Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hình 4.2: Quy trình soạn lập dự toán ngân sách theo

Hình 4.2: Quy trình soạn lập dự toán ngân sách theo

Tải bản đầy đủ - 0trang

các bản báo cáo sau:

- Báo cáo kết quả: Mục đích của báo cáo kết quả là phân tích đầy đủ

mối quan hệ giữa đầu ra và kết quả; xác định tất cả các kết quả phát sinh từ

đầu ra; kết quả được miêu tả có thống nhất với mục tiêu hay không; những kết

quả phát sinh từ các đầu ra của đơn vị...

- Báo cáo đầu ra: Để truyền tải thơng tin hữu ích về kết quả, cũng như

các nguồn lực và quá trình thực hiện cho cơ quan quản lý tài chính, cơ quan

quản lý cấp trên, đơn vị cần lập báo cáo về đầu ra. Báo cáo đầu ra khơng phân

tích q chi tiết các đầu ra hoặc liệt kê một cách sơ lược các danh mục đầu ra

mà được xác định các đầu ra ở mức hợp lý. Đối với lĩnh vực được giao quản

lý của TCDTNN, báo cáo đầu ra được căn cứ vào kết quả thực hiện nhiệm vụ

được giao, chất lượng công tác quản lý quỹ DTQG, cơng tác bảo tồn vốn,

cơng tác bảo quản hàng hóa, huy động động vốn cho đầu tư phát triển, an tồn

kho hàng hóa DTQG…

Những khía cạnh cần cân nhắc để lập báo cáo đầu ra ở mức hợp lý bao

gồm: các nguồn tài liệu liên quan đến các đầu ra để đạt được những kết quả

dự kiến; cung cấp đầy đủ thông tin về cơ sở hoạt động của đơn vị để xác định

trách nhiệm và quá trình cung ứng các đầu ra; danh mục của các hoạt động

phải có tiêu thức đồng nhất khi được tổng hợp thành mỗi đầu ra cho mục đích

báo cáo chi phí.

- Báo cáo chi phí: Mục đích của báo cáo này là cung cấp tồn bộ thơng

tin về chi phí; cung cấp cho cơ quan quản lý tài chính, cơ quan quản lý cấp

trên thông tin lựa chọn những người cung cấp đầu ra thay thế; hình thành cơ

sở cho việc tài trợ thơng qua tiến trình lập dự tốn ngân sách và phân bổ

nguồn lực tài chính.

Cơng tác quyết tốn kinh phí NSNN

Trong thời gian qua, cơng tác thẩm định, xét duyệt quyết toán của cơ

quan quản lý cấp trên đối với các đơn vị cấp dưới trực thuộc của Bộ Tài chính

70



nói chung, hệ thống TCDTNN nói riêng chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý

cũng như chưa đánh giá được hiệu quả sử dụng kinh phí gắn với chất lượng,

khối lượng công việc thực hiện. Để khắc phục các hạn chế này, cần thay đổi

quy định về xét duyệt, thẩm định quyết tốn kinh phí hoạt động của các đơn

vị DTNN hiện nay theo hướng:

- Đơn vị trực tiếp sử dụng kinh phí NSNN lập báo cáo quyết toán hàng

năm theo mẫu biểu quy định, trong đó báo cáo tình hình sử dụng và quyết

tốn kinh phí hoạt động được lập theo chế độ báo cáo trong khuôn khổ quản

lý ngân sách theo kết quả đầu ra và phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước cơ

quan quản lý cấp trên, cơ quan quản lý tài chính và trước pháp luật về cơng

tác quản lý và tình hình sử dụng, quyết tốn kinh phí NSNN tại đơn vị, quy

định này hoàn toàn phù hợp với mục tiêu thực hiện chế độ tự chủ tài chính

về sử dụng kinh phí quản lý hành chính theo Nghị định số 130/2005/NĐ-CP

ngày 17/10/2005 của Chính phủ và các quy định hiện hành về chế độ trách

nhiệm của Thủ trưởng đơn vị; Nghị định số 196/2004/NĐ-CP ngày

2/12/2004 về việc qui định chi tiết thi hành Pháp lệnh Dự trữ quốc gia đối

với các nội dung, nhiệm vụ của đơn vị và phù hợp với chủ trương nâng cao

tính tự chủ và tăng cường chế độ trách nhiệm với người đứng đầu các cơ

quan, đơn vị; đồng thời, bắt buộc các đơn vị sử dụng ngân sách khi lập Báo

cáo quyết toán năm phải đánh giá và thuyết minh đầy đủ tình hình và kết quả

thực hiện nhiệm vụ, cũng như công tác quản lý, sử dụng kinh phí trong năm

của đơn vị, khắc phục hạn chế về chất lượng Báo cáo quyết toán chưa đảm

bảo và đáp ứng yêu cầu quản lý trong thời gian qua.

- Trên cơ sở Báo cáo quyết toán của các đơn vị DTNN, Cục DTNN và

TCDTNN là đơn vị cấp trên trực tiếp thực hiện đối chiếu, thẩm định số liệu

quyết toán theo từng nội dụng, nhiệm vụ được phê duyệt và dự toán được

giao trong năm, tình hình chấp hành pháp luật, chính sách, chế độ tài chính,

kế hoạch NSNN, trên cơ sở đó tổng hợp quyết tốn kinh phí hoạt động của cả

71



hệ thống DTNN để báo cáo các cơ quan quản lý theo quy định.

Cơ quản lý cấp trên là đơn vị dự toán cấp I trực thuộc Bộ Tài chính (Vụ Kế

hoạch – Tài chính) có trách nhiệm tổng hợp quyết tốn kinh phí NSNN của tồn

hệ thống, báo cáo các cơ quan quản lý nhà nước theo quy định (Bộ Tài chính).

Cơng tác thẩm định và tổng hợp Báo cáo quyết toán ngân sách như trên

là phù hợp với việc thực hiện lập dự toán theo kết quả đầu ra, do dự toán được

phân bổ và giao cho hệ thống DTNN hàng năm đã được cơ quan quản lý cấp

trên thẩm định từng nội dung, nhiệm vụ thực hiện trong năm trên cơ sở chính

sách, chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu tài chính, sử dụng tài sản... phù

hợp với yêu cầu triển khai công việc của hệ thống DTNN; đồng thời, khắc

phục việc quy đồng trách nhiệm của Thủ trưởng cơ quan quản lý cấp trên đối

với các quyết định chi tiêu do Thủ trưởng đơn vị trực tiếp sử dụng ngân sách

thực hiện. Mặt khác, việc đổi mới công tác thẩm định, xét duyệt quyết tốn

như trên đòi hỏi phải nâng cao trách nhiệm trong việc kiểm tra, kiểm soátcác

khoản chi của KBNN và đáp ứng yêu cầu thống nhất về quy trình, thủ tục

kiểm tra, kiểm sốtcủa Kho bạc nhà nước. Bên cạnh đó, việc đánh giá, xác

nhận một cách chính xác tính hợp lệ, hợp pháp và đặc biệt là tính hiệu quả,

hiệu lực của quản lý NSNN của các đơn vị DTNN thông qua công tác kiểm

toán của Kiểm toán Nhà nước sẽ đảm bảo yêu cầu công khai, minh bạch trong

quản lý, sử dụng NSNN.

4.2.2. Xây dựng, ban hành tiêu chí đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ

Để đánh giá hiệu quả quản lý, sử dụng kinh phí quản lý của các đơn vị

DTNN yêu cầu phải đánh giá trên cơ sở mối tương quan giữa kết quả, chất

lượng công việc đạt được và kinh phí triển khai thực hiện nhiệm vụ của các

đơn vị DTNN.

Vụ Tài vụ - Quản trị thuộc TCDTNN với chức năng là đơn vị quản lý

tài chính tồn hệ thống, giúp Tổng Cục trưởng thống nhất quản lý về tài

chính, tài sản, đầu tư phát triển và xây dựng trong toàn hệ thống DTNN cần

72



sớm nghiên cứu, xây dựng, trình Tổng Cục trưởng TCDTNN, Bộ Tài chính

ban hành quy định hệ thống các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành và chất

lượng thực hiện nhiệm vụ được giao đối với các đơn vị DTNN thực hiện chế

độ tự chủ tài chính về quản lý kinh phí thuộc phạm vi quản lý, đây là thước đo

hiệu quả hoạt động và cũng là thước đo hiệu quả quản lý và sử dụng kinh phí

tại các đơn vị DTNN.

Thơng qua cơng tác đánh giá sẽ cho phép xác định đúng đắn những mặt

tích cực, những tồn tại trong cơng tác quản lý và sử dụng kinh phí NSNN tại

mỗi đơn vị, cũng như những mặt tích cực, các hạn chế trong hoạt động của

mỗi đơn vị DTNN nói riêng và hoạt động của hệ thống TCDTNN nói chung,

để trên cơ sở đó đề xuất, bổ sung, hồn thiện, hoặc xây dựng cơ chế quản lý

mới phù hợp hơn.

Tiêu chí để làm căn cứ đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ của các

đơn vị được xây dựng trên một số chỉ tiêu sau:

- Tổ chức thực hiện công việc: Tiến độ thực hiện, quy trình xử lý, giải

quyết cơng việc; mức độ hồn thành, chất lượng và kết quả cơng việc đạt được.

- Khả năng tổ chức, quản lý đơn vị và điều hành cơng việc; chấp hành

pháp luật, chính sách, chế độ, tiêu chuẩn, định mức trong quản lý và sử dụng

kinh phí của Thủ trưởng các đơn vị DTNN.

- Mức độ chấp hành chỉ đạo, sự phân công của cấp trên; công tác phối

hợp với các đơn vị liên quan trong xử lý, giải quyết công việc;

- Công tác chấp hành chế độ báo cáo của đơn vị...

Hệ thống các tiêu chí đánh giá mức độ hồn thành và chất lượng thực

hiện nhiệm vụ được ban hành, là căn cứ để các đơn vị DTNN thuộc hệ thống

TCDTNN cụ thể hố từng nội dung, tiêu chí đánh giá phù hợp với lĩnh vực quản

lý, chức năng, nhiệm vụ được giao và đặc thù, đặc điểm hoạt động của đơn vị;

trong đó, đối với mỗi tiêu chí có thang bảng điểm để phân loại, xếp hạng mức độ

hoàn thành và chất lượng thực hiện nhiệm vụ được giao (như: xuất sắc, khá,

73



trung bình, kém) đối với từng bộ phận cũng như CBCC của đơn vị.

4.2.3. Nâng cao ý thức tự chủ tài chính và kiện tồn tổ chức bộ máy

- Nâng cao hơn nữa nhận thức tự chủ trong các cấp Lãnh đạo và CBCC

về tự chủ tài chính.

Thực tế cho thấy, cơng tác quản lý tài chính thực hiện theo chế độ tự

chủ, chế độ khốn phí nghiệp vụ chuyên môn đối với các đơn vị thuộc hệ

thống TCDTNN trực thuộc Bộ Tài chính trong những năm qua đã đạt được

những kết quả khả quan. Những mục tiêu, yêu cầu của Nghị định

130/2005/NĐ-CP, Nghị định số 196/2004/NĐ-CP ngày 2/12/2004 về việc

qui định chi tiết thi hành Pháp lệnh Dự trữ quốc gia về cơ bản đã đạt được.

Tuy nhiên, trong quá trình đổi mới cơ chế quản lý tài chính, một bộ phận

CBCC và Lãnh đạo các đơn vị DTNN vẫn còn muốn duy trì cơ chế cũ do tâm

lý trì trệ, quen bao cấp, ngại đổi mới, lo ngại sau khi được tự chủ tài chính thì

kinh phí cấp cho đơn vị sẽ giảm, thậm chí có người băn khoăn về chất lượng

hoạt động của đơn vị sẽ giảm, sự công bằng trong phân phối thu nhập, gây

mất đoàn kết nội bộ. Lý do này đã ảnh hưởng đến chất lượng của cơng tác

quản lý tài chính của Tổng cục. Vì vậy, Lãnh đạo các đơn vị DTNN, toàn thể

CBCC trong hệ thống TCDTNN và đặc biệt là cán bộ làm cơng tác quản lý tài

chính cần thống nhất về nhận thức trong việc thực hiện cơ chế tự chủ tài

chính, cơ chế khốn về phí nghiệp vụ chun mơn, đồn kết, phấn đấu thực

hiện mục tiêu chung. Muốn vậy phải tăng cường tuyên truyền, giáo dục tư

tưởng, ý thức chấp hành cho CBCC thông qua hội nghị, tập huấn, hội thảo…

làm cho CBCC nhận thức được việc thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách

nhiệm về sử dụng biên chế và tài chính, cơ chế khốn phí nghiệp vụ chun

mơn là biện pháp tích cực góp phần nâng cao hiệu quả, hiệu lực hoạt động của

các đơn vị, nâng cao ý thức tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, tạo điều kiện

cho cải cách chế độ tiền lương, tăng thu nhập cho CBCC.

- Kiện toàn tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn, đổi mới quy trình xử

74



lý cơng việc, tổ chức, sắp xếp lại lực lượng lao động; ổn định và thường

xuyên bồi dưỡng, nâng cao trình độ nghiệp vụ chun mơn cho đội ngũ

CBCC làm cơng tác quản lý tài chính tại các đơn vị trong hệ thống DTNN.

Căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao, phải thực hiện rà soát chức năng,

nhiệm vụ của từng đơn vị, bộ phận, trên cơ sở đánh giá hiệu quả hoạt động, công

tác quản lý để thực hiện kiện toàn, cơ cấu lại tổ chức bộ máy theo hướng tinh

gọn, chuyên sâu, giảm tối đa các bộ phận gián tiếp trong triển khai nhiệm vụ;

Đồng thời, cùng với cơng tác kiện tồn, cơ cấu lại tổ chức bộ máy, xây dựng quy

trình xử lý, giải quyết cơng việc của từng đơn vị và từng bộ phận cũng như công

tác phối kết hợp giữa các bộ phận trong cùng đơn vị một cách khoa học, hợp lý,

giảm các khâu trung gian không cần thiết, đẩy nhanh tiến độ xử lý cơng việc và

thực hiện cơng khai quy trình xử lý, giải quyết công việc.

Con người là yếu tố quyết định mọi thắng lợi, thành công, hiệu quả và

hiệu lực quản lý của đơn vị. Do đó, các đơn vị phải thực hiện rà sốt, cơ cấu

và bố trí đội ngũ CBCC theo từng vị trí, chức trách phù hợp với năng lực,

trình độ đào tạo; xây dựng quy chế làm việc, quy định rõ ràng và cụ thể chức

trách của từng vị trí CBCC trong mỗi bộ phận phù hợp với nhiệm vụ, quyền

hạn được giao.

Xuất phát từ đặc thù của công tác quản lý chi thường xuyên, cũng như

trong việc sử dụng kinh phí, tài sản nhà nước mang tính chuyển tiếp, liên

quan giữa các niên độ ngân sách, sự ổn định của bộ máy CBCC làm cơng tác

quản lý tài chính là rất quan trọng, tác động ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động

và hiệu quả sử dụng kinh phí của đơn vị. Do đó, việc bố trí CBCC làm cơng

tác quản lý tài chính tại đơn vị phải ổn định tại vị trí cơng tác với thời gian tối

thiểu từ 03 đến 05 năm và đảm bảo đáp ứng về yêu cầu chuyên môn, nghiệp vụ,

hạn chế việc bố trí cán bộ làm cơng tác kiêm nhiệm; đồng thời, ngoài việc tăng

cường, bổ sung về số lượng, CBCC làm công tác quản lý chi thường xuyên phải

thường xuyên được nâng cao về chất lượng thông qua việc dành nguồn kinh phí

75



thoả đáng cho cơng tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kiến thức quản lý

tài chính, tài sản nhà nước, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, quy mô ngân

sách, số lượng, giá trị tài sản được giao quản lý, sử dụng tại DTNN ngày càng

lớn.

Mặt khác, đối với mỗi CBCC làm công tác quản lý chi thường xuyên

trong đơn vị phải tự nâng cao ý thức, trách nhiệm với nghề nghiệp, khơng

ngừng trau dồi phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp và kiến thức chuyên

môn, cập nhật thông tin, tiếp cận và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong

thực thi và xử lý cơng việc, nhằm hồn thành tốt công việc được giao với chất

lượng và hiệu quả cao nhất.

4.2.4. Tăng cường vai trò chủ động sáng tạo trong điều hành xử lý cơng

việc nói chung và cơng tác quản lý chi thường xuyên nói riêng ở các đơn vị

DTNN khu vực

Tăng cường năng lực quản lý chi thường xuyên của các đơn vị DTNN

trực thuộc, bồi dưỡng, nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ làm cơng tác tài

chính tại các DTNN, đáp ứng u cầu quản lý trong điều kiện thực hiện

quyền tự chủ tài chính.

Tăng cường năng lực đội ngũ CBCC, đảm bảo hồn thành tốt nhiệm

vụ được giao. Để có nguồn nhân lực chất lượng cao, đảm bảo thực hiện thành

công “Chiến lược phát triển DTQG đến năm 2020”, đội ngũ CBCC thuộc

TCDTNN phải có trình độ cao mới có thể hồn thành mục tiêu xây dựng hiện

đại hóa ngành.

Quán triệt thực hiện thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong sử dụng

kinh phí, tài sản nhà nước mọi lúc, mọi nơi, trong mọi khâu của quá trình sử

dụng đến từng CBCC, lãnh đạo DTNN các cấp.

Căn cứ chính sách, chế độ, tiêu chuẩn, định mức quy định của Nhà

nước, cụ thể hóa và ban hành các quy định, chế độ thực hành tiết kiệm, chống

lãng phí trong đơn vị. Đây là căn cứ để Thủ trưởng đơn vị thực hiện điều

76



hành, quản lý chi tiêu và là căn cứ CBCC kiểm tra, giám sát việc chấp hành

các chính sách chế độ chi tiêu tài chính của đơn vị; là chuẩn mực để đo lường

tính tiết kiệm, hiệu quả hoạt động và quản lý, sử dụng kinh phí của DTNN.

DTNN cần chủ động rà soát nội dung, chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi

tiêu quy định, để trên cơ sở đó tiếp tục hoàn chỉnh Quy chế chi tiêu nội bộ theo

hướng như sau:

- Xây dựng và hoàn thiện quy chế chi tiêu nội bộ trên cơ sở nguyên tắc

công khai, dân chủ; Đây là biện pháp tốt nhất nhằm phát huy quyền làm chủ

tập thể của CBCC trong việc kiểm tra, giám sát quá trình phân bổ, quản lý, sử

dụng các nguồn kinh phí được giao cũng như khoản kinh phí tiết kiệm được.

Ngồi ra còn góp phần trong việc xây dựng cơ quan trong sạch, vững mạnh; xây

dựng đội ngũ CBCC có phẩm chất đạo đức, năng lực cơng tác, làm việc có chất

lượng, hiệu quả; ngăn chặn và chống các hành vi tham nhũng, lãng phí trong

hoạt động của các cơ quan hành chính.

Những phạm vi cần cơng khai là: chỉ tiêu lao động, kinh phí giao thực

hiện chế độ tự chủ, phương án phân phối và sử dụng kinh phí tiết kiệm, việc

hình thành và sử dụng các quỹ của đơn vị.

Nội dung cần công khai cụ thể: là những số liệu, tài liệu (quy định,

quyết định, chế độ...) liên quan đến các vấn đề trên.

Đối tượng công khai: tồn thể CBCC trong đơn vị.

- Ngồi chế độ khốn văn phòng phẩm, cơng tác phí, xăng dầu, cước

phí điện thoại công vụ, cần tiếp tục xây dựng và mở rộng chế độ khoán đối

với các khoản chi quản lý văn phòng như: sử dụng điện, nước...

- Hồn thiện phương thức phân phối, sử dụng kinh phí hành chính tiết

kiệm được, chi trả thu nhập tăng thêm cho từng người lao động phải đảm bảo

nguyên tắc gắn với chất lượng và hiệu quả cơng việc, người nào, bộ phận nào

có thành tích đóng góp để tiết kiệm chi, có hiệu suất công tác cao thi được trả



77



thu nhập tăng thêm cao hơn. Đồng thời, mức chi trả cụ thể phải có ý kiến

thống nhất của tổ chức cơng đồn cơ quan trước khi được Thủ trưởng đơn vị

quyết định.

4.2.5. Tăng cường cơng tác kiểm tra, kiểm tốn nội bộ

TCDTNN cần nghiên cứu đề nghị cơ quan có thẩm quyền thành lập hệ

thống kiểm tra, kiểm toán nội bộ hoạt động độc lập với cơng tác kế hoạch tài

chính nhằm sớm phát hiện, ngăn chặn và xử lý các hành vi tiêu cực trong

cơng tác quản lý tài chính; nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản, nhân lực, chống

tham nhũng, lãng phí, góp phần hồn thiện cơng tác quản lý chi ngân sách ở

các đơn vị DTNN.

Mặt khác, tại các đơn vị DTNN cũng cần tăng cường công tác tự kiểm

tra nhằm mục đích sớm phát hiện những sai sót trong cơng tác quản lý tài

chính và có biện pháp khắc phục kịp thời.

4.2.6. Tăng cường ứng dụng công nghệ thơng tin và tin học hóa cơng tác

quản lý chi thường xuyên

Tiến bộ khoa học, đặc biệt là công nghệ thơng tin với tốc độ phát triển

mạnh mẽ đã có tác động sâu rộng đến tất cả các lĩnh vực và hoạt động của đời

sống kinh tế, xã hội. Do vậy, quản lý nói chung và quản lý chi thường xun

nói riêng cũng trở nên phức tạp hơn, đòi hỏi sự đầu tư lớn cả về chất xám và

năng lực của trang thiết bị. Quá trình thu nhận, xử lý thông tin và ra quyết

định quản lý sẽ thuận tiện, nhanh chóng, chính xác và mang lại hiệu quả cao

nếu áp dụng công nghệ hiện đại. Với khối lượng thông tin cần xử lý ngày

càng lớn, nếu áp dụng phương pháp thủ công, quản lý chi thường xuyên tại hệ

thống DTNN sẽ không đáp ứng kịp yêu cầu quản lý, gây cản trở cho q trình

tự chủ tài chính. Hiện nay, hệ thống DTNN chưa áp dụng công nghệ trong

công tác tài chính kế tốn bằng việc sử dụng phần mềm kế toán. Do vậy việc

xây dựng phần mềm tài chính nội bộ thật sự cấp bách để đáp ứng đầy đủ yêu



78



cầu của công tác quản lý, đặc biệt trong điều kiện các văn bản, chế độ, định

mức trong cơng tác quản lý tài chính, kế tốn liên tục được sửa đổi, bổ sung,

cập nhật. Có như vậy mới giúp cho việc xử lý thông tin kịp thời, từ đó đưa ra

quyết định quản lý chính xác. Bên cạnh đó, việc ứng dụng tin học trong cơng

tác quản lý cũng là nội dung quan trọng hỗ trợ tích cực cho cơng tác quản lý

tài chính.

4.3. Một số kiên nghị

4.3.1. Kiến nghị với Chính phủ

Thực hiện tự chủ tài chính là một nội dung trong công tác quản lý chi

thường xun, là một cuộc cải cách có quy mơ lớn, lại diễn ra trong bối cảnh

nền kinh tế còn nhiều khó khăn, do vậy cần hội đủ các điều kiện về tài chính,

ngân sách về đổi mới cơ chế quản lý biên chế, hệ thống thang, bậc lương để

định ra bước đi thích hợp. Trước hết, để đảm bảo thống nhất trong việc đánh

giá kết quả thực hiện nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước từ Trung ương đến

địa phương, Chính phủ cần sớm ban hành các tiêu chí khung đánh giá các nội

dung cơ bản như: khối lượng, chất lượng công việc thực hiện, thời gian giải

quyết công việc, tình hình chấp hành chính sách, chế độ và quy định về tài

chính. Dựa vào tiêu chí khung, các cơ quan chủ quản cấp trên có cơ sở ban

hành tiêu chí cơ bản là căn cứ đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ của các cơ

quan trực thuộc.

Một vấn đề nữa là Nghị định 130/2005/NĐ-CP qua 8 năm triển khai

thực hiện, bên cạnh một số mặt tích cực đã bộc lộ một số tồn tại hạn chế: tổ

chức và biên chế của các cơ quan quản lý hành chính khơng những khơng

giảm, mà ngược lại ln có xu hướng mở rộng và tăng biên chế; việc xác định

và sử dụng kinh phí giao tự chủ trên cơ sở biên chế được cấp có thẩm quyền

giao và định mức phân bổ ngân sách nhà nước tính trên biên chế, các khoản

chi hoạt động nghiệp vụ đặc thù theo chế độ quy định. Do biên chế được giao



79



còn mang tính chủ quan, chưa chính xác, mặt khác định mức chi chưa được

điều chỉnh kịp thời nên việc phân bổ kinh phí giao thực hiện tự chủ còn chưa

thật sự phù hợp, thiếu cơ sở. Nghị định còn qui định một số nội dung chi được

giao khốn như văn phòng phẩm, điện thoại… nhưng vẫn phải có hóa đơn để

hợp thức hóa chứng từ quyết tốn; ngồi ra việc sử dụng một phần kinh phí

tiết kiệm để chi tăng thu nhập cho CBCC nên dễ dẫn đến chất lượng, hiệu quả

của hoạt động hành chính cơng bị hạn chế; phạm vi sử dụng kinh phí tiết kiệm

để chi cho các hoạt động phúc lợi chưa quy định rõ; tiêu chí đánh giá hoàn

thành nhiệm vụ chưa cụ thể…ngoài ra trong việc phân định và thực hiện chức

năng quản lý nhà nước một số Cục trực thuộc các Bộ chưa tách bạch rõ ràng

về chức năng quản lý nhà nước và chức năng cung cấp dịch vụ sự nghiệp

công; một số cơ quan đã được Thủ tướng Chính phủ cho phép thực hiện cơ

chế đặc thù riêng như: Ngân hàng Nhà nước, Thanh tra Chính phủ, Kiểm tốn

Nhà nước, hệ thống Thuế, Hải Quan, Kho bạc nhà nước. Do dự toán chi của

các cơ quan này được bố trí từ nguồn thu phí, lệ phí thuộc NSNN được để lại

với tỷ lệ cao nên kinh phí tiết kiệm lớn, nguồn để chi trả thu nhập cho CBCC

cao hơn nhiều so với mặt bằng chung của cơ quan quản lý hành chính khác,

tạo ra khơng bình đẳng về thu nhập giữa các cơ quan quản lý nhà nước. Xuất

phát từ yêu cầu, thực tiễn nêu trên kiến nghị với Thủ tướng Chính phủ sửa đổi

bổ sung Nghị định số 130/NĐ-CP theo xu hướng phát triển và đặt ra yêu cầu

cao hơn đối với cơ chế quản lý, cung cấp dịch vụ công.

Luật Dự trữ quốc gia đã được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 4 thông

qua và Chủ tịch nước CHXHCNVN ký lệnh số 24/L-CTN ngày 03/12/2012,

Luật DTQG có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2013. Chính phủ đã ban hành

Nghị định số 94/2013/NĐ-CP ngày 21/8/2013 về việc qui định chi tiết thi

hành Luật Dự trữ quốc gia thay thế Nghị định số 196/2004/NĐ-CP ngày 02

tháng 12 năm 2004 quy đinh chi tiết thi hành Pháp lệnh dự trữ quốc gia và



80



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hình 4.2: Quy trình soạn lập dự toán ngân sách theo

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×