thể thao: Đối với khán giả người lớn tuổi

là 3.78 lần/tuần; Đối với khán giả đang làm việc 4.27 lần/tuần; Đối với khán giả

trẻ tuổi 5.0 lần/tuần.

Trên địa bàn các quận nôi đô Thành phố Đà Nẵng hiện có có 89 cơ sở

kinh doanh dụng cụ thể thao. Tổng doanh thu cả năm là 250.490 triệu đồng. Với

số dân của 8 quận nôi đô Thành phố Đà nẵng năm 2015 là 896.189 người, thì

mức tiêu thụ dụng cụ TDTT mới đạt bình quân 300 ngàn đồng/1 người dân. Nếu

so với thu nhập bình quân đầu người dân của các quận nơi đơ khoảng 45 triệu

đồng năm, thì tiêu thụ dụng cụ TDTT chưa đạt 0,07/người dân.

Với tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) của Tp. Đà Nẵng năm 2015 là 63

ngàn 189 tỷ đồng, thì số nơp ngân sách 4 tỷ 891 triệu đồng từ kinh doanh dụng

cụ thể thao mới đạt 0,0724%

Trên cơ sở tuân thủ 4 nguyên tắc (Nguyên tắc đảm bảo tính pháp lý;

Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn; Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi và Nguyên

tắc đảm bảo hiệu quả) và lô trình 03 bước (Tổng hợp ý kiến tư vấn của chun

gia; Kiểm định đơ tin cậy và Kiểm định tính cấp thiết, tính khả thi và tương

quan thứ bậc của các giải pháp) môt cách chặt chẽ, khoa học, đề tài đã lựa chọn,

đề xuất được 2 nhóm giải pháp với 4 giải pháp ở mỗi nhóm nhằm phát triển

truyền hình thể thao và kinh doanh trang phục, dụng cụ TDTT trong địa bàn các

quận nôi đô Thành phố Đà Nẵng, đó là: Nhóm giải pháp 1: Phát triển truyền



119

hình thể thao hỗ trợ tăng tiêu dùng, tiêu thụ TDTT gồm 04 giải pháp: Làm

phong phú nơi dung chương trình truyền hình thể thao; Tăng thời lượng truyền

hình thể thao; Tăng cường tương tác hình ảnh thể thao và Mở rơng đơ phủ sóng

truyền hình thể thao; và Nhóm giải pháp 2: Tiếp thị quảng cáo hàng hố thể thao

thơng qua các chương trình truyền hình thể thao gồm 04 giải pháp: Thơng qua

thương hiệu, nhãn hiệu hàng hố thể thao; Thông qua sự khác biệt của sản

phẩm; Thông qua chất lượng, mẫu mã, giá cả và Thông qua giải thưởng, khuyến

mại, hậu mãi.

Kiểm chứng hiệu quả các giải pháp phát triển truyền hình thể thao và

quảng cáo, tiếp thị hàng hố thể thao trên truyền hình:

Tính riêng tăng trưởng Chương trình phát sóng thể thao của Đài Phát

thanh-Truyền hình Đà Nẵng (DRT): Số giờ trung bình phát hình về thể thao

trong 1 tuần: tăng 5 giờ (4.17%); Thời gian phát hình phát hình thể thao kèm

quảng cáo trong 1 tuần: tăng 2 giờ (28.57%); Số chương trình sự kiện thể thao

được tổ chức: tăng 4 chương trình (17.39%); Số nhân vật thể thao được phỏng

vấn trên truyền hình: tăng 4 người (26.67%); Số đơn vị điển hình về TDTT được

làm phóng sự tăng 3 đơn vị (60.0%); Doanh thu từ quảng cáo trong 1 năm: tăng

39 triệu đồng (27.86%).

Tăng trưởng doanh thu của các cơ sở kinh doanh dụng cụ thể thao trên địa

bàn nôi đô Tp. Đà Nẵng: Hô kinh doanh cá thể: tăng 4.777 triệu đồng; Doanh

nghiệp siêu nhỏ: tăng 957 triệu đồng; Doanh nghiệp nhỏ: tăng 14.537 triệu

đồng; Doanh nghiệp vừa: tăng 1.650 triệu đồng; Doanh nghiệp lớn: giảm 2.908

triệu đồng. Tổng công tăng trưởng doanh thu năm 2016 tăng: 18.993 triệu đồng

(7,58%).

Tăng trưởng nôp ngân sách của các cơ sở kinh doanh dụng cụ thể thao

trên địa bàn các quận nôi đô Tp. Đà Nẵng: Hô kinh doanh cá thể: tăng 680 triệu

đồng (54,18%); Doanh nghiệp siêu nhỏ: tăng 12 triệu đồng (15,38%); Doanh



120

nghiệp nhỏ: tăng 188 triệu đồng (20,86%); Doanh nghiệp vừa: tăng 22 triệu

đồng (8.0%); Doanh nghiệp lớn: giảm 82 triệu đồng (-3,44%%). Tổng công tăng

trưởng nôp ngân sách năm 2016 tăng: 820 triệu đồng (16,76%).

Như vậy, với những sự kiện thể thao lớn năm 2016 được tổ chức tại Đà

Nẵng, sự tăng thời lượng các nơi dung, chương trình thể thao, tăng quảng cáo

TDTT trên truyền hình, đã tiếp cận khán giả, tiếp cận khách hàng, góp phần tăng

trưởng tiêu thụ trang phục, dụng cụ TDTT, phản ánh tăng trưởng tập luyện

TDTT của cư dân Đà Nẵng.



121



KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

A. KẾT LUẬN:

1. Thực trạng các chương trình truyền hình thể thao trên địa bàn Thành

phố Đà Nẵng, cho thấy: Thời lượng phát các Chương trình thể thao trong 1 tuần

của VTV là 1.015 phút/tuần; Tiếp đến là HTV là 855 phút/tuần và thấp nhất là

DRT chỉ có 120 phút/tuần. Tần suất tiếp cận các chương trình truyền hình thể

thao: Đối với khán giả người lớn tuổi là 3.78 lần/tuần; người đang làm việc 4.27

lần/tuần; người trẻ tuổi 5.0 lần/tuần. Tại Tp. Đà Nẵng tỉ lệ sở hữu tivi trung bình

của các hô dân là 1,5 cái/hô với thời gian xem tivi trung bình của các hơ dân là

4,8 giờ/ngày thường và 5,4 giờ/ngày thứ 7 và chủ nhật. Kênh truyền hình được

các hơ dân u thích và thường xun theo dõi là các kênh sóng của VTV, HTV

và DRT với tỉ lệ đạt từ 40% trở lên.

Về kinh doanh trang phục, dụng cụ thể thao: Trên địa bàn các nôi đô

Thành phố Đà Nẵng hiện có có 89 cơ sở. Tổng doanh thu cả năm 2015, là 312

tỷ đồng (làm tròn), chỉ chiếm gần 0,0001 (môt phần vạn) so với tổng mức bán lẻ

ngành hàng thương mại của toàn Thành phố. Với số dân của 8 quận nôi đô

Thành phố Đà nẵng năm 2015 là 915.000 người, thì mức tiêu thụ dụng cụ TDTT

mới đạt bình quân hơn 300 ngàn đồng/1 người dân. Số nôp ngân sách 3 tỷ 940

đồng từ kinh doanh dụng cụ thể thao mới đạt chưa tới 0,0001 (môt phần vạn).

2. Đã lựa chọn, đề xuất được 2 nhóm giải pháp với 4 giải pháp ở mỗi

nhóm để phát triển truyền hình thể thao và tiêu thụ trang phục, dụng cụ TDTT

trong địa bàn các quận nôi đơ Tp. Đà Nẵng, đó là: Nhóm giải pháp 1: Phát triển

truyền hình thể thao hỗ trợ tăng tiêu dùng, tiêu thụ TDTT gồm 04 giải pháp:

Làm phong phú nôi dung chương trình truyền hình thể thao; Tăng thời lượng

truyền hình thể thao; Tăng cường tương tác hình ảnh thể thao và Mở rơng đơ

phủ sóng truyền hình thể thao; và Nhóm giải pháp 2: Tiếp thị quảng cáo hàng

hố thể thao thơng qua các chương trình truyền hình thể thao gồm 04 giải pháp:

Thông qua thương hiệu, nhãn hiệu hàng hố thể thao; Thơng qua sự khác biệt



122

của sản phẩm; Thông qua chất lượng, mẫu mã, giá cả và Thông qua giải thưởng,

khuyến mại, hậu mãi.

Kiểm chứng hiệu quả các giải pháp trên, cho thấy: Tăng trưởng về chương

trình phát sóng thể thao: Số giờ trung bình trong 1 tuần: tăng 5 giờ (4.17%);

Thời gian phát hình thể thao kèm quảng cáo trong 1 tuần: tăng 2 giờ (28.57%);

Số chương trình sự kiện thể thao: tăng 4 chương trình (17.39%); Số nhân vật

thể thao được phỏng vấn trên truyền hình: tăng 4 người (26.67%); Số đơn vị

điển hình về TDTT được làm phóng sự tăng 3 đơn vị (60.0%); Doanh thu từ

quảng cáo trong 1 năm: tăng 39 triệu đồng (27.86%). Tăng trưởng doanh thu của

các cơ sở kinh doanh dụng cụ thể thao trên địa bàn nôi đô Tp. Đà Nẵng là 18 tỷ

993 triệu đồng (6,08%). Tăng trưởng nôp ngân sách của các cơ sở kinh doanh

dụng cụ thể thao trên địa bàn các quận nôi đô Tp. Đà Nẵng là 891 triệu đồng

(15,9%). Điều đó có thể khẳng định tính hiệu quả cao của các giải pháp đã lựa

chọn.

B. KIẾN NGHỊ

1. Xác định khán giả yêu thích thể thao và tiêu thụ sản phẩm thể thao

chính là đối tượng thân thiết của truyền hình hiện đại, vì vậy việc quảng bá các

chương trình thể thao cần quan tâm và quảng bá rông rãi hơn nữa đến khán giảkhách hàng tiêu dùng, tiêu thụ TDTT.

2. Kiến nghị được tiếp cận nghiên cứu sâu hơn về sự tương tác của truyền

hình thể thao với tăng tiêu dùng thể thao, góp phần kích thích tập luyện TDTT

của cư dân trong các quận nôi đô Tp. Đà Nẵng./



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Các yếu tố bên trong:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×