Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 3.7 Tình hình mua sắm trang thiết bị giai đoạn 2011-2013

Bảng 3.7 Tình hình mua sắm trang thiết bị giai đoạn 2011-2013

Tải bản đầy đủ - 0trang

chuẩn an toàn và dần từng bước đáp ứng theo công nghệ tiên tiến; hỗ trợ xây

dựng mới, cải tạo mở rộng, nâng cấp, sửa chữa trụ sở DTNN các cấp đáp ứng

yêu cầu công tác trong giai đoạn hiện nay.

Từ năm 2011 - 2013, hệ thống DTNN đã dành một khoản kinh phí đáng

kể để đầu tư xây dựng mới các kho tiền chế và cơ sở làm việc của DTNN các

cấp; sửa chữa, cải tạo, mở rộng kho hàng hóa tại các Cục DTNN khu vực.

Cùng với nguồn vốn đầu tư ngân sách tập trung do Nhà nước cấp 484.981 tỷ

đồng, trong giai đoạn này TCDTNN đã đầu tư XDCB, SCL một phần kinh phí

từ kinh phí thường xuyên được giao 116.612 tỷ đồng.

- Tập trung đầu tư hiện đại hố cơng nghệ thơng tin:

* Xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật DTNN hiện đại, đáp ứng các yêu

cầu triển khai ứng dụng:

+ Phát triển cơ sở hạ tầng truyền thông: Dự án Hạ tầng truyền thông

(HTTT) tỉnh - huyện đã được Bộ Tài chính phê duyệt danh mục dự tốn kinh

phí lắp đặt và th bao đường truyền thơng từ cấp tỉnh xuống huyện. Việc

hồn thành dự án HTTT tỉnh - huyện sẽ cải thiện đáng kể chất lượng đường

truyền thông, tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai các chương trình

nghiệp vụ trong hệ thống TCDTNN.

+ Hiện đại hoá trang thiết bị tin học:

Với mục tiêu trang bị, bổ sung, thay thế định kỳ hàng năm cho các thiết

bị được trang bị từ các trước đã cũ, cấu hình thấp, hết thời gian bảo hành và

thời hạn khấu hao, thường xuyên xảy ra sự cố kỹ thuật ảnh hưởng đến hoạt

động của đơn vị. Đồng thời trang bị thiết bị phục vụ triển khai các chương

trình quản trị và ứng dụng như: chương trình quản lý nghiệp vụ nhập, xuất

hàng hóa, các chương trình thơng kê, tài chính nội bộ…Bổ sung thiết bị cho

các DTNN khu vực mới thành lập …

Trên cơ sở phân loại, đánh giá, xác định từng loại nghiệp vụ, TCDTNN

lựa chọn các sản phẩm tin học theo tiêu chuẩn công nghệ mới đảm bảo khả

54



năng đáp ứng cao nhất cho các chương trình ứng dụng tập trung và xử lý trực

tuyến. Đối với máy chủ, TCDTNN trang bị máy chủ cho các đơn vị cấp 1, cấp

2, cấp 3 cho Văn phòng Cục DTNN khu vực và các Chi cục DTNN. TCNN

còn lựạ chọn các sản phẩm về máy in mạng, lắp đặt mạng không dây và các

thiết bị khác đã đem lại hiệu quả sử dụng cao và tiết kiệm kinh phí.

Thực hiện theo phân cấp về mua sắm của Bộ Tài chính qui định tại các

Quyết định của Bộ trưởng Bộ Tài chính, TCDTNN đã tổ chức nhiều đợt đấu

thầu mua sắm thiết bị tin học. Qua các đợt đấu thầu đã tiết kiệm được nhiều

tỷ đồng do chênh lệch giữa giá gói thầu được duyệt và giá trúng thầu.

* Dành một phần kinh phí khiêm tốn đầu tư và nâng cao được chất

lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng CBCC cho TCDTNN

TCDTNN đã căn cứ vào mục tiêu nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC

để xây dựng và thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, công nghệ

thông tin, kiến thức quản lý nhà nước, ngoại ngữ cho CBCC trong toàn hệ

thống.

Cùng với việc mở rộng các đối tượng được bồi dưỡng, đào tạo thì công

tác đào tạo bồi dưỡng ngày càng đạt hiệu quả. Các lớp học, khoá học được tổ

chức phù hợp với từng chuyên đề, lĩnh vực chuyên môn; đào tạo trực tiếp đến

đội ngũ cán bộ làm nghiệp vụ từ cấp cơ sở góp phần trang bị có hệ thống và

mở mang những kiến thức mới giúp cho cán bộ hiểu sâu hơn, kỹ hơn về

chun mơn nghiệp vụ từ đó nâng cao kỹ năng nghiệp vụ của mình. Cơng tác

tổ chức lớp học có khoa học, hợp lý về quy mô và địa điểm kết hợp với sự lựa

chọn đối tác phù hợp đã tiết kiệm được chi phí, thời gian rất lớn.

* Tăng thu nhập, cải thiện đời sống của CBCC TCDTNN

Một trong những mục tiêu của việc thực hiện tự chủ, tự chịu trách

nhiệm về tài chính tại TCDTNN là thực hiện tiết kiệm chi thường xuyên, chi

phí nhiệp vụ chun mơn để có nguồn tăng thu nhập, cải thiện đời sống của

CBCC và gắn trách nhiệm với lợi ích vật chất của cơng chức TCDTNN.

55



Để đạt được mục tiêu trên, từng đơn vị TCDTNN đã thực hiện triển

khai việc quán triệt mục tiêu và giải pháp thực hiện đối với việc quản lý lao

động và quản lý chi thường xuyên, quản lý tài sản theo chủ trương khốn biên

chế và kinh phí hoạt động tới các tập thể và từng cá nhân CBCC để thực hiện.

Việc quản lý chặt chẽ chi phí điện thoại, văn phòng phẩm, điện, nước, xăng

dầu, cơng tác phí, hội nghị được thực hiện trên cơ sở giao khoán theo từng nội

dung và triển khai thực hiện có hiệu quả quy chế cơng khai, dân chủ trong

quản lý lao động, quản lý kinh phí. Cùng với các biện pháp để tiết kiệm chi

phí nghiệp vụ chun mơn hình thành nguồn từ tăng thu, tiết kiệm chi theo

đúng quy định của Nhà nước và của Bộ Tài chính. Nguồn kinh phí từ tăng thu,

tiết kiệm chi được sử dụng để bổ sung thu nhập cho CBCC, hỗ trợ đời sống

CBCC trên cơ sở gắn kết chặt chẽ giữa việc hoàn thành nhiệm vụ chuyên mơn

trên cơ sở bình xét thi đua, xếp loại chất lượng A, B, C với quyền lợi được

hưởng. Qua quá trình triển khai thực hiện đã thúc đẩy phong trào thi đua tại các

đơn vị, động viên CBCC khắc phục khó khăn, hăng say làm việc, hồn thành

tốt nhiệm vụ được giao nhưng vẫn đảm bảo được mục tiêu tiết kiệm để ưu tiên

đầu tư hiện đại hoá các hoạt động nghiệp vụ của hệ thống TCDTNN.

Để thực hiện được mục tiêu trên, hệ thống TCDTNN đã triển khai đồng

bộ nhiều biện pháp nhằm tiết kiệm để tạo nguồn tăng thu tiết kiệm chi, từng

bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho CBCC. TCDTNN cũng đã

xây dựng tiêu chí, tiêu chuẩn cụ thể để bình xét thi đua và cơ chế phân phối thu

nhập tăng thêm trên cơ sở bình xét thi đua hàng quý, năm (xếp loại theo tiêu

thức A, B, C). Như vậy người lao động đạt tiêu chuẩn loại loại A thì được

hưởng thu nhập tăng thêm theo hệ số tối đa 1,5, người lao động đạt tiêu chuẩn

loại loại B thì được hưởng thu nhập tăng thêm theo hệ số tối đa 1,3, người lao

động đạt tiêu chuẩn loại loại C thì khơng được hưởng thu nhập tăng thêm. Thực

tế cho thấy việc sử dụng biện pháp lấy kết quả của việc thi đua khen thưởng để

làm cơ sở tính thu nhập tăng thêm cho CBCC đã thúc đẩy và nhân rộng các

56



phong trào thi đua tại các đơn vị; động viên CBCC TCDTNN vượt mọi khó

khăn, hăng say làm việc, hồn thành nhiệm vụ được giao với chất lượng cao

nhưng vẫn đảm bảo được mục tiêu tiết kiệm để ưu tiên đầu tư hiện đại hoá các

hoạt động nghiệp vụ và tăng cường cơ sở vật chất của hệ thống TCDTNN.

- Kết quả thực hiện quy chế dân chủ, công khai, minh bạch

Cùng với việc thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính,

cơng tác quản lý chi thường xun của TCDTNN đã có quy định mang tính

hệ thống rất rõ ràng về thực hiện công khai, dân chủ trong thực hiện cơ chế

quản lý chi thường xuyên và biên chế, TCDTNN đã quy định rõ các nội dung

phải cơng khai, hình thức và thời gian cơng khai, cụ thể là quy định về:

- Công khai phân bổ dự tốn ngân sách hàng năm.

- Cơng khai quyết tốn ngân sách nhà nước hằng năm.

- Công khai, minh bạch trong đầu tư xây dựng, mua sắm tài sản.

- Công khai, minh bạch trong công tác tổ chức cán bộ.

- Công khai, minh bạch trong lĩnh vực đào tạo, đào tạo lại.

Để thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của ngành, góp phần trong việc

quản lý và điều hành ngân sách các cấp, TCDTNN đã ban hành Quy chế làm

việc của cơ quan TCDTNN, xây dựng và ban hành chương trình hành động

thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và chương trình hành động phòng chống

tham nhũng, trong đó quy định rõ các đơn vị trực thuộc TCDTNN cần phải

xây dựng và ban hành một số quy chế làm việc, quy chế quản lý tài chính và tài

sản nội bộ, quy chế về trách nhiệm và mối quan hệ công tác giữa tổ chức Đảng,

chính quyền và các tổ chức quần chúng trong cơ quan… đồng thời yêu cầu các

đơn vị tổ chức cơng khai các quy trình nghiệp vụ, cơng khai tài chính dưới 2

hình thức thơng tin và qua hội nghị CBCC hàng năm.

Tóm lại: Thực hiện cơ chế tự chủ tự chịu trách nhiệm đã tạo điều kiện

cho Tổng cục Dự trữ Nhà nước hoàn thành nhiệm vụ chính trị được giao.

Những năm qua, các đơn vị trực thuộc TCDTNN bước đầu đã góp phần thúc

57



đẩy các cơ quan rà soát lại chức năng, nhiệm vụ, sắp xếp lại tổ chức bộ máy

theo hướng đa ngành, đa lĩnh vực; sử dụng, bố trí cán bộ cơng chức phù hợp

về trình độ chun mơn đào tạo và năng lực thực tế với u cầu của vị trí

cơng tác. Thực hiện cơ chế tự chủ đã tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan

chủ động chi tiêu, đồng thời thực hiện cải cách thủ tục hành chính trong các

khâu phân bổ, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước. Thực hiện tự chủ

các đơn vị phải xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ và quy chế quản lý tài sản

cơng, vì vậy có điều kiện để quản lý sử dụng kinh phí chi thường xuyên hiệu

quả, tiết kiệm. Cơ chế tự chủ cho phép được sử dụng kinh phí tiết kiệm để

tăng thu nhập cho cán bộ, công chức trên cơ sở hiệu quả chất lượng cơng tác,

bước đầu đã gắn việc sử dụng kinh phí với chất lượng, hiệu quả công việc;

nâng cao trách nhiệm của Thủ trưởng và tăng cường sự giám sát của cán bộ,

cơng chức trong việc sử dụng kinh phí, biên chế, cơ sở vật chất của ngành

từng bước được tăng cường theo quy hoạch và quy mô chuẩn đã được cấp có

thẩm quyền phê duyệt: hiện đại hố cơng nghệ thông tin và trang thiết bị nâng

cao chất lượng hoạt động nghiệp vụ, bảo vệ an toàn tiền và tài sản Nhà nước,

đến nay, toàn bộ các hoạt động nghiệp vụ và quản lý nội vụ của TCDTNN đã

được chuẩn hố quy trình và được tin học hố, tổ chức quản trị hạ tầng truyền

thơng của tồn ngành tài chính; ưu tiên trang bị và hiện đại hóa những TSCĐ

phục vụ cho cơng tác bảo quản hàng hóa, hệ thống báo động, báo cháy và các

phương tiện khác... thu nhập CBCC của TCDTNN từng bước được cải thiện.

3.4.2. Hạn chế và nguyên nhân

3.4.2.1. Hạn chế

- Hạn chế trong công tác lập, phân bổ dự tốn hằng năm

Cơng tác lập dự toán chi hàng năm chưa sát với thực tế triển khai

nhiệm vụ, chưa căn cứ vào từng nội dung, nhiệm vụ cụ thể, một mặt do chưa

có sự quan tâm đúng mức của lãnh đạo DTNN các cấp, mặt khác, dự toán chi

hàng năm được xác định trên cơ sở định mức phân bổ chi NSNN và số lượng

58



biên chế được giao của từng đơn vị nên có một số hạn chế: Định mức phân bổ

kinh phí chưa thực sự gắn với các tiêu chí đảm bảo chất lượng thực hiện

nhiệm vụ chuyên môn, chưa làm rõ được trách nhiệm giữa kinh phí được giao

và mức độ hồn thành cơng việc, về cơ bản vẫn mang nặng tính bao cấp và

bình qn. Dự tốn được lập chưa sát với thực tế dẫn đến tình trạng phải bổ

sung dự tốn nhiều lần trong năm, gây khó khăn cho cơng tác quản lý.

- Hạn chế trong việc chấp hành và quyết toán kinh phí: Chế độ quy

định đơn vị dự tốn cấp trên xét duyệt quyết toán cho đơn vị dự toán cấp

dưới; tuy nhiên, do thời gian thực hiện ngắn (chỉ từ 1-2 ngày/Cục DTNNKV)

và số lượng cán bộ hạn chế nên cơng tác xét duyệt quyết tốn của TCDTNN

cấp trên còn mang tính chất kiểm tra tài chính đơn thuần, xem xét kinh phí

được giao trong năm của đơn vị sử dụng còn bao nhiêu; các nội dung, khoản

chi có chấp hành theo các chính sách, chế độ, định mức quy định hay

không… mà chưa thực hiện đánh giá hiệu quả sử dụng kinh phí gắn với chất

lượng, khối lượng cơng việc và mức độ hồn thành, đã ảnh hưởng đến chất

lượng của cơng tác xét duyệt quyết tốn, chưa đáp ứng đầy đủ các mục tiêu,

yêu cầu của công tác quản lý. Mặt khác, khi thực hiện xét duyệt và ra thơng

báo xét duyệt quyết tốn cho DTNN cấp dưới, DTNN cấp trên phải đồng chịu

trách nhiệm đối với các nội dung, khoản chi đã thực hiện trong năm của đơn

vị trực tiếp sử dụng kinh phí, dẫn tới ý thức trách nhiệm về quyết định chi tiêu

của Thủ trưởng đơn vị trực tiếp sử dụng kinh phí khơng cao và tồn tại tư

tưởng việc quyết định chi tiêu chưa căn cứ theo đúng chế độ, định mức do các

khoản chi trong năm của đơn vị sẽ được cơ quan quản lý cấp trên xem xét

trong quá trình kiểm tra, xét duyệt quyết toán năm đối với đơn vị.

Chất lượng báo cáo quyết toán hàng năm của các Cục DTNN khu vực

còn thấp, chủ yếu đảm bảo số lượng biểu mẫu, các nội dung thuyết minh

quyết tốn còn sơ sài, chưa phản ánh và đánh giá đầy đủ tình hình quản lý, sử

dụng kinh phí, khối lượng và chất lượng các công việc, nhiệm vụ triển khai

59



trong năm của đơn vị.

- Quyền tự chủ ở đơn vị, Thủ trưởng đơn vị còn chưa rõ nét:

Một trong những mục tiêu cơ bản của chế độ tự chủ theo quy định tại

Nghị định số 130/2005/NĐ-CP là thực hiện quyền tự chủ đồng thời gắn với

trách nhiệm của Thủ trưởng đơn vị. Tuy nhiên, quyền tự chủ tại DTNN khu

vực chưa được thể hiện rõ nét, cụ thể:

Về quy chế chi tiêu nội bộ: Quy chế chi tiêu nội bộ của DTNN vẫn phải

căn cứ chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi hiện hành do Nhà nước, Bộ Tài chính

ban hành; mức chi, chế độ chi, tiêu chuẩn định mức trong Quy chế chi tiêu

nội bộ không được vượt quá chế độ, định mức quy định. Trường hợp Quy chế

chi tiêu nội bộ xây dựng vượt chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cơ quan có

thẩm quyền ban hành sẽ bị cơ quan quản lý cấp trên (Bộ Tài chính, Kiểm tốn

Nhà nước) xuất toán và yêu cầu điều chỉnh lại cho phù hợp.

Về sử dụng kinh phí: DTNN được vận dụng các chế độ chi tiêu thường

xuyên hiện hành để thực hiện, nhưng không được vượt quá mức chi tối đa do

cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định. Điều này gây rất nhiều khó khăn

trong việc sử dụng kinh phí tại các đơn vị trực thuộc TCDTNN. Hoạt động

DTNN là hoạt động đặc thù, nhiều khoản chi rất cần thiết tuy nhiên lại khơng

có chế độ, định mức để chi; trường hợp vận dụng chế độ, định mức để chi thì

rất dễ bị cơ quan quản lý cấp trên, cơ quan thanh tra, kiểm tốn “tt còi” do

chế độ khơng quy định.

Về chế độ hóa đơn, chứng từ: Theo quy định thì khi thực hiện chi kinh

phí phải bảo đảm có chứng từ, hóa đơn hợp pháp, hợp lệ; trong khi đó, để

giảm khối lượng cơng việc, giảm thủ tục hành chính khơng cần thiết,

TCDTNN nói riêng và các cơ quan hành chính nhà nước nói chung có thể

thực hiện khoán đối với một số nội dung chi khác của đơn vị (cước phí điện

thoại cơng vụ, văn phòng phẩm, xăng dầu…) tuy nhiên khi thực hiện khoán

các nội dung này vẫn phải tập hợp đầy đủ hóa đơn, chứng từ theo quy định.

60



Thực hiện quy định này sẽ rất khó cho việc thanh tốn các nội dung có thể

giao khốn nêu trên.

Về kinh phí tiết kiệm: Quy chế tài chính của TCDTNN quy định sử

dụng kinh phí tiết kiệm được sử dụng cho nội dung: Bổ sung thu nhập cho

CBCC tối đa không quá 1 lần tiền lương cấp bậc, chức vụ do Nhà nước quy

định. Việc khống chế mức bổ sung thu nhập tối đa như vậy thực tế đã hạn chế

quyền tự chủ của đơn vị, trường hợp đơn vị có tiết kiệm chi cao cũng không

được phép chi thêm.

Với các điểm nêu trên, Thủ trưởng các đơn vị thuộc TCDTNN mặc dù

được giao quyền tự chủ nhưng cũng không thể phê duyệt, quyết định các nội

dung, mức chi vượt quy định hiện hành, khó có thể quyết định khoán các nội

dung chi hoạt động thường xuyên ngoài quy định của Nhà nước, kể cả từ

nguồn kinh phí tiết kiệm được. Điều này có thể gây bị động trong công tác tổ

chức thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của TCDTNN.

- Hạn chế trong việc triển khai thực hiện cơ chế tự chủ tại các Chi cục

DTNN:

Việc phổ biến công tác quản lý chi thường xuyên theo cơ chế tự chủ, tự

chịu trách nhiệm và triển khai thực hiện đến CBCC tồn hệ thống DTNN còn

có hạn chế, đặc biệt là ở cấp huyện. Trong hệ thống DTNN, với 95 chi cục

DTNN tương đương với cấp huyện trực thuộc, số lượng CBCC làm việc tại

các chi cục DTNN chiếm tỷ lệ lớn, với số lượng đông đảo như vậy, đây là đối

tượng quyết định chất lượng của việc thực hiện cơ chế tự chủ. Tuy nhiên, do

trình độ cán bộ ở cấp này còn nhiều hạn chế, chưa nhận thức được đầy đủ về

thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong việc thực hiện tự ch. Do vậy việc

triển khai thực hiện tự chủ về tài chính đối với các Chi cục DTNN chưa được

thực hiện tốt như mong muốn.

Một vấn đề nữa là tại Chi cục DTNN, cán bộ làm công tác quản lý chi

thường xuyên chỉ có 1 đến 2 cán bộ, mà còn làm kiêm nhiệm vụ khác như

61



cơng tác kế hoạch, thậm chí Kế toán trưởng nghiệp vụ xuất nhập hàng, vừa

kiêm nhiệm cả nhiệm vụ Kế toán trưởng nội bộ do vậy không thể đầu tư nhiều

thời gian cho công tác quản lý chi thường xuyên tại đơn vị; công tác kiểm tra,

giám sát và công khai sử dụng ngân sách, tài chính chưa được thực hiện

thường xun, do đó chưa đáp ứng được u cầu đòi hỏi của nhiệm vụ

chun mơn. Trong khi đó với quy mơ ngân sách, số lượng, giá trị tài sản

được giao quản lý và sử dụng rất lớn thì u cầu cơng tác quản lý càng chặt

chẽ và phải được nâng cao, nên đã làm giảm hiệu quả quản lý.

- Hạn chế trong việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác

quản lý chi thường xuyên.

Công nghệ thông tin ứng dụng trong công tác quản lý chi thường xuyên

còn nhiều hạn chế, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác lập báo cáo

quyết toán hằng năm của từng đơn vị trong hệ thống DTNN chưa được áp dụng.

3.4.2.2. Nguyên nhân

Một là: Công tác xây dựng dự toán chưa được Thủ trưởng đơn vị quan

tâm đúng mức, chưa thật sự gắn với nhiệm vụ, cơng việc được giao; mặt khác,

việc bố trí cán bộ làm công tác quản lý chi thường xuyên tại một số đơn vị

còn chưa được chú trọng, nhiều DTNN còn bố trí cán bộ kém năng lực, trình

độ làm cơng tác quản lý chi thường xuyên do vậy đã ảnh hưởng đến chất

lượng dự tốn và quyết tốn kinh phí.

Định mức phân bổ dự toán chi chưa được điều chỉnh phù hợp với thực

tế và tính tốn đầy đủ các yếu tố liên quan, ảnh hưởng trực tiếp đến chất

lượng cơng tác lập dự tốn của đơn vị cũng như chất lượng cơng tác thẩm

định, tổng hợp dự tốn của đơn vị quản lý cấp trên.

Cơ quan quản lý nhà nước cấp trên (Bộ Tài chính) chưa có hướng dẫn

cụ thể việc xây dựng các tiêu chí cơ bản để làm căn cứ đánh giá kết quả thực

hiện nhiệm vụ của đơn vị thực hiện tự chủ tự chịu trách nhiệm về tài chính,

trên cơ sở đó là căn cứ để đánh giá về hiệu quả quản lý và sử dụng kinh phí

62



tại đơn vị.

Hai là: Việc quyết tốn kinh phí hoạt động hàng năm của từng đơn vị

DTNN còn chưa gắn với kết quả thực hiện nhiệm vụ của đơn vị. Một số đơn vị

DTNN chỉ quan tâm đến mức kinh phí được giao thực hiện chế độ tự chủ mà

chưa quan tâm đến việc đổi mới quy trình xử lý, giải quyết công việc; tổ chức

sắp xếp lại lực lượng lao động… để nâng cao hiệu quả công tác và kinh phí

được giao sử dụng. Phân cấp quản lý tài chính ở Cục DTNN khu vực cho Chi

cục DTNN còn chậm đổi mới, chưa tạo điều kiện cho Chi cục DTNN chủ động

trong việc sử dụng kinh phí được giao.

Việc triển khai xây dựng cụ thể định mức chi tiêu tại các đơn vị DTNN

trên cơ sở các quy định hiện hành còn chậm, các biện pháp quản lý chi tiêu

hành chính như điện, nước, điện thoại, xăng dầu, hội nghị còn thiếu kiên quyết,

tổ chức giao khốn văn phòng phẩm còn chậm. Trong giai đoạn tới, để triển

khai tốt hơn nữa, mang lại hiệu quả thiết thực hơn nữa trong việc thực hiện cơ

chế khoán biên chế và kinh phí hoạt động, cơ chế khốn phí nghiệp vụ chun

mơn đặc thù DTNN cần có những giải pháp thiết thực và cụ thể để cơ chế quản

lý chi thường xuyên đi sâu hơn vào ý thức của CBCC.

Ba là: Việc ban hành cơ chế chính sách liên quan trực tiếp đến việc

thực hiện tự chủ tài chính đối với hệ thống DTNN còn chậm, chưa đồng bộ,

chưa phù hợp với hoạt động đặc thù của DTNN, do vậy các đơn vị trực thuộc

TCDTNN thực hiện tự chủ nhưng nhiều cơ chế, chính sách vẫn phải áp dụng

các văn bản, chính sách, chế độ như đối với đơn vị chưa thực hiện tự chủ. Mặt

khác các văn bản quy định tiêu chí cụ thể để đánh giá mức độ hoàn thành và

chất lượng hoạt động nghiệp vụ của đơn vị khi được giao quyền tự chủ, tự chịu

trách nhiệm chưa được ban hành, chưa có hệ thống đánh giá kết quả hoạt động

thích hợp nên các Cục DTNN khu vực cũng như TCDTNN còn lúng túng,

khơng có căn cứ để đánh giá, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ của đơn vị.

Bốn là: Một số lãnh đạo DTNN các cấp chưa quan tâm đúng mức đến

63



việc ứng dụng hiện đại hóa, cơng nghệ thơng tin trong cơng tác quản lý chi

thường xuyên phục vụ quản lý và điều hành tại đơn vị, việc áp dụng máy móc

thiết bị trong cơng tác nhập, xuất, bảo quản hàng hóa nhất là việc áp dụng

máy móc thiết bị phục vụ cho hoạt động nhập xuất hàng hóa.

Năm là: Thu nhập của CBCC còn thấp và chưa ổn định. Mặc dù thu

nhập của CBCC đã được điều chỉnh tăng hơn so với mặt bằng lương của các

cơ quan nhà nước, tuy nhiên vẫn còn rất thấp và khơng đảm bảo tính ổn định

(vì còn phụ thuộc rất lớn vào lượng hàng hóa nhập xuất trong năm), nếu so

với thu nhập của cán bộ trong hệ thống ngành Tài Chính như Thuế, Kho bạc,

Hải quan, Ủy ban chứng khoán, Tổng cục DTNN chưa được Thủ tướng Chính

phủ ban hành Cơ chế tài chính.

Những hạn chế trên đây đòi hỏi phải được sớm khắc phục trong thời

gian tới nhằm hồn thiện cơng tác quản lý chi thường xuyên tại hệ thống Tổng

cục Dự trữ nhà nước trực thuộc Bộ Tài chính.



64



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 3.7 Tình hình mua sắm trang thiết bị giai đoạn 2011-2013

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×