Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
b) Yếu tố giáo dục:

b) Yếu tố giáo dục:

Tải bản đầy đủ - 0trang

nhu cầu tồn tại và phát triển của con người, đặc biệt là học sinh tiểu học. Quá

trình giáo dục là một q trình biện chứng và phức tạp. Đó là sự tác động có

mục đích của gia đình, sự phối kết hợp chặt chẽ và ảnh hưởng qua lại với giáo

dục nhà trường và giáo dục xã hội.

Gia đình là tế bào căn bản của đời sống xã hội. Gia đình là chiếc nơi,

là trường học đầu tiên, trong đó cha mẹ là người thầy giáo thân thuộc đầu tiên

của trẻ; đây cũng là nơi con cái lớn lên về thể xác lẫn tinh thần, nơi con cái

không chỉ được dạy dỗ bằng lời nói mà còn bằng tấm gương sáng.

Trong quan niệm của xã hội gia đình ln giữ vai trò quan trọng hàng

đầu đối với việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Có thể nói, cha mẹ là

người gần gũi trẻ nhiều nhất; là người đặt những viên gạch đầu tiên trong việc

hình thành nhân cách, tạo dựng ngơn ngữ; thói quen, hành vi đạo đức tốt và

phát triển trí tuệ, năng khiếu cho trẻ em.

Thực tế cho thấy, thói quen, nếp sống và sự giáo dục trong mỗi gia đình

sẽ tác động rất quan trọng vào đứa trẻ và dẫn đến sự hình thành tính cách của

nó. Sự bắt chước đầu tiên của trẻ là từ bậc sinh thành ra nó. Trẻ được sống

trong gia đình êm ấp, hòa thuận được hưởng bầu khơng khí tâm lý gia đình

tốt, sẽ giúp cho sự sẵn sàng tâm lý của trẻ được phát triển thuận lợi. Cách thức

dạy dỗ của cha mẹ đã để lại dấu ấn sâu sắc trong tâm hồn, trí tuệ của trẻ. Nếu

cha mẹ ni dạy con một cách độc đốn, quá nghiêm khắc, đặt ra nhiều

nguyên tắc và bắt trẻ phải thực hiện mà khơng giải thích để trẻ hiểu thì dễ gây

ra cho trẻ áp lực, sợ hãi,.. và điều này sẽ làm kìm hãm sự sẵn sàng tâm lý của

trẻ. Ngược lại, nếu cha mẹ quá nuông chiều con, khơng đưa ra đòi hỏi đối với

trẻ thì sẽ làm cho sự phát triển của trẻ bị trì trệ, ì ra hoặc là tự kiêu, ngạo mạn,

…và điều này cũng không tốt cho sự sẵn sàng tâm lý của trẻ.

Vì vậy, để trẻ có được sự sẵn sàng tâm lý đối với việc học tập thì các

bậc cha mẹ trước hết cần có phương pháp để ni dạy trẻ một cách hợp lý.

Ngoài ra phải thường xuyên chăm lo xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng tiến



25



bộ, hạnh phúc và phát triển bền vững. Trong gia đình người lớn phải làm

gương tốt từ lời nói đến hành động, mọi người trong gia đình phải biết yêu

thương, chia sẻ và giúp đỡ nhau.

Tóm lại, gia đình có ý nghĩa vơ cùng quan trọng trong sự hình thành

và phát triển của trẻ nói chung và sự sẵn sàng tâm lý đối với việc học tập nói

riêng. Hồn cảnh xã hội tác động đến trẻ thơng qua hồn cảnh gia đình. Gia

đình là nơi tạo ra các điều kiện vật chất và tinh thần cho trẻ, đồng thời cùng

với nhà trường tác động, giúp đỡ trẻ trong việc chuẩn bị sẵn sàng tâm lý đối

với việc học tập của trẻ bằng hàng loạt việc làm cụ thể nhằm hình thành dần

ở các em những phẩm chất và yêu cầu cần thiết cho việc học tập ở trường

phổ thông.

Giáo dục trong nhà trường có vai trò rất quan trọng trong sự sẵn sàng

tâm lý đối với việc học tập của học sinh Tiểu học, đặc biệt là học sinh đầu lớp

1. Để giúp trẻ phát triển được các kỹ năng trong học tập đòi hỏi người dạy

phải biết lựa chọn các phương pháp dạy học phù hợp với từng bài, từng đối

tượng học sinh. Theo V.F.Ađôepxki “không phải là truyền thụ kiến thức cho

trẻ nhỏ, mà chúng ta phải làm sao cho trẻ tự mình có thể có khả năng tìm đến

kiến thức”. Như vậy, vấn đề không phải người dạy cố gắng truyền thụ cho trẻ

những kiến thức bằng cách này hay cách khác mà phải làm cho năng lực trí

tuệ của trẻ tích lũy được thơng qua hoạt động.

Bên cạnh đó, quan hệ giữa thầy và trò trong q trình giáo dục là một

yếu tố quan trọng trong sự sẵn sàng tâm lý đối với việc học tập của trẻ. Do đó,

nếu cơ giáo q cứng nhắc và rập khn thì sẽ làm hạn chế tính độc lập, nhu

cầu, hứng thú, nhận thức của trẻ và sẽ gây ra các khó khăn tâm lý đối với việc

học tập của trẻ. Nhưng nếu cơ biết chia sẻ, khuyến khích, động viên, giúp đỡ

trẻ khi cần thiết thì trẻ sẽ thấy thoải mái hơn, khơng còn áp lực, căng thẳng

đối với việc học tập. Giai đoạn đầu lớp 1 là một “cửa ải” rất khó khăn với trẻ,

bởi giai đoạn này là giai đoạn các em phải chuyển giao hoạt động chủ đạo từ



26



vui chơi sang học tập. Vì vậy mà trẻ cần sự giúp đỡ, chỉ bảo của người lớn

nhưng không làm mất đi hứng thú nhận thức của trẻ khi người lớn hướng dẫn

hay định hướng cho trẻ. Chính quan hệ gần gũi, thân mật giữa thầy và trò sẽ

tạo điều kiện cho trẻ có được sự sẵn sàng tâm lý, từ đó trẻ sẽ có được tâm

trạng thoải mái, tự tin, phát huy được tính tích cực nhận thức, độc lập khám

phá và trường học trở thành ngôi nhà thứ hai của trẻ.

Xã hội - nơi mà trẻ đang sống và hoạt động có ảnh hưởng rất lớn đối

với sự sẵn sàng tâm lý của trẻ. Bởi đó là nơi mà trẻ được sẽ được hòa nhập,

trải nghiệm và lĩnh hội thông qua việc tham gia vào nhiều hoạt động một cách

thích thú, tự do theo ý mình để phát triển nhận thức, trí tuệ và các kỹ năng

khác. Như vậy, chính xã hội đã tạo điều kiện, mục đích, phương tiện và động

cơ thúc đẩy trẻ hoạt động một cách tích cực tự lập; nhờ đó nhận thức của trẻ

được hình thành ngày một bền vững hơn.

Tóm lại, việc giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện các phẩm chất và năng

lực nhằm giúp trẻ phát triển nhân cách một cách tồn diện là một q trình lâu

dài liên tục, diễn ra ở nhiều môi trường khác nhau, liên quan rất nhiều đến các

mối quan hệ xã hội phức tạp. Vì thế, việc giáo dục nói chung và giáo dục trẻ

nói riêng ln ln đòi hỏi sự phối kết hợp chặt chẽ của nhiều lực lượng xã

hội và nhất là đòi hỏi sự quan tâm đúng cách của nhà trường, gia đình và xã

hội. Ý nghĩa sâu sắc của việc phối hợp các lực lượng giáo dục đã được Bác

Hồ chỉ ra từ lâu: “Giáo dục trong nhà trường chỉ là một phần, còn cần có sự

giáo dục ngồi xã hội và trong gia đình để giúp cho việc giáo dục trong nhà

trường được tốt hơn. Giáo dục trong nhà trường dù tốt đến mấy, nhưng thiếu

giáo dục trong gia đình và ngồi xã hội thì kết quả cũng khơng hồn tồn”

(Trích bài nói từ hội nghị cán bộ Đảng trong ngành giáo dục tháng 6/1957).

c) Tính tích cực bản thân:

Hoạt động và giao tiếp là mức độ tương tác của trẻ với môi trường.

Đây là yếu tố quyết định trực tiếp sự sẵn sàng tâm lý đối với hoạt động học



27



tập của trẻ. Hoạt động của trẻ với đối tượng và giao tiếp của nó với người lớn

vừa là động lực, vừa là con đường, theo đấy trẻ tạo nên được sự sẵn sàng cho

chính mình.

Những biến đổi chủ yếu nhất trong sự hình thành sự sẵn sàng tâm lý

của trẻ là do hoạt động chủ đạo của lứa tuổi quy định. Ở mẫu giáo, hoạt động

chủ đạo của trẻ là hoạt động vui chơi nhưng khi lên lớp 1 với hoạt động học

tập là hoạt động chủ đạo nên các em phải đến trường đúng giờ, phải ngồi yên

hàng giờ trong lớp học, phải tiếp thu những tri thức trừu tượng, phải tuân thủ

nội quy trường lớp, vâng lời dạy của thầy cơ, khơng còn được tự do như khi

đi học mẫu giáo.

Đối với trẻ đầu lớp 1 giao tiếp có vai trò quan trọng giúp trẻ phát triển

trí tuệ và hình thành nên sự sẵn sàng tâm lý đối với việc học tập. Khi đến

trường trẻ phải thiết lập các mối quan hệ mới với thầy cô và với các bạn. Đối

với những trẻ đã có sự chuẩn bị tâm lý tốt thì trẻ sẽ thích nghi dần dần rồi

gắn bó với lớp học, với thầy cơ, bạn bè. Nhờ có giao tiếp trẻ sẽ nhận thức

được mình và người khác, biết đánh giá bản thân, đánh giá về người khác.

Chính sự hòa nhập, sẽ làm trẻ biết “hợp tác” cùng với mọi người xung quanh

để bộc lộ khả năng tiềm ẩn của bản thân, phát huy được các kỹ năng về tâm

lý của cá nhân. Ngược lại, trẻ chưa có sự sẵn sàng tâm lý thì thường có biểu

hiện “rụt rè, nhút nhát, khơng muốn chơi với ai”; đây là những ít giao tiếp và

gặp khó khăn trong giao tiếp đối với những người xung quanh. Chính vì vậy,

đây được xem là một “cửa ải” khơng dễ vượt qua nếu khơng có sự chuẩn bị

tốt về mặt tâm lý.

Cảm xúc: Các nhà tâm lí học đều thống nhất rằng, sự tương tác giữa trẻ

với môi trường được thơng qua “trường cư xử”; trong đó, các cảm xúc là

động lực của các ứng xử, còn tri giác, vận động và trí tuệ là cấu trúc hóa các

ứng xử đó. Hơn thế, người ta cũng phát hiện ra cơ sở sinh lí, sinh hóa của cảm

xúc và vai trò thúc đẩy hoặc kìm hãm của nó đối với hoạt động của con



28



người, đặc biệt là trong hoạt động học tập.Trong thực tiễn, cảm xúc vừa là

động lực thúc đẩy hoặc kìm hãm, vừa là định hướng cho một hành động trí

tuệ nào đó. Mức độ ảnh hưởng của cảm xúc tới hành động trí tuệ rất lớn lao

và trải ra trên một phạm vi rộng, từ những cảm xúc đơn giản, đến tình cảm

phức hợp và cuối cùng là sự tham gia của những linh cảm trực giác. Đặc biệt

là học sinh đầu lớp 1 - trẻ sống bằng tình cảm, các em chưa kìm chế được sự

biểu lộ xúc cảm của mình, tình cảm chưa bền vững, chưa sâu sắc.ở các em,

đối tượng của tình cảm dễ thay đổi “dễ xúc động, dễ khóc, dễ cười”, “ hay

hờn dỗi, tự ái”,… Nguyên nhân của hiện tượng này là do ở lứa tuổi đầu cấp

tiểu học, quá trình hưng phấn còn mạnh hơn ức chế, vỏ não chưa đủ sức

thường xuyên điều chỉnh hoạt động của bộ phận dưới vỏ não. Mặt khác, ý

thức và các phẩm chất của ý chí còn chưa có khả năng điều khiển và điều

chỉnh những cảm xúc của các em. Do vậy, yếu tố cảm xúc rất quan trọng và

cần thiết trong sự chuẩn bị sẵn sàng tâm lý đối với việc học học tập của trẻ;

bởi yếu tố cảm xúc sự chi phối đến hoạt động học tập: hầu như mọi q trình

nhận thức của các em đều mang tính cảm xúc.

Các yếu tố trên đây gắn bó tác động qua lại lẫn nhau, sự tương tác của

chúng tạo nên động lực và phương thức của sự sẵn sàng.



29



Tiểu kết chương 1

1.1. Sự SSTL là tâm thế của chủ thể hướng tới thực hiện một hành động

nào đó, nội dung tâm lý của sẵn sàng hành động bao gồm:

- Các kiến thức, kỹ xảo, kỹ năng và cả sự sẵn sàng và có khả năng khắc

phục khó khăn trở ngại trong quá trình hành động;

- Các động cơ mạnh mẽ thúc đẩy thực hiện hành động.

- Về cấu trúc, sẵn sàng hành động bao gồm các yếu tố: mức độ hình

thành động thái thần kinh của hành động, sự chuẩn bị về thể chất, sự sẵn sàng

của các yếu tố tâm lý.

1.2. Hoạt động học là khái niệm dùng để chỉ việc học diễn ra theo

phương thức đặc thù, nhằm lĩnh hội các hiểu biết mới, kĩ năng, kĩ xảo mới.

HĐHT lần đầu tiên xuất hiện và được coi là hoạt động chủ đạo ở Tiểu học.

Chính nhờ các yếu tố cấu thành hoạt động hay nói cách khác là do sự thay đổi

nội dung trong các yếu tố cấu thành hoạt động như các thay đổi về động cơ,

đối tượng, phương tiện…hoạt động mà sự biến đổi được tạo ra trong tư duy

trẻ em

1.3. Sự SSTL đối với việc học tập là trạng thái chủ quan của học sinh

thể hiện sự sẵn sàng tham gia hoạt động học tập. Sự sẵn sàng này được thể

hiện trong các mặt xúc cảm, tình cảm, ý chí và định hướng cho các q trình

tâm sinh lý của học sinh diễn ra theo một cách nhất định khi tham gia vào

hoạt động học tập.

1.4. HS đầu lớp 1 là trẻ bước sang tuổi thứ 6. Đây là giai đoạn đầu tiên

trẻ đến trường và trẻ đang dần chuyển hoạt động chủ đạo từ hoạt động vui

chơi sang hoạt động học tập. Vì vậy, đối với trẻ, việc bước vào trường Tiểu

học được coi là một bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời của trẻ; đó là trẻ

được chuyển qua một vị trí xã hội mới với những điều kiện hoạt động mới và

những mối quan hệ mới.



30



CHƯƠNG 2

NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Vài nét về địa bàn và khách thể nghiên cứu

Với mục đích tìm hiểu sự sẵn sàng tâm lí đối với việc học tập của học

sinh đầu lớp 1 thông qua trắc nghiệm “đến tuổi học” của Vitzlack, nghiên cứu

tiến hành thực nghiệm trên 96 học sinh thuộc trường Tiểu học Quảng Ngọc và

trường Tiểu học Quảng Thạch tại huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa. Đây

là hai ngơi trường cùng thuộc huyện Quảng Xương nhưng lại nằm trên hai địa

bàn khác nhau của huyện Quảng Xương.

2.1.1. Trường Tiểu học Quảng Ngọc:

Trường Tiểu học Quảng Ngọc là ngôi trường nằm trên địa bàn xã

Quảng Ngọc, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa. Trường đương thời là

trường Xuân Mọc được thành lập cách đây 95 năm. Đây là một ngơi trường

có điểm sáng về chất lượng giáo dục của huyện Quảng Xương nói riêng, của

tỉnh Thanh Hóa nói chung; là một ngơi trường có bề dày thành tích trong

phong trào thi đua dạy tốt - học tốt, là đơn vị tiêu biểu trong xây dựng trường

chuẩn Quốc gia.

Trong những năm vừa qua, trường đã tổ chức cho học sinh tham dự các

giải thi của các cấp từ cấp huyện, cấp tỉnh và cấp quốc gia và đã đạt được

nhiều thành tích xuất sắc. Đội ngũ giáo viên của trường Tiểu học Quảng Ngọc

có trình độ từ đại học sư phạm trở lên, giàu kinh nghiệm trong việc giảng dạy.

Trong năm học 2015 - 2016 trường tiếp nhận được 120 trẻ lên 6 tuổi từ

trường Mầm non Quảng Ngọc và phân công 4 giáo viên làm công tác chủ

nhiệm lớp 1. Các trẻ phần lớn là con em trong địa bàn xã Quảng Ngọc, gia

đình bố mẹ chủ yếu là bn bán, kinh doanh, một phần làm nông nghiệp và

con em công viên chức. Tuy nhiên chúng tôi chỉ lựa chọn ngẫu nhiên 48 em

để làm thực nghiệm đề tài tại trường Tiểu học Quảng Ngọc.

2.1.2. Trường Tiểu học Quảng Thạch

31



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

b) Yếu tố giáo dục:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×