Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ - 0trang

6

hình ảnh tĩnh như ảnh tư liệu, mơ hình, sơ đồ, biểu đồ, chữ viết Âm thanh

trong truyền hình bao gồm lời bình của phát thanh viên, lời nói của con người,

âm nhạc, tiếng đông và các âm thanh của hiện trường ghi hình. Truyền hình

đang sử dụng tổng hợp tất cả các loại phương tiện chuyển tải thông tin có trong

báo in, phát thanh và điện ảnh.

Truyền hình có sức hấp dẫn đặc biệt nhờ việc giao tiếp với con người

bằng cả thị giác và thính giác. "Sức mạnh của truyền hình tăng lên nhờ phạm vi

ảnh hưởng rơng rãi của nó. Những thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại đã tạo

ra khả năng cho truyền hình xâm nhập tới bất kỳ nơi nào trên trái đất" [14], [93].

Với hình ảnh đơng và âm thanh, truyền hình gần như đạt tới mức tuyệt đối về

phạm vi công chúng xã hôi. Bất cứ ai, dù là ngôn ngữ nào cũng có thể xem và

hiểu được những gì được thể hiện trên truyền hình, ngoại trừ những người bị hạn

chế về thị giác và thính giác. Do tính tổng hợp và chức năng đa dạng của mình

mà truyền hình được gọi là "rạp hát tại nhà, quảng trường công công, trường

học nhân dân, người hướng dẫn văn hoá đại chúng" [4], [31], [39].

Ở nước ta, sau hơn 30 năm ra đời, truyền hình được coi là mơt ngành

cơng nghiệp đã có những bước phát triển vượt bậc. Mặc dù là môt ngành công

nghiệp non trẻ, gặp những trở ngại về kinh tế, kỹ thuật, về không gian địa lý

trong sự phân bố dân cư nhưng đến năm 2005, trên 90% số hơ đã được xem

truyền hình hàng ngày với 4 chương trình chính, "Đài truyền hình Việt Nam

được coi là tờ báo hình lớn nhất đất nước" [59].

Chương trình truyền hình là sản phẩm lao đơng của mơt tập thể các nhà

báo, các cán bô và nhân viên kỹ thuật, dịch vụ, là q trình giao tiếp truyền

thơng giữa những người làm truyền hình với cơng chúng xã hơi rơng rãi [30].

Chương trình truyền hình là sự gặp nhau giữa nhu cầu, thị hiếu của cơng

chúng với mục đích và ý tưởng sáng tạo của những nhà truyền thông bằng

phương tiện truyền hình.

Mỗi chương trình truyền hình đều nhằm tác đông đến môt đối tượng phục



7

vụ nhất định [5], [6].

1.2. Vai trò, chức năng của truyền hình trong đời sống xã hội

1.2.1. Vai trò của truyền hình khi mới xuất hiện trên thế giới và ở Việt

Nam

Với vai trò là mơt tờ báo, khi mới xuất hiện, truyền hình chưa hề được để

ý tới. Truyền hình chưa bị coi là đối thủ cạnh tranh đáng kể so với các loại hình

báo chí khác, chỉ đến khi những kỹ thuật điện tử thế hệ mới ra đời, khiến cho

việc sản xuất chương trình truyền hình gọn nhẹ hơn, tiện lợi hơn, đáp ứng được

u cầu của cơng chúng thì vị trí của truyền hình trong hệ thống các phương

tiện thơng tin đại chúng mới nhanh chóng được khẳng định. Trung bình mỗi

ngày, công chúng trên thế giới giành 3 giờ 07' để xem truyền hình. Điều đó cho

thấy truyền hình là môt phương tiện truyền thông đại chúng quan trọng đối với

con người, nó khơng chỉ là phương tiện cung cấp thơng tin mà còn là phương

tiện giải trí rẻ, tiện lợi và hữu ích [63].

Ở Việt Nam, truyền hình ra đời khá muôn so với nhiều nước trên thế giới.

Ngày 7 tháng 9 năm 1970 được đánh giá là mốc ra đời của ngành truyền hình

Việt Nam. Tiềm năng của truyền hình rất lớn, tuy ra đời mn hơn so với báo in

và phát thanh nhưng truyền hình đã thực sự trở thành phương tiện truyền thông

đại chúng thu hút đơng đảo cơng chúng khán giả, trở thành món ăn tinh thần

không thể thiếu được trong đời sống xã hôi. Ngày nay, chiếc ti vi đã trở nên thân

thiết với mỗi người, mỗi gia đình trong xã hơi, là mơt phương tiện giải trí khơng

thể thay thế [63].

1.2.2. Chức năng của truyền hình trong mối liên hệ với cơng chúng

khán giả

Truyền hình là mơt trong những loại hình truyền thơng đại chúng, nó thực

hiện các chức năng chung của các phương tiện truyền thông đại chúng như sau :

Chức năng thông tin: Chức năng thông tin được thể hiện ở các chương

trình truyền hình, mọi vấn đề của các lĩnh vực trong đời sống xã hôi đều được



8

thông tin môt cách nhanh chóng, tức thời và đầy đủ nhất. Chức năng thơng tin

của truyền hình mang tính đặc trưng riêng biệt. Bằng những hình ảnh có màu

sắc kết hợp với âm thanh tạo nên các cung bậc, âm điệu đa dạng, truyền hình có

khả năng truyền đạt thơng tin tới người xem môt cách đầy đủ và chân thực nhất.

Đặc trưng của chức năng thơng tin truyền hình liên quan chặt chẽ với các

chương trình truyền hình và có tác đơng lớn tới việc sáng tạo tác phẩm truyền

hình. Chương trình Thời sự là chương trình mang đậm chức năng thơng tin.

Những thơng tin mà chương trình Thời sự mang lại cho khán giả những hiểu biết

kịp thời và tương đối đầy đủ về mọi lĩnh vực của đời sống xã hôi, đáp ứng được

nhu cầu nâng cao hiểu biết của khán giả truyền hình và đạt mục đích truyền đạt

thơng tin của người làm truyền hình [60], [71].

Chức năng văn hố - giáo dục: Bản thân hoạt đơng của các phương tiện

truyền thơng đại chúng nói chung và của truyền hình nói riêng là những hoạt

đơng văn hố. Bất kỳ mơt chương trình truyền hình nào cũng hướng tới mục đích

giáo dục cái chân - thiện - mỹ cho cơng chúng. Cho nên, truyền hình thực hiện

chức năng văn hố - giáo dục là điều tất yếu. Truyền hình thực hiện chức năng

này bằng cách thông qua các chương trình truyền hình, truyền hình xã hơi hố

các hiểu biết, kinh nghiệm sống, biến chúng từ cái riêng đơn nhất thành cái

chung phổ biến; nâng cao trình đơ tri thức cho xã hơi dưới hình thức các chun

mục về lĩnh vực khoa học cụ thể .

Chức năng văn hoá - giáo dục của truyền hình còn thể hiện ở việc giáo

dục lối sống cho công chúng, dẫn dắt, lôi kéo cơng chúng có lối sống tích cực,

định hướng những khuynh hướng lối sống cụ thể [38], [43], [90].

Chức năng tư tưởng: Truyền hình tác đơng vào ý thức xã hơi để hình

thành và củng cố hệ thống tư tưởng chính trị lãnh đạo xã hơi với mục đích định

hướng xã hơi. Truyền hình là phương tiện đặc biệt hữu hiệu trong việc giải quyết

các nhiệm vụ của công tác tư tưởng trên phạm vi tồn xã hơi cũng như trong

khn khổ từng công đồng và đối với từng thành viên xã hơi. Truyền hình thực



9

hiện chức năng tư tưởng thơng qua việc thơng tin nhanh chóng, kịp thời, chân

thực mọi mặt của đời sống xã hơi nhằm hình thành dư luận xã hơi lành mạnh,

mang tính tích cực. Đồng thời, trong q trình thơng tin, truyền hình còn định

hướng tư tưởng chính trị cho tồn xã hơi, giáo dục những tư tưởng chính trị đó

nhằm biến những thơng tin mà cơng chúng thu nhận thành những quan điểm, lập

trường chính trị xã hơi tích cực, tiến bơ [7], [51].

Báo chí nước ta được coi là công cụ sắc bén của Đảng, Nhà nước trong

việc tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, chính sách tới tồn nhân dân, bởi

vậy, truyền hình luôn phải làm tốt chức năng này [60].

Chức năng giám sát và quản lý xã hội: Với thế mạnh thông tin tác đơng

trực tiếp tới cơng chúng của mình, truyền hình hiện nay đang trở thành mơt

phương tiện truyền thơng đại chúng tham gia vào quá trình giám sát và quản lý

xã hôi đạt hiệu quả nhất. Thông tin của truyền hình đến với cơng chúng mơt

cách nhanh chóng, đều đặn và trực tiếp.

Thơng qua hệ thống các hình thức liên lạc (điện thoại, thư điện tử, hơp

thư truyền hình), truyền hình và cơng chúng xem truyền hình có mối liên hệ rất

chặt chẽ. Truyền hình trở thành diễn đàn của tồn dân, tạo dư luận xã hơi, tích

luỹ các tư tưởng, ý kiến, kinh nghiệm của quần chúng, hình thành các chuẩn

mực đạo đức và định hướng giá trị phù hợp với các mục tiêu và nhiệm vụ của xã

hơi [5], [6].

Chức năng giải trí: Ưu thế số mơt của truyền hình hiện nay đó là đáp

ứng được mơt cách cao nhất nhu cầu thơng tin giải trí cho khán giả xem truyền

hình. Cc sống càng hiện đại, con người phải làm việc căng thằng thì nhu cầu

giải trí càng cao. Truyền hình đã và đang là sự lựa chọn hàng đầu hiện nay.

Nhờ vào khoa học kĩ thuật – cơng nghệ ngày càng hiện đại, người dân có thể

ngồi tại nhà và chọn lựa tất cả những kênh truyền hình mà họ u thích. Ca

nhạc, phim ảnh… tất cả những loại hình nghệ thuật đáp ứng nhu cầu giải trí và

nâng cao kiến thức của con người đều có thể đáp ứng trên truyền hình. Đây là



10

mơt ưu điểm đặc biệt mà khơng phải loại hình báo chí nào cũng có được.

Thơng qua truyền hình, sự giao lưu văn hoá với các nước trong khu vực

và trên thế giới đã trở nên dễ dàng hơn. Người xem có điều kiện mở rông tầm

mắt, cho dù ngồi ở nhà, họ vẫn được xem những hình ảnh mới nhất, sống đông

đông nhất về nhiều nơi trên thế giới. Đây là môt yếu tố quan trọng đối với việc

phát triển văn hố qua truyền hình.

Có thể nói, chức năng phát triển văn hố, giải trí là mơt trong những chức

năng quan trọng của truyền hình, là yếu tố có tính quyết định đến sự phát triển

của truyền hình. Thơng qua các chương trình truyền hình, khán giả vừa có điều

kiện giải trí, vừa có điều kiện nâng cao kiến thức của mình về mọi lĩnh vực trong

đời sống xã hơi [38], [79], [92].

Như vậy, các chương trình giải trí trên truyền hình mới đáp ứng được nhu

cầu, mong mỏi của cơng chúng và "khơng có phương tiện nào khác có thể thu

hút thời gian rỗi rãi của cư dân trên khắp hành tinh bằng truyền hình" [14].

Các chức năng của truyền hình ln quan hệ chặt chẽ và có liên quan lẫn

nhau. Bản thân các chức năng này tạo điều kiện và thúc đẩy lẫn nhau. Mỗi chức

năng của truyền hình được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau và các

chương trình truyền hình bao giờ cũng thực hiện đồng thời nhiều chức năng.

Bởi vậy, vai trò của truyền hình chỉ được nhận thức môt cách đầy đủ khi đặt nó

trong sự thống nhất hữu cơ giữa các chức năng đó [63], [73].

1.3. Một số khái niệm về quảng cáo tiếp thị

Quảng cáo là môt hoạt đông hết sức phổ biến hiện nay. Tốc đô tăng

trưởng và đầu tư vào quảng cáo ở Việt nam nói riêng và thế giới nói chung đang

ngày càng mạnh mẽ. Vai trò của quảng cáo ngày càng không thể phủ nhận trong

nền kinh tế thị trường. Mặc dù trên khắp thế giới, quảng cáo được sử dụng với ý

nghĩa là cầu nối trung gian mang những thông tin của sản phẩm đến với người

tiêu dùng nhưng đến bây giờ quảng cáo vẫn chưa được khái qt hóa thành mơt

định nghĩa chung nhất trên tồn thế giới. Do vậy, ở mỗi quốc gia, mỗi nền kinh



11

tế khác nhau khái niệm này lại có cách thể hiện riêng [67], [88], [90], [91].

Quảng cáo là hình thức tun truyền được trả phí hoặc khơng để thực

hiện việc giới thiệu thông tin về sản phẩm, dịch vụ, công ty hay ý tưởng. Quảng

cáo là hoạt đông truyền thông phi trực tiếp giữa người với người mà trong đó

người muốn truyền thông phải trả tiền cho các phương tiện truyền thông đại

chúng để đưa thông tin đến thuyết phục hay tác đông đến người nhận thông tin.

Quảng cáo là những nỗ lực nhằm tác đơng tới hành vi, thói quen mua hàng

của người tiêu dùng hay khách hàng bằng cách cung cấp những thông điệp

bán hàng theo cách thuyết phục về sản phẩm hay dịch vụ của người bán [67].

Cuôc cạnh tranh giữa các phương tiện phản ánh không chỉ về mặt thu tiền

quảng cáo, mà còn đấu tranh trong việc sử dụng thời gian của khách hàng của

các phương tiện truyền thông đại chúng. Qua theo dõi người ta nhận thấy rằng

sự sụt giảm của thời gian đọc báo, trong khi tỉ lệ thời gian dành cho nghe đài và

xem tivi tăng lên. Trong thời đại số hóa hiện nay, cùng với sự phát triển mạnh

mẽ của internet thì thị phần quảng cáo trên truyền hình đã có những ảnh hưởng

nhất định.

Tại Việt Nam, khán giả giữa truyền hình và internet có sự khác biệt đáng

kể về đặc điểm. Theo kết quả nghiên cứu năm 2016 của Nielsen, 85% người

dùng internet có đơ tuổi từ 15-49 tuổi và khán giả xem truyền hình ở đơ tuổi này

chỉ chiếm dưới 40%. Sự khác biệt về nhóm khán giả sẽ dẫn đến các nhu cầu và

sở thích khác nhau trên các nền tảng truyền thông khác nhau. Như vậy để có thể

tạo nên mơt kênh “truyền thơng hơi tụ” hiệu quả cho cả tivi và internet, các kênh

truyền hình và nhà sản xuất nôi dung cần xây dựng được các chương trình thực

sự có chất lượng mới có thể tạo ra sức hút cho các nhóm khán giả trên các nền

tảng khác nhau [46], [76].

Cuôc cạnh tranh ngày càng gia tăng bc các doanh nghiệp truyền hình

nhà nước phải nghĩ đến đông thái tiếp thị các sản phẩm truyền thông của họ, tất

nhiên trong khn khổ nhiệm vụ báo chí bao gồm tin tức, văn hóa, giáo dục và



12

giải trí [28], [39].

1.4. Quảng cáo trên truyền hình

Quảng cáo trên truyền hình là mơt hình thức truyền tin từ đơn vị thuê

quảng cáo qua phương tiện truyền hình để đến với nhiều người tiêu dùng nhằm

mục đích thơng báo, thuyết phục người tiêu dùng về sản phẩm/ dịch vụ để họ

quan tâm, tin tưởng và tiến tới sử dụng. Quảng cáo trên truyền hình là sự kết

hợp sinh đơng giữa hình ảnh, âm thanh, màu sắc công thêm cử đông và các kĩ

xảo truyền hình mang đến cho người xem những hình ảnh sống đơng, chân thực

của việc xảy ra trước mặt. Từ đó tạo sự chú ý, cuốn hút và kích thích trí tò mò

của người xem và cung cấp cho người tiêu dùng nhiều thông tin về sản phẩm,

dịch vụ hơn các phương tiện quảng cáo khác. Quảng cáo trên truyền hình có số

lượng khán giả tiếp cận thơng tin nhiều nhất [25], [67].

Cũng như các loại hình quảng cáo khác, quảng cáo trên truyền hình cũng

thể hiện những thông điệp quảng cáo nhất định. Tuy nhiên thông điệp quảng cáo

truyền hình có những điểm khác biệt so với các thơng điệp quảng cáo khác, có

thể kể đến những sự khác biệt như sau [25]:

Thứ nhất, quảng cáo trên truyền hình có phương thức cung cấp thơng tin

đặc biệt: Nếu như quảng cáo trên báo tạp chí, pano, áp phích thơng tin được thể

hiện ở hình ảnh, chủ yếu chỉ tác đông tới thị giác của người xem, không thể

truyền tải hết sự sống đơng cũng như tồn bơ đặc điểm của sản phẩm. quảng cáo

trên đài phát thanh được thể hiện qua âm thanh, mà việc truyền thanh chỉ có thể

tác đơng vào thính giác của người nghe nên hạn chế về nôi dung cần quảng cáo

và hiệu quả gây sự chú ý. Thì quảng cáo trên truyền hình là sự kết hợp giữa hình

ảnh và âm thanh cơng thêm cử đơng, các kĩ xảo riêng truyền hình, mang đến cho

người xem sự sống đông, hiện thực của việc xảy ra trước mặt do đó tạo sự chú ý,

cuốn hút, kích thích trí tò mò của khán giả cung cấp cho khán giả được nhiều

thơng tin hơn. Đó là điều mà các phương tiện quảng cáo khác không làm được

[25].



13

Thứ hai, cách thức truyền tải thông tin đến người tiếp nhận quảng cáo trên

truyền hình. Người tiếp nhận thơng tin trên quảng cáo truyền hình thường bị

đơng khi tiếp nhận thơng tin. Tính bị đơng của người tiếp nhận thông tin thể

hiện ở chỗ, trong quảng cáo truyền hình người xem khơng được lựa chọn về thời

điểm xem, nơi dung xem, thời lượng xem cũng như có xem hay khơng quảng

cáo. Đối với những kênh truyền hình chun quảng cáo thì người xem truyền

hình cũng chỉ có thể chủ đơng trong việc lựa chọn có xem quảng cáo hay không

chứ không thể lựa chọn nôi dung quảng cáo. Thực tế cho thấy, nếu như đang

xem mơt chương trình nào đó và bị quảng cáo xen vào thì người xem có hai sự

lựa chọn mơt là xem tiếp đợi hết quảng cáo, hai là chuyển kênh; tuy nhiên việc

chuyển sang mơt kênh khác cũng vẫn có thể gặp các quảng cáo khác. Không chỉ

vậy, nếu như người xem truyền hình có thích xem mơt chương trình quảng cáo

nào cũng khơng thể lựa chọn sẽ xem khi nào, vì việc phát sóng truyền hình hồn

tồn theo chương trình của đài truyền hình. Kể cả khi lên khung chương trình

hay lịch phát sóng được đăng tải trên tạp chí truyền hình …cũng khơng có mục

nào thể hiện thời điểm phát sóng quảng cáo và các sản phẩm sẽ được quảng cáo.

Trong khi đó, nếu như xem quảng cáo trên mơt tạp chí, hay internet cùng như

quảng cáo khác người đọc có thể chọn quảng cáo bắt mắt mà mình thích để xem

hoặc có thể bỏ qua ln mục quảng cáo để xem mục khác [33].

Thứ ba, quảng cáo truyền hình có tính xã hơi hóa cao: Có thể nói, so với

các loại hình quảng cáo khác, quảng cáo trên truyền hình có số lượng người tiếp

cận thơng tin nhiều nhất.

Nói chung, truyền hình hầu như khơng có tính chọn lọc khán giả như

những phương tiện truyền thông khác như quảng cáo trên báo chí hay có thời

lượng quảng cáo nhiều như internet 24/24 giờ (song số lượng người truy cập

thấp chỉ chiếm khoảng 4-5% dân số) người tiếp cận sản phẩm quảng cáo khơng

cần bắt bc phải đạt trình đơ văn hố nào đó như các loại hình quảng cáo khác,

ngay cả những đứa trẻ vẫn có thể tiếp nhận, nghe và hiểu những thông tin được



14

truyền tải thông qua các sản phẩm quảng cáo được phát sóng trên đài truyền

hình. Cho nên quảng cáo trên truyền hình chiếm được lượng khán giả theo dõi

nhiều nhất trong số các loại phương tiện truyền thơng.

Do truyền hình thc về mọi người và nhất là ở Việt Nam các kênh truyền

hình phổ biến chủ yếu là kênh truyền hình miễn phí số lượng người xem đài

truyền hình là rất lớn, thc mọi tầng lớp đối tượng, vùng miền. Trong khi đó

các loại hình quảng cáo khác lại có sự giới hạn về đối tượng tiếp nhận, như

quảng cáo trên báo chí, ấn phẩm người tiếp nhận cần có khả năng đọc và hiểu

thơng tin, còn đối với quảng cáo trên internet thì ngồi u cầu có khả năng đọc

và tiếp nhận thơng tin cần có kỹ năng sử dụng internet, có các điều kiện để tiếp

cận (như máy tính, cáp internet…) [83], [89].

Thứ tư, thơng điệp trên quảng cáo trên truyền hình có tính tập thể cao hơn

các loại thơng điệp quảng cáo khác, điều này có thể dễ dàng nhận thấy khi

chúng ta tiếp nhận các sản phẩm quảng cáo trên các loại hình quảng cáo khác

nhau. Nếu như đối với quảng cáo trên truyền hình, mơt sản phẩm quảng cáo

được phát trên truyền hình có thể có nhiều người cùng mơt lúc cùng xem sản

phẩm quảng cáo đó trên cùng mơt cái tivi thì đối với các loại hình quảng cáo

khác thì việc nhiều người cùng xem mơt quảng cáo với nhau thường rất khó xảy

ra, chẳng hạn khi đọc mơt tờ báo, rất ít khi có năm bảy người cùng ngồi để đọc

chung môt thông điệp quảng cáo trên tờ báo đó như đối với việc tiếp nhận thơng

điệp quảng cáo trên truyền hình. Hơn nữa, việc nhiều người cùng tiếp nhận

thơng điệp quảng cáo như quảng cáo truyền hình còn tăng khả năng trao đổi

thơng tin về thơng điệp quảng cáo thể hiện trong sản phẩm quảng cáo, giúp cho

các thông điệp quảng cáo đem lại hiệu quả cao hơn [25], [64].

Thứ năm, chủ thể tham gia quảng cáo truyền hình: Có thể nói quảng cáo

trên truyền hình chính là mơt hoạt đơng kinh doanh, trong đó đài truyền hình là

mơt trong các chủ thể của hoạt đơng quảng cáo chứ không phải là môt phương

tiện quảng cáo thông thường. Điều này có thể lý giải trong việc phân tích quan



15

hệ quảng cáo, có sự tham gia của 3 loại chủ thể: người quảng cáo thương mại,

người kinh doanh dịch vụ quảng cáo và người phát hành quảng cáo thương mại

[25], [72].

Quảng cáo truyền hình có bốn chức năng:

- Chức năng kinh tế: Quảng cáo truyền hình thơng tri, báo cáo với người

xem về sự ra đời hoặc sự có mặt của mơt mặt hàng. Trong thời đại sinh sản hàng

loạt, nó thơi thúc sự tiêu thụ của khách hàng vốn chng những sản phẩm mới.

Nó khai thác những nhu cầu tiềm ẩn của người tiêu thụ, lập lại thế qn bình

giữa cung và cầu cũng như góp phần vào việc phân phối lợi tức trong xã hôi.

Sản phẩm ra càng nhiều thì giá thành càng rẻ và người mua có cơ hơi mua rẻ và

nâng cao chất lượng mức sinh hoạt của mình.Nhược điểm của nó là thúc đẩy

người ta ăn tiêu hoang phí, lơi cuốn con người bắt chước nhau tiêu thụ theo thời

trang, khơi gợi những lối tiêu thụ kiểu bốc đồng, nghĩa là mua mà không nghĩ

trước nghĩ sau [25], [28], [31].

Chức năng thương mại: Quảng cáo truyền hình thơng tri với xã hơi vai trò

của doanh nghiệp, đường lối hoạt đơng của nó. Quảng cáo cũng đốc thúc doanh

nghiệp góp phần vào việc phục vụ khách hàng và xây dựng xã hơi. Nó khuyến

khích doanh nghiệp khơng ngừng cải tiến hoạt đơng của mình. Nó tạo danh tiếng

cho nhãn hiệu (Brand) và nâng cao tinh thần của nhân viên. Điểm yếu của quảng

cáo trong phạm vi này là nó gây ra khoảng cách giữa các doanh nghiệp, làm chi

phí quảng cáo tăng vọt, làm cho các mặt hàng đoản mệnh vừa mới ra lò đã thành

lỗi thời vì có mặt hàng mới ra ngay sau đó [1], [19], [31].

Chức năng xã hơi: Quảng cáo nói chung và quảng cáo truyền hình nói

riêng giáo dục người tiêu dùng.Quảng cáo truyền hình mở rơng tri thức, nâng

cao mức đơ suy nghĩ, phán đốn của người tiêu dùng, dạy người ta về cách dùng

các mặt hàng và giúp người ta quyết định mua món hàng nào. Nó vừa là tư liệu

của nôi dung truyền thông đại chúng, vừa là lý do để người tiêu dùng bắt đầu

biết quan tâm tới món hàng mình tiêu dùng. Nó khiến cho người ta đòi hỏi



16

những mặt hàng ra đời phải đúng theo qui trình và u cầu của xã hơi. Nó giúp

người ta tiết kiệm được thời giờ tìm hiểu vì giúp họ biết ngay ưu điểm của mơt

mặt hàng. Tuy nhiên, những kẻ chống đối nó cho rằng quảng cáo chỉ đưa ra

những tin tức hời hợt, nhiều từ hoa mỹ hơn là sự thực [25], [28], [33].

Chức năng văn hóa: Quảng cáo truyền hình đề nghị mơt nếp sống

mới. Qua nó, chúng ta bắt mạch được hướng đi của xã hơi. Nó là đề tài nói

chuyện bất tận của quần chúng và nhờ nó, những hoạt đơng văn hóa, xã hơi có

phương tiện vật chất để thực hiện. Nó khai thác những đòi hỏi cao cả của con

người.

Con người ta sau khi đã no cơm ấm áo, có an ninh, sức khỏe, còn cần cả

tinh yêu, lòng tự hào về những thành đạt trong đời và có nhu cầu cống hiến cho

xã hôi. Dĩ nhiên, ta đề cập đến nhu cầu nhân bản chứ khơng phải nói riêng về

nhu cầu tiêu thụ. Thế nhưng, được hướng dẫn bởi những nhu cầu đó, con người

có thể tìm đến những sản phẩm hay dịch vụ để thỏa mãn mục đích mình đòi hỏi

[20].

Quảng cáo truyền hình có tác đơng mạnh mẽ đến hành vi mua sắm của

người tiêu dùng nhưng đó là những ảnh hưởng tích cực nếu như sản phẩm quảng

cáo đảm bảo chất lượng, còn nếu khơng, có thể gây ảnh hưởng rất nghiêm trọng

đến người tiêu dùng. Bởi lẽ, quảng cáo có sự tác đơng rất lớn đến niềm tin của

người tiêu dùng đến môt sản phẩm nào đó, vậy nên nếu mơt sản phẩm kém chất

lượng mà do niềm tin của người tiêu dùng với quảng cáo truyền hình vẫn mua

và sử dụng thì rất có thể gây thiệt hại cho chính người tiêu dùng tin vào quảng

cáo truyền hình. Quảng cáo truyền hình khơng chỉ kích thích hành vi mua sắm

của người tiêu dùng mà còn tác đơng đến cả mục đích mua sắm của người tiêu

dùng. Bởi lẽ quảng cáo truyền hình sẽ góp phần mở rông tri thức, nâng cao mức

đô suy nghĩ, phán đoán của người tiêu thụ, dạy người ta về cách dùng các mặt

hàng và giúp người ta quyết định mua món hàng nào. Bên cạnh đó sự tác đơng

mạnh mẽ của quảng cáo truyền hình cũng có thể gây ra những hậu quả tiêu cực



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×