Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
ĐỐI VỚI VIỆC HỌC TẬP CỦA HỌC SINH ĐẦU LỚP 1

ĐỐI VỚI VIỆC HỌC TẬP CỦA HỌC SINH ĐẦU LỚP 1

Tải bản đầy đủ - 0trang

Năm 1970 ở Pháp có bộ trắc nghiệm trí lực cho trẻ em chuẩn bị vào lớp

1 “ Đến tuổi học” có khả năng dự báo về sự “ chín muồi học đường” của trẻ

vào lớp 1 ngay từ đầu năm học.

Năm 1985 ở Nhật có bộ trắc nghiệm “ Test sẵn sàng đi học” đo khả

năng sẵn sàng đi học cho trẻ ở lứa tuổi này.

C.M.Sukina đã có cơng trình nghiên cứu về sự thích ứng học tập của

trẻ 6 tuổi. Nghiên cứu của bà đã chỉ ra rằng, sự thích ứng của trẻ 6 tuổi với

hoạt động học tập là khơng như nhau và có ba trình độ: cao, trung bình và

thấp với những biểu hiện cụ thể. Bà cũng chỉ ra rằng, phương pháp tác động

sư phạm ở trường mẫu giáo và trường tiểu học gây ảnh hưởng lớn tới sự thích

ứng của trẻ và cho rằng để giúp học sinh thích ứng tốt với hoạt động học tập,

bà đã chỉ ra, cần có giai đoạn quá độ mà ở đó, phương pháp tổ chức hoạt động

vui chơi và quan hệ cơ - trò của trường mẫu giáo cần được duy trì trong nửa

năm đầu học lớp 1.

Như vậy, các cơng trình nghiên cứu ở trên đều khẳng định tầm quan

trọng, cần phải có của giai đoạn trẻ bước vào lớp 1. Trong giai đoạn chuyển

tiếp này, ở trẻ diễn ra quá trình chuyển hoạt động chủ đạo từ hoạt động vui

chơi sang hoạt động học tập. Vì vậy, sẵn sàng tâm lý đối với việc học tập 1

cũng như khả năng thích ứng ở học sinh đầu lớp 1 là vấn đề đã được nhiều

quốc gia quan tâm và nghiên cứu.

1.1.2. Vấn đề nghiên cứu ở Việt Nam

Trong những năm gần đây, vấn đề về sự sẵn sàng tâm lý được các nhà

tâm lý học Việt Nam quan tâm và chủ yếu các nghiên cứu đều tập trung vào

trong và ngoài hoạt động học tập. Trong đó, ở lứa tuổi bậc Tiểu học, đa số các

nghiên cứu đều tập trung vào lứa tuổi đầu lớp 1. Có thể dẫn chứng một số

những nghiên cứu sau:



7



Năm 1985 trong tài liệu “ Sự phát triển trí tuệ của học sinh đầu tiểu

học” của tác giả Nguyễn Kế Hào đã đề cập đến đặc điểm phát triển tâm lý, trí

tuệ của trẻ 6 tuổi và việc chuẩn bị cho trẻ em đến trường.

Năm 1988, tác giả Nguyễn Ánh Tuyết với tài liệu “Tâm lý trẻ em trước

tuổi học” và với giáo trình bồi dưỡng giáo viên mầm non “Chuẩn bị cho trẻ 5

tuổi vào trường phổ thông” - xuất bản năm 1998. Trong hai tài liệu này, tác

giả và cộng sự đã chỉ rõ ý nghĩa của việc chuẩn bị cho trẻ vào trường phổ

thông, yêu cầu và nội dung chuẩn bị cho trẻ. Trong bài viết khác, tác giả cho

rằng nếu việc chuẩn bị không phù hợp sẽ gây ra những hậu quả đáng tiếc khi

trẻ vào lớp 1.

Đề tài cấp bộ: “Sự thích nghi với hoạt động học tập của học sinh tiểu

học” (1994 - 1995) do tác giả Vũ Thị Nho và các cộng sự đã chỉ ra tỷ lệ học

sinh lớp 1 đầu cấp tiểu học thích nghi với hoạt động học tập ở mức chưa cao.

Những khó khăn do giảm hứng thú học tập của học sinh thường diễn ra vào

tháng thứ 3, 4 của năm học. Nghiên cứu cũng chỉ ra một vài những nguyên

nhân ảnh hưởng đến tình trạng giảm hứng thú học tập của học sinh đầu cấp

tiểu học và rút ra kết luận: để học tập tốt trẻ em đầu cấp tiểu học phải đáp ứng

được những đòi hỏi của chính việc học tập, có sự sẵn sàng đi học, thích nghi

với mơi trường xã hội mới ở lớp học, trường học, đồng thời.

Tác giả Vũ Ngọc Hà và các cộng sự ở Viện Tâm lý học có đề tài nghiên

cứu mang tên “Tương quan giữa tâm thế sẵn sàng đi học với khó khăn tâm lý

của học sinh đầu lớp 1”. Đề tài tập trung vào hai mặt xúc cảm và tâm sinh lý.

Tác giả chỉ ra được tâm thế sẵn sàng đi học của học sinh được hình thành

trong q trình tích lũy kiến thức kinh nghiệm từ hoạt động học tập ở lớp mẫu

giáo và từ sự chuẩn bị của gia đình cho trẻ trước khi vào lớp 1. Độ vững chắc

của tâm thế sẵn sàng đi học là có điều kiện, nó sẽ bị mất đi nếu học sinh

khơng thường xun củng cố và tích lũy. Chính vì vậy có học sinh những



8



ngày đầu đến trường tiểu học thì rất thích thú nhưng chỉ sau một thời gian

ngắn đã chán nản mỗi khi phải đến trường. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy,

khi học sinh đầu lớp 1 có tâm thế sẵn sàng đi học ở mức thấp thì các em sẽ có

nhiều khó khăn hơn trong việc tuân thủ các nội quy học tập thực hiện nề nếp

học tập. Ngược lại, những học sinh này nếu càng được chuẩn bị tốt để có tâm

thế sẵn sàng đi học thì các em sẽ càng có hứng thú học tập, đồng thời những

khó khăn học tập cũng thuyên giảm.

Theo tác giả Phan Phúc Lâm thì sự sẵn sàng với hoạt động học tập của

học sinh lớp 1 được hình thành trong chính hoạt động tích cực của học sinh.

Hoạt động học tập của các em có quan hệ với sự phát triển trí tuệ, hồn cảnh

gia đình, giới tính và tác động tâm lý - sư phạm của giáo viên trong q trình

dạy và học. Có thể nâng cao việc học tập của học sinh bằng việc tác động đến

nhận thức của giáo viên trong quá trình dạy học, chú ý hình thành ở trẻ những

hành vi, ứng xử phù hợp với việc học tập.

Nhìn chung các cơng trình nghiên cứu trong nước về lứa tuổi vào lớp 1

chưa nhiều và thường được nghiên cứu bởi những trắc nghiệm của nước

ngồi đã được việt hóa. Từ năm 1993 trở về trước, các nội dung về việc chuẩn

bị cho trẻ vào trường phổ thông,.. chủ yếu chỉ được bàn trong các giáo trình

hay tài liệu tập tập huấn; còn các cơng trình nghiên cứu sau cũng chỉ mới bắt

đầu đưa ra từ năm 1993 trở lại đây, nhưng số lượng còn rất hạn chế. Do đó,

việc nghiên cứu về đề tài “Sự sẵn sàng tâm lý đối với việc học tập của học

sinh đầu lớp 1” là việc làm cần thiết, qua đó góp phần làm cho việc chuẩn bị

cho trẻ vào lớp 1 được tốt hơn.

1.2. Một số khái niệm công cụ về sự sẵn sàng tâm lí đối với việc học

tập của HS đầu lớp 1

1.2.1. Sự sẵn sàng tâm lý

Để hiểu rõ được khái niệm “Sự sẵn sàng tâm lý” trước tiên chúng ta

hãy cùng tìm hiểu hai khái niệm “Sẵn sàng” và “Tâm lý”.



9



Vậy “Sẵn sàng là gì?” và “Tâm lý là gì?”. Theo cuốn từ điển Tiếng Việt

(do Hoàng Phê chủ biên) do nhà xuất bản Khoa học Xã hội - Trung tâm Từ

điển Hà Nội ấn hành năm 1994 thì:

“Sẵn sàng”là ở trạng thái có thể sử dụng hoặt hành động được ngay do

đã được chuẩn bị đầy đủ”. Như vậy khi nhắc đến sự sẵn sàng là ta đang nhắc

đến một sự chuẩn bị đầy đủ những điều kiện lý tưởng nhất để xuất phát, để bắt

đầu. Tuy nhiên, cũng cần phân biệt sự sẵn sàng lâu dài và sẵn sàng tạm thời.

Sự sẵn sàng lâu dài là một cấu trúc bao gồm:

- Một thái độ tích cực đối với một loại hoạt động này hay hoạt động

khác.

- Đặc điểm, khả năng, tính khí, động cơ phù hợp với những đòi hỏi của

hoạt động học tập.

- Những tri thức, kỹ năng và kỹ xảo cần thiết.

- Ổn định các tính năng chuyên nghiệp quan trọng của tri thức, chú ý,

tư duy cảm xúc và các q trình của ý chí.

Khác với trạng thái sẵn sàng lâu dài là trạng thái sẵn sàng tạm thời. Sự

sẵn sàng tạm thời phản ánh đặc điểm và u cầu của tình hình sắp tới. Các

tính năng chính của nó tương đối ổn định, hiệu quả của ảnh hưởng đến quá

trình hoạt động tương ứng với cấu trúc của các điều kiện tối ưu của sự sẵn

sàng để đạt được mục tiêu.

Như vậy, cả hai trạng thái trên đều nêu lên được đặc tính của tính sẵn

sàng đối với hoạt động của con người, chúng cùng tồn tại và quan hệ thống

nhất với nhau.

“Tâm lý’’là sự phản ánh của hiện thực khách quan vào ý thức con

người bao gồm nhận thức, tình cảm, ý chí biểu hiện trọng hoạt động và cử chỉ

của mỗi người. Ngoài ra, “Tâm lý” còn muốn nói đến nguyện vọng ý thích, thị

hiếu riêng của mỗi người trong một hồn cảnh cụ thể nào đó”.

Vậy “Sự sẵn sàng tâm lý là gì?”



10



Theo N.D. Lêvitov, sự sẵn sàng tâm lí đối với hoạt động là một trạng

thái quan trọng của con người. Ông cũng xác định rõ sự sẵn sàng tâm lý đối

với hoạt động như là một trạng thái, nó có thể lâu dài hoặc ngắn ngủi là việc

chỉ ra sự phụ thuộc của những trạng thái đó vào những đặc điểm cá thể của

nhân cách vào những kiểu hoạt động thần kinh cao cấp của con người, cũng

như vào những điều kiện mà hoạt động diễn ra trong đó.

Trong “Từ điển tâm lý học”, tác giả Vũ Dũng đã nêu khái niệm về sự

sẵn sàng tâm lý như sau:

Sự sẵn sàng tâm lý là tâm thế của chủ thể hướng tới thực hiện một

hành động nào đó, nội dung tâm lý của sẵn sàng hành động bao gồm:

- Các kiến thức, kỹ xảo, kỹ năng và cả sự sẵn sàng và có khả năng khắc

phục khó khăn trở ngại trong quá trình hành động

- Các động cơ mạnh mẽ thúc đẩy thực hiện hành động.

- Về cấu trúc, sẵn sàng hành động bao gồm các yếu tố: mức độ hình

thành động thái thần kinh của hành động, sự chuẩn bị về thể chất, sự sẵn

sàng của các yếu tố tâm lý”.

Như vậy dựa vào hướng nghiên cứu mà có cách hiểu “Sự sẵn sàng tâm

lý” phù hợp với mục đích nghiên cứu. Với đề tài “Sự sẵn sàng tâm lý đối với

việc học tập của học sinh đầu lớp 1”, tôi đề xuất hiểu thuật ngữ “Sự sẵn sàng

tâm lý” theo tác giả Vũ Dũng trong từ điển Tâm lý. Khái niệm này cho ta một

cái nhìn tổng quan tồn diện về “sự sẵn sàng tâm lý”.

1.2.2. Hoạt động học tập

1.2.2.1. Hoạt động học

Theo từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê (chủ biên) thì:

“Học” là thu thập kiến thức, luyện tập các kỹ năng do người khác

truyền lại.

Học tập là một hoạt động đặc trưng chỉ có ở con người. Có nhiều khái

niệm khác nhau về hoạt động học tập.



11



Chủ nghĩa hành vi quan niệm học tập là quá trình kích thích - phản ứng

theo cơng thức S - R.

Tâm lý học Gestslt coi học tập là quá trình giải quyết vấn đề, nhấn

mạnh quá trình nhận thức giữa S - R.

Thuyết học tập tín hiệu (mỗi kích thích là một tiến hiệu) của E.Tolman

được coi là chủ nghĩa hành vi mục đích và thường được xem là cầu nối giữa

chủ nghĩa hành vi và thuyết nhận thức. Theo thuyết tín hiệu thì một cơ thể học

bằng cách theo đuổi các tín hiệu tới mục đích, việc học đạt được qua hành vi

có ý nghĩa. E.Tolman nhấn mạnh khía cạnh có tổ chức của việc học. Ơng

quan niệm việc học thường gắn với mục đích trực tiếp, việc học thường liên

quan đến sử dụng các yếu tố môi trường để đạt được mục đích, các cơ thể sẽ

lựa chọn con đường ngắn nhất hoặc dễ nhất để đạt tới mục đích đó.

Lý thuyết về học tập của Thorndike đi từ cấu trúc S - R của Tâm lý học

hành vi, việc học là kết quả của sự kết hợp giữa các kích thích và phản ứng.

Những sự kết hợp hoặc thói quen sẽ được cũng cố hoặc suy yếu do bản chất

hoặc tần suất của các cặp S - R. Mơ hình cho thuyết S - R là việc học thử và

sai, trong đó các phản ứng nhất định trở nên chiếm ưu thế hơn các phản ứng

khác vì được thưởng. dấu hiệu phân biệt giữa thuyết liên kết của Thorndike

với các thuyết khác là việc học có thể được giải thích đầy đủ mà khơng cần đề

cập tới bất kỳ một trạng thái nào không quan sát được bên trong.

L.X Vugotxky đưa ra khái niệm “vùng phát triển gần nhất”: một cấp độ

phát triển đạt được khi đứa trẻ tham gia vào hành vi xã hội. Sự phát triển hoàn

toàn của vùng phát triển gần nhất phụ thuộc vào sự tương tác xã hội đầy đủ,

số các kĩ năng đứa trẻ đạt được với người hướng dẫn.



12



Ở Việt nam các nhà Tâm lý - Giáo dục học cũng đưa ra các quan niệm

khác nhau về học tập. Phạm Minh Hạc, Phạm Hoàng Gia đã nêu ra bốn vấn

đề cơ bản của hoạt động học tập như sau:

+Đối tượng của hoạt động học tập là tri thức, kĩ năng, kĩ xảo.

+Mục đích của hoạt động học tập là hướng vào làm thay đổi chính bản

thân chủ thể của hoạt động.

+Hoạt động học tập là loại hoạt động lĩnh hội tri thức, kĩ năng, kĩ xảo.

+Hoạt động học tập hướng vào việc tiếp thu tri thức của bản thân hoạt

động.

Nhìn chung, mỗi tác giả nghiên cứu về hoạt động học tập ở các góc độ

khác nhau, nhưng đều nhận định về tính có ý thức, có chủ thể của hoạt động

học tập. Hoạt động học tập là hoạt động có ý thức nên nó mới thức đẩy bởi

động cơ và có mục đích xác định. Động cơ học tập là yếu tố kích thích người

học hoạt động và biến đổi bản thân mình. Nguồn gốc động cơ học tập của

học sinh có thể từ bên trong, tức là từ nhu cầu nhận thức, nhu cầu muốn có

ích cho xã hội, cũng có thể xuất phát từ bên ngồi, do nhu cầu của nhà

trường và gia đình; hoặc là xuất phát từ xu hướng, hứng thú, thế giới quan,

niềm tin của học sinh.

Từ những nghiên cứu trên, có thể hiểu: Hoạt động học tập là hoạt động

có mục đích, có kế hoạch của người học, nhằm chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng, kĩ

xảo để phát triển toàn diện bản thân.

1.2.2.2. Hoạt động học tập của học sinh đầu lớp 1:

Hoạt động học bắt đầu nảy sinh và hình thành với tư cách là hoạt động

chủ đạo khi đứa trẻ tròn 6 tuổi và bắt đầu bước chân tới trường.

Hoạt động học trở thành hoạt động chủ đạo của trẻ đầu lớp 1. Trong

giai đoạn phát triển tâm lý của mình, trẻ có một hoạt động thể hiện quan hệ

nổi bật, chiếm ưu thế giữa các em với một loại đối tượng trong hiện thực. Đây

là hoạt động lần đầu tiên xuất hiện với tư cách là chính nó, hoạt động học tập



13



có vai trò và ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển tâm lý của trẻ.

Cùng với cuộc sống nhà trường, hoạt động học tập đem đến cho trẻ nhiều điều

mà trước đây trẻ chưa bao giờ có được hoặc không thể tiếp cận được.

Vào lớp 1, trẻ bắt đầu thực hiện “bước quá độ” vĩ đại nhất trong toàn

bộ cuộc đời. Nếu như ở tuổi mẫu giáo, hoạt động vui chơi chiếm vị trí chủ

đạo thì khi vào trường Tiểu học, hoạt động học tập lại là hoạt động chủ đạo.

Sự chuyển đổi hoạt động chủ đạo này kéo theo một loạt những thay đổi khác

trong cuộc sống, đặt trẻ vào một tình huống mới chưa từng gặp, dễ gây ra

cuộc “ khủng hoảng” trong sự phát triển hiện tại và lâu dài với trẻ.

Hoạt động học có đối tượng (nội dung) là tri thức khoa học được phản

ánh thông qua các môn học. Trước tuổi học, ở gia đình và ở lớp mẫu giáo, trẻ

lĩnh hội những tri thức kinh nghiệm thơng qua các trò chơi. Còn với hoạt

động học tập, nội dung lĩnh hội của trẻ lớp 1 là các khái niệm khoa học, phổ

thông, chính xác và hiện đại được tổ chức dưới hình thức các mơn học. Để trẻ

tiến hành có hiệu quả quan hệ với các đối tượng mới này, trẻ buộc phải có

những phẩm chất, năng lực và hành vi mới mà trước đó trẻ chưa có.

Ngồi ra, hoạt động học còn hướng vào việc lĩnh hội cách học. Với trẻ

vào lớp 1, hoạt động học được tiến hành theo một nguyên lý mới. Để thực

hiện hoạt động này có hiệu quả và để tiến hành được phương thức mới, một

phương thức sống mà đến đó trẻ chưa có thể có được.

Những đặc điểm cơ bản nêu trên của hoạt động học đòi hỏi trẻ phải có

những thay đổi căn bản về cách thức sống, cách thức hoạt động để có thể

đáp ứng được những yêu cầu của việc học. Vì vậy, để đạt kết quả cao trong

học tập đòi hỏi trẻ phải sẵn sàng tâm lý với môi trường nhà trường và hoạt

động học.



14



1.2.3. Sự sẵn sàng tâm lý đối với việc học tập

Sự thống nhất của các đặc điểm tâm lý của chủ thể, đảm bảo sự khởi

đầu học tập có kết quả trong nhà trường. Có hai dạng chuẩn bị tâm lý cho việc

học tập trong nhà trường là: riêng biệt và chung. Trong trường hợp thứ nhất,

các chỉ số cá nhân được xem xét chủ yếu thiên về sự phát triển trí tuệ và vận

động, được so sánh với những chuẩn lứa tuổi đã được đưa ra trong các đo đạc

đại trà. Nếu các giá trị của các chỉ số cá nhân không thấp hơn giới hạn cuối

cùng thì đứa trẻ được thừa nhận là đã sẵn sàng đối với việc học tập ở trường.

Trong những năm gần đây, chúng ta thấy có sự khác biệt cao của chuẩn các

khu vực (các nhóm) và vì vậy việc so sánh các chỉ số cá nhân với “các chuẩn

nhóm” đòi hỏi phải hợp lý hơn. Với tư cách loại chỉ số của sự sẵn sàng riêng

biệt, có thể sử dụng các chỉ số thành tích theo chương trình mẫu giáo (ví dụ:

tính tốn trong khoảng 10, tốc độ đọc,….).

Độ tiên cậy mang tính dự báo khơng đầy đủ của các đo đạc sự sẵn sàng

riêng biệt buộc phải chú ý đến sự sẵn sàng về mặt nhân cách nói chung, được

hiểu là một trình độ cần thiết của sự phát triển tâm lý chung, được quy định

bởi sự phát triển đầy đủ ở trẻ trước tuổi học. Thuộc về các chỉ số của sự sẵn

sàng chung có đặc điểm của tính chủ định của hoạt động, sự hình thành giao

tiếp với người lớn và bạn cùng tuổi, sự phát triển hành vi có tính ngun tắc,

tính sẵn sàng hợp tác với giáo viên trong cơng việc, thái độ tích cực đối với

trường học và với việc học tập,… Nguyên tắc đánh giá sự sẵn sàng cũng là

việc so sánh các chỉ số cá nhân với chuẩn của lứa tuổi.

Một ví dụ trắc nghiệm “Sự chín muồi trường học” là trắc nghiệm của

Kern - Ierasek, được tạo thành từ ba tiểu trắc nghiệm là:

- Vẽ người (thể hiện trình độ phát triển tâm lý chung)

- Vẽ phỏng theo một sơ đồ mẫu về sự phân bố các dấu chấm (kỹ năng

hành động theo nguyên tắc hình thức)



15



- Chép lại (vẽ lại) câu (biểu tượng về sự phân chia ngôn ngữ thành từ

và các chữ cái riêng biệt).

- Các chỉ số của từng tiểu trắc nghiệm được cộng lại, điểm tổng sẽ cho

biết trình độ sẵn sàng (khơng sẵn sàng).

Trong những năm gần đây, xuất hiện và được phát triển quan điểm về

hệ thống dạy học phổ thông linh hoạt, đảm bảo ngăn ngừa những khó khăn có

thể có, điều chỉnh những khó khăn đã nảy sinh và cho phép giảm bớt yêu cầu

đối với sự sẵn sàng đến trường của trẻ, đồng thời tạo ra những điều kiện dạy

học có kết quả chon tất cả các trẻ đến trường. Chính theo nguyên tắc này,

nhiều chương trình tiến bộ nhất cho các lớp (nhóm) của trẻ sáu tuổi đã được

xây dựng.

Như vậy, có thể hiểu sự sẵn sàng tâm lý đối với việc học tập là trạng

thái chủ quan của học sinh, thể hiện sự sẵn sàng tham gia việc học tập. Hay

nói cách khác là trẻ được chuẩn bị tâm lý sẵn sàng đi học - hay còn gọi là “sự

chín muồi”. Sự sẵn sàng này được thể hiện trong các mặt xúc cảm, tình cảm,

ý chí và định hướng cho các quá trình tâm sinh lý của học sinh diễn ra theo

một cách nhất định khi tham gia vào việc học tập.

Sự sẵn sàng tâm lý đối với việc học tập của học sinh được hình thành

trong quá trình tích lũy kiến thức, kinh nghiệm từ hoạt động học tập ở lớp

mẫu giáo và từ sự chuẩn bị của gia đình cho trẻ ở giai đoạn đầu lớp 1. Độ

vững chắc của sự sẵn sàng tâm lý đối với việc học tập là có điều kiện, nên nó

sẽ bị mất đi nếu như học sinh không thường xuyên được củng cố, tích lũy.

1.2.4. Học sinh đầu lớp 1

1.2.4.1. Khái quát về học sinh đầu lớp 1

Học sinh đầu lớp 1 là khi các em bước vào tuổi thứ 6 và cũng là lần đầu

tiên trẻ đến trường trở thành học sinh. Đây là một bước ngoặt quan trọng

trong quá trình phát triển của trẻ so với hoạt động vui chơi ở lứa tuổi mẫu



16



giáo. Nhà tâm lý học Pháp Maurce Debesce gọi lứa tuổi này là: “Trang sử

mới của cuộc đời đứa trẻ”, có nhà tâm lý học khác gọi là: “Cửa ải phân chia

hai cuộc sống khác nhau” hoặc “cửa ải lớp 1”. Trẻ em ở lứa tuổi này thực

hiện bước chuyển hoạt động chủ đạo từ hoạt động vui chơi sang hoạt động

học tập. Môi trường thay đổi đòi hỏi trẻ phải tập trung chú ý thời gian liên tục

từ 30 - 35 phút. Nhu cầu nhận thức chuyển từ hiếu kỳ, tò mò sang tính ham

hiểu biết, hứng thú khám phá. Trẻ bắt đầu kiềm chế dần tính hiếu động, bột

phát để chuyển thành tính kỷ luật, nề nếp, chấp hành nội quy học tập. Tính

nhạy và sức bền vững, tính khéo léo của các thao tác của đôi bàn tay để tập

viết được phát triển nhanh. Tất cả điều đó đều là thử thách đối với học sinh

đầu lớp một.

1.2.4.2. Đặc điểm phát triển tâm sinh lý của học sinh đầu lớp 1

Ở giai đoạn này, những biến đổi tích cực diễn ra ở mọi lĩnh vực bắt đầu

từ việc hoàn thiện các chức năng tâm sinh lý và kết thúc bởi sự xuất hiện

những tổ hợp nhân cách phức tạp. Có thể khái quát đặc điểm phát triển tâm

sinh lý của học sinh đầu lớp 1 ở một số khía cạnh sau:

Trong lĩnh vực cảm giác có thể quan sát thấy sự giảm một cách đáng kể

ngưỡng của tất cả những thuộc tính nhạy cảm. Sự phân hóa tri giác được tăng

lên. Vai trò đặc biệt trong phát triển tri giác ở tuổi đầu lớp 1 là sự dịch chuyển

từ việc sử dụng hình ảnh của đồ vật cụ thể đến các hình mẫu - những biểu

tượng đã được thừa nhận về các dạng cơ bản của từng thuộc tính.

Chú ý ở tuổi này mang tính khơng chủ định, trạng thái chú ý tăng

cường liên quan đến định hướng từ mơi trường bên ngồi với quan hệ cảm

xúc với mơi trường đó.Trong những đặc điểm, bản chất của những ấn

tượng bên ngồi đó được tăng lên và cùng với sự phát triển của đứa trẻ

cũng bị thay đổi. Sự tăng cường mang bản chất của việc ổn định chú ý

được thể hiện trong các nghiên cứu mà ở đó trẻ được yêu cầu xem các bức



17



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

ĐỐI VỚI VIỆC HỌC TẬP CỦA HỌC SINH ĐẦU LỚP 1

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×