Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
qua trắc nghiệm của Vitzlack..

qua trắc nghiệm của Vitzlack..

Tải bản đầy đủ - 0trang

lớp 1 không đồng đều ; chủ yếu tập trung ở mức tốt, tương đối khá, trung bình

khá và trung bình (thể hiện rõ nét thơng qua điểm số từ 50 - 100).

Để hiểu rõ hơn về thực trạng mức độ SSTL đối với việc học tập của HS

đầu lớp 1, chúng tơi tiến hành phân tích làm rõ ở từng mức điểm cụ thể như sau :

Trong tổng số 96 trẻ thực hiện bài trắc nghiệm thì số trẻ đạt điểm từ 90

đến 100 điểm chiếm tỉ lệ khá cao là 33,33 % tương ứng với 32 em. Trong số

đó, có 1 em đạt số điểm cao nhất là 100 điểm, còn 31 em còn lại thì đạt mức

điểm từ 90 đến 99 điểm. Hầu như những trẻ này trong khi làm bài trắc nghiệm

đều khá tập trung và chú ý thực hiện theo hướng dẫn, yêu cầu của người tiến

hành trắc nghiệm. Qua kết quả này, có thể nói rằng, trẻ có thể đạt được mức

điểm từ 90 đến 100 điểm thì ở các em phải có một vốn hiểu biết nhất định về

thế giới xung quanh, có một tư duy mạch lạc, logic và ngôn ngữ phát triển khá

tốt. Trong các bài tập trắc nghiệm, những trẻ này hứng thú nhất với các bài tập

thuộc về phần ghi nhớ và các dạng bài về tư duy vì những bài tập này kích

thích được sự ham hiểu biết, tìm tòi của trẻ, buộc trẻ muốn thực hiện tốt thì

phải tập trung cao hơn.

Những trẻ đạt được ở mức điểm khá chiếm tỉ lệ là 30,21%, tương ứng

với 29 trẻ. Sở dĩ các em có số điểm thấp hơn chuẩn ở mức tốt hơn so với các

em đạt mức điểm từ 90 đến 100 vì đa phần do ngơn ngữ của trẻ vẫn còn

chậm, nói chưa lưu lốt; trong khi thực hiện bài trắc nghiệm, cơ còn phải

nhắc nhở chú ý vào bài hoặc phải nhắc lại yêu cầu làm bài vì các em còn

qn. Tuy nhiên, các trẻ này cũng chỉ cần cô hướng dẫn qua là các em cũng

làm được bài.

Ở mức độ trung bình khá là trẻ đạt được khoảng điểm từ 70 đến 79

điểm và chỉ chiếm tỉ lệ là 17,71% (17 học sinh). Số HS đạt mức điểm này

thấp hơn so với hai mức điểm trên vì ở các bài trắc nghiệm các em thường

không đạt được mức điểm tối đa: chủ yếu vẫn là ở các bài tập về khả năng ghi

nhớ và ngôn ngữ vẫn cần sự trợ giúp của cô để diễn đạt ý hiểu của mình được

tốt hơn.



45



Số HS đạt mức điểm trung bình chiếm 13,54%(13 em). Những trẻ

thuộc nhóm mức độ này thường không tập trung khi làm bài nên việc ghi nhớ

yêu cầu của bài trắc nghiệm phải để cô nhắc lại cho các em nhiều lần và phải

cần đến sự hướng dẫn sát sao của cơ thì trẻ mới hoàn thành bài trắc nghiệm

với số điểm từ 60 - 69.

Số học sinh đạt mức yếu chỉ chiếm tỉ lệ là 5,21% trong tổng số học sinh

tham gia tiến hành trắc nghiệm. Sở dĩ các em chỉ đạt được điểm thấp như vậy

là do các em chưa nắm được yêu cầu của đề bài trắc nghiệm, chưa biết cách tư

duy, suy luận để giải quyết vấn đề, cô giáo phải sử dụng nhiều sự trợ giúp các

em mới hoàn thành được bài trắc nghiệm. Ngoài ra, trẻ đạt mức thấp còn do

ngơn ngữ của các em chưa tốt về cả cách phát âm và diễn đạt theo ý, theo câu.

3.1.2. Thực trạng mức độ SSTL đối với việc học tập của HS đầu lớp 1

theo giới tính

Thực tế cho thấy giữa nam và nữ đều có những điểm mạnh, điểm yếu

riêng trong nhiều lĩnh vực. Đối với mức độ SSTL đối với việc học của HS đầu

lớp 1 cũng có nhiều điểm khác biệt xét theo tiêu chí về giới tính. Kết quả thu

được thể hiện ở bảng 4 :

Bảng 3.2: Sự SSTL đối với việc học tập của HS đầu lớp 1 theo giới tính

qua trắc nghiệm của Vitzlack

Giới tính

Mức độ

Tốt



Nam



Nữ



Số lượng

17



Tỉ lệ %

35,42



Số lượng

15



Tỉ lệ %

31,25



Khá



17



35,42



12



25,00



Trung bình khá



7



14,58



10



20,83



Trung bình



5



10,41



8



16,67



Yếu



2



4,17



3



6,25



48



100



48



100



Tổng



46



Biểu đồ 3.2: Sự SSTL đối với việc học tập của HS đầu lớp 1 theo giới tính

qua trắc nghiệm của Vitzlack

Nhìn vào bảng 4 và biểu đồ 2 ta thấy:

Ở các mức độ tốt và khá thì HS nam có mức SSTL cao hơn so với HS

nữ, như sau:

- Ở mức tốt số HS nam có sự sẵn sàng tâm lý chiếm tỉ lệ 35,42%, còn

HS nữ chiếm tỉ lệ là 31,25%. Ở mức khá HS nam vẫn chiếm ưu thế với những

bài trắc nghiệm, tốt hơn HS nữ. Ở mức độ này HS nam chiếm 35,42% so với

HS nữ chỉ chiếm 25%.

Tuy nhiên, tính về mặt tổng điểm số đạt được qua các bài trắc nghiệm

thì HS nam lại có nhiều bài đạt được điểm số cao hơn so với HS nữ.

- Ở mức độ thấp hơn trung bình khá, trung bình và yếu:

Xét về tỉ lệ phần trăm, ở mức độ trung bình khá, trung bình và yếu thì

số HS nữ lại chiếm tỉ lệ cao hơn số HS nam (mức trung bình khá: 14,58% so

với 20,83%; mức trung bình: 10,41% so với 16,67%; mức yếu: 4,17% so với

6,25%).



47



Các kết quả trên chứng tỏ: sự chênh lệch về mức độ SSTL đối với việc

học tập của HS nam và nữ là khá lớn, sự SSTL đối với việc học tập của HS

nam tốt hơn so với HS nữ cùng độ tuổi ở hai trường Tiểu học nghiên cứu

Để đánh giá mức độ sẵn sàng tâm lý đối với việc học tập của học sinh

đầu lớp 1 theo giới tính một cụ thể hơn, chúng tơi tiến hành xem xét và so

sánh thông qua việc học, tư duy và ngôn ngữ như sau:

Bảng 3.3: Việc học của HS ( theo giới tính)qua trắc nghiệm Vitzlack

Giới tính

Nam



Mức độ việc học



SL

Tốt, khá

41

TB

5

Yếu

2

Nhìn vào kết quả ở bảng 5 ta thấy:



Nữ



%

52,56

38,46

40



SL

37

8

3



%

47,44

61,54

60



Tỷ lệ HS nam đạt mức độ việc học ở mức tốt, khá ở việc học chiếm tỷ

lệ 52,56%. Trong khi ở mức này HS nữ chiếm 47,44%.

Kết quả trên chứng tỏ:

Mức độ việc học của HS nam cao hơn so với HS nữ.

Mức độ việc học cao thì sự sẵn sàng tâm lý đối với việc học tập của HS

nam cũng cao hơn so với HS nữ.

Bảng: 3.4 Tư duy (theo giới tính) qua trắc nghiệm Vitzlack

Giới tính

Mức độ tư duy



Nam



SL

%

Tốt, khá

42

53,85

TB

4

30,77

Yếu

2

40

Nhìn vào kết quả ở bảng 6 cho thấy:



Nữ

SL

36

9

3



%

46,15

69,23

60



HS nam đạt mức độ tư duy của học sinh tham gia nghiên cứu có hình

ảnh giống như miêu tả ở bảng 5.

Kết quả trên chứng tỏ:



48



HS nam có mức độ tư duy cao hơn so với HS nữ.

Mức độ tư duy cao thì sự sẵn sàng tâm lý đối với việc học tập của HS

nam cũng cao hơn so với HS nữ.

Bảng 3.5: Ngôn ngữ của HS nam và HS nữ qua trắc nghiệm Vitzlack

Giới tính

Mức độ ngơn ngữ

Tốt, khá

TB

Yếu

Nhìn vào bảng 7 cho thấy:



Nam

SL

37

9

2



%

47,44

69,23

40



Nữ

SL

41

4

3



%

52,56

30,77

60



+Ở mức tốt, khá: HS nữ chiếm tỷ lệ là 52,56% , trong khi đó HS nam ở

mức tốt chiếm tỷ lệ thấp hơn là 47,44%.

+Ở mức trung bình: HS nam chiếm tỷ lệ 69,23% so với HS nữ là

30,77%.

+Ở mức yếu: HS nam có chiếm tỷ lệ là 40% so với HS nữ là 60%..

Như vậy, khả năng về ngôn ngữ của HS nam thấp hơn so với HS nữ.

Tuy nhiên, điều đáng mừng là tỷ lệ HS nam và HS nữ có mức độ ngơn ngữ ở

mức yếu rất ít.

Từ kết quả thu được ở bảng 5, bảng 6, bảng 7 và qua việc quan sát

trong hoạt động của học sinh nam và học sinh nữ thấy rằng: sở dĩ học sinh

nam đạt được mức điểm về việc học và tư duy cao như vậy là do học sinh

nam thường có tính tò mò, thích khám phá, ham hiểu biết hơn học sinh nữ.

Ngay cả trong khi thực hiện bài trắc nghiệm HS nam thường làm bài nhanh

hơn, nhất là những bài tập về tư duy, các em thích lắp ghép hình và lắp rất

nhanh, tìm ra những chi tiết còn sót rất chính xác. Do đó, về việc học và tư

duy của HS nam tham gia nghiên cứu, theo quan sát, đang có sự phát triển

một cách mạnh mẽ. Ngược lại với học sinh nữ, các em thường làm bài cẩn

thận hơn so với học sinh nam nhưng kết quả đạt vẫn không cao, một phần

cũng do lối tư duy của các em còn chậm hơn, so với các bạn nam. Nhưng tính

49



cách cẩn thận của học sinh nữ lại giúp các em thực hiện tốt các bài tập về

ngôn ngữ và đạt được kết quả cao hơn so với học sinh nam.

So sánh sự sẵn sàng tâm lý đối với việc học tập của HS đầu lớp 1cho

thấy tỉ nam cao hơn so với HS nữ, tuy nhiên chênh lệch ở tỷ lệ này là không

đáng kể: khả năng về việc học và tư duy của các em nam cao hơn các em nữ

song khả năng về ngôn ngữ của các em nữ lại cao hơn. Chính vì vậy mà giáo

viên và phụ huynh học sinh cần lưu ý trong việc chuẩn bị cho HS nam và HS

nữ học lớp 1. Trẻ nam thì cần chuẩn bị cho các em nhiều hơn nữa về lĩnh vực

ngơn ngữ, còn đối với trẻ nữ thì cần bổ sung tư duy và việc học.

3.1.3. Thực trạng mức độ sự SSTL đối với việc học tập của HS đầu

lớp 1 theo trường

Bảng 3.6: Mức độ sự SSTL đối với việc học tập của HS đầu lớp 1

theo trường

Trường

Mức độ SSTL

Tốt



Trường TH



Trường TH



Quảng Ngọc

Số lượng

Tỉ lệ %



Quảng Thạch

Số lượng

Tỉ lệ %



27



56,25



5



10,42



Khá



19



39,58



10



20,83



Trung bình khá



2



4,17



15



31,25



Trung bình



0



0



13



27,08



Yếu



0



0



5



10,42



50



Biểu đồ 3.3: Sự SSTL đối với việc học tập của HS đầu lớp 1 theo trường

qua trắc nghiệm tâm lý của Vitzlack

Nhìn vào bảng 5 và biểu đồ 3 ta thấy:

Mức độ SSTL của HS đầu lớp 1 tại hai trường TH Quảng Ngọc và

trường TH Quảng Thạch có sự khác biệt khá rõ ràng (P = 0.000). Cụ thể là:

Mức độ SSTL của HS đầu lớp 1 tại trường TH Quảng Ngọc đạt mức

tổng điểm khá cao. Các em chủ yếu đạt mức tốt, khá và chỉ có 2 em đạt mức

trung bình khá vì vậy mà tỷ lệ ở mức điểm tốt chiếm tới 56,25%, mức khá

chiếm 30,58% và tỷ lệ mức trung bình khá chỉ có 4,17%.

Mức độ SSTL của HS đầu lớp 1 tại trường TH Quảng Thạch nhìn

chung còn thấp cụ thể là: chỉ có 5 em đạt mức tốt chiếm tỉ lệ 10,42%; 10 em

mức khá - 20,83%; có 15 em mức trung bình khá - 31,25%; 13 em mức trung

bình - 27,08% và ở mức yếu có 5 em, chiếm tỉ lệ là 10,42%. Như vậy, Mức độ

sẵn sàng tâm lý đối với việc học tập của học sinh đầu lớp 1 chủ yếu ở mức

trung bình khá, trung bình và yếu.



51



Kết quả khác biệt về mức độ sẵn sàng tâm lý đối với việc học tập của

Hs đầu lớp 1 ở hai truongf có thể được lý giải như sau:

Trường Tiểu học Quảng Ngọc có số HS đạt mức sẵn sàng tâm lý đối

với việc học tập cao như vậy vì : đây là ngơi trường có truyền thống lịch sử

lâu đời, trường luôn nằm trong tốp đầu về công tác dạy và học ở huyện Quảng

Xương - tỉnh Thanh Hóa. Đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên ở đây đều có

trình độ đào tạo từ đại học trở lên, có năng lực quản lý và có trình độ chun

mơn vững vàng, nhiệt tình và tâm huyết với nghề. Trường thường xuyên tổ

chức các buổi tập huấn, trao đổi thêm chuyên môn và nghiệp vụ cho đội ngũ

giáo viên vào chiều thứ 6 hàng tuần. Trường luôn chú trọng việc mua sắm

thêm các trang thiết bị dạy học hiện đại, tạo sân chơi lành mạnh nhằm đáp

ứng được tối đa nhu cầu dạy và học của giáo viên và học sinh.

Còn trường Tiểu học Quảng Thạch có số học sinh đạt có mức sẵn sàng

tâm lý đối với việc học tập kém hơn vì : đây là ngơi trường nằm ở vùng ven

biển, cơ sở vật chất còn thiếu thốn chưa đáp ứng được nhu cầu dạy và học của

giáo viên và học sinh. Bên cạnh đó, trình độ chun mơn của đội ngũ giáo

viên trong nhà trường còn hạn chế, HS chưa thực sự hiếu học: vào đầu năm

học nhà trường còn phải cử giáo viên tới từng hộ gia đình để vận động cho trẻ

đến tuổi tới trường. Vì thế mà chất lượng giáo dục cũng đạt kết quả không tốt

so với trường Tiểu học Quảng Ngọc.

Như vậy, cùng trên địa bàn huyện Quảng Xương - tỉnh Thanh Hóa

nhưng học sinh của hai trường tham gia nghiên cứu cũng có sự chênh lệch

khá lớn về mức độ sẵn sàng đối với việc học tập. Từ đây cho thấy rằng việc

chú trọng bồi dưỡng nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ quản lý và cán bộ giáo

viên là hết sức cần thiết để chất lượng giáo dục ngày được nâng cao hơn.

Ngoài ra, việc xây dựng, tu bổ cơ sở vật chất khang trang hơn và mua sắm các

trang thiết bị dạy và học đầy đủ hơn là một yêu cầu thiết yếu đối với các

trường học.



52



3.2. Kết quả xử lý các tiêu chí về sự SSTL đối với việc học của HS

đầu lớp 1 qua trắc nghiệm của Vitzlack

Để hiểu rõ hơn về mức độ SSTL đối với việc học tập của từng học sinh

ở từng biểu hiện về việc học, tư duy và ngôn ngữ thông qua trắc nghiệm của

Vitzlack, chúng tôi đánh giá theo các mức đạt được đó là: tốt, khá, trung bình

và yếu.

3.2.1. Biểu hiện về “việc học” của HS đầu lớp 1 thông qua trắc

nghiệm tâm lý của Vitzlack

Để đánh giá cụ thể các biểu hiện về “việc học” của HS đầu lớp 1 thông

qua trắc nghiệm tâm lý của Vitzlack chúng tôi đánh giá dựa trên kết quả đo

được ở 4 bài tập trắc nghiệm đó là: bài tập 1, bài tập 2, bài tập 3 và bài tập

12. Kết quả thu được ở bảng 6 như sau:

Bảng 3.7: Việc học của HS đầu lớp 1 thông qua trắc nghiệm

tâm lý của Vitzlack

Mức độ việc học

Tốt

Khá

TB khá

TB

Yếu

TT Nội dung

SL % SL % SL % SL % SL %

Kể chuyện

31,2

13,5

1

29 30,21 30

19 19,79 13

5 5,21

theo tranh

5

4

Học thuộc

13,5

2

33 34,38 29 30,21 16 16,67 13

5 5,21

bài thơ

4

Gọi tên các

35,4

15,6

3

34

32 33,33 15

11 11,46 4 4,17

đồ vật

2

2

Bài tập về

31,2

13,5

4

29 30,21 30

19 19,79 13

5 5,21

trí nhớ

5

4

Qua bảng số liệu và kết quả làm trắc nghiệm chúng tơi có nhận xét về

“việc học” của HS đầu lớp 1 như sau:



53



Bài tập 1: Cho trẻ xem các bức tranh, sau đó yêu cầu trẻ kể lại câu

chuyện theo tranh. Đối với loại bài tập này khơng q khó đối với trẻ, bởi có

hình ảnh là các bức tranh sinh động, thu hút được sự chú ý của học sinh và từ

đó trẻ xâu chuỗi nội dung của từng bức tranh và kể lại được câu chuyện.

Kết quả thu được: đa số học sinh đều nêu được trật tự của nội dung câu

chuyện theo từng bức tranh, có một số rất ít chỉ mô tả đại thể từng bức tranh

mà không chú ý gì đến mối quan hệ giữa chúng. Thí dụ:

Bài tập 2: Yêu cầu học sinh học thuộc một bài thơ ngắn, có nội dung dễ

hiểu, dễ nhớ. Đối với bài tập này, học sinh sinh đạt điểm tốt chiếm tỉ lệ khá

cao, có nhiều học sinh học thuộc rất nhanh ngay từ lần củng cố thứ 2.

Bài tập 3: Bài tập này nhằm mục đích kiểm tra về sự hiểu biết chung

của học sinh thông qua việc hiểu nghĩa tên gọi các đồ vật. Để thực hiện bài

tập này trẻ chỉ cần mô tả, gọi tên đúng các đồ vật. Bài tập này cũng tương đối

dễ và gần gũi với các em nên tỉ lệ trẻ đạt mức tốt chiếm tỉ lệ cao song, bên

cạnh đó, vẫn còn một số em vẫn phải nhờ vào sự trợ giúp của cơ mới hồn

thành được bài.

Bài tập 12. Bài tập này là loại bài tập kiểm tra trí nhớ, yêu cầu HS phải

nhớ lại bài thơ đã học ở bài tập 2 và đọc lại bài thơ này. Đây là bài tập khó

hơn so với 3 bài tập trên bởi đòi hỏi trẻ phải chú ý và vận dụng các công cụ để

ghi nhớ, tái hiện lại bài thơ đã học trước đó nhưng khơng được ơn tập lại. Tuy

nhiên, đa số học sinh tái hiện lại được bài thơ ở mức trung bình trở lên, còn

một số ít tái hiện không tốt là do một phần, ngay từ bài tập 2 các em đã đã

không chú ý và không nắm được nội dung của bài thơ.

Thông qua các mức độ đạt được ở các bài tập trên của HS, nhận thấy

khả năng học của HS đầu lớp 1 là tương đối cao, những em đạt mức yếu chỉ là

do các em chưa thực sự chú ý vào bài trắc nghiệm.

3.2.2. Biểu hiện về “tư duy” của HS đầu lớp 1 thông qua trắc nghiệm

tâm lý của Vitzlack



54



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

qua trắc nghiệm của Vitzlack..

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×