Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Nhân tố bên trong

Nhân tố bên trong

Tải bản đầy đủ - 0trang

thức được vấn đề đó thì hiệu quả cơng việc sẽ đem lại thực sự. Bởi vì lợi ích

ln là động lực của sự làm việc.

Cơ chế quản lý tài chính sẽ phát huy tốt hay hạn chế sự phát triển của

đơn vị tùy thuộc vào năng lực, trình độ của người vận dụng nó - người quản

lý. Ở tầm vĩ mơ, trình độ của nhà hoạch định chính sách, những nhà xây dựng

luật pháp là nhân tố chính tác động tới cơ chế tự chủ tài chính. Họ là những

người đề ra cơ chế tự chủ tài chính cho các đơn vị thực hiện. Đối với đơn vị,

việc thực hiện cơ chế tự chủ phụ thuộc vào ý chí chủ quan của người lãnh

đạo, người làm công tác quản lý tài chính.

- Lĩnh vực hoạt động và chức năng nhiệm vụ được giao của cơ quan

HCNN.

Tùy từng cơ quan HCNN mà cơ chế quản lý tài chính cũng có sự khác

nhau, nhất là ở những cơ quan HCNN có tính đặc thù. Mỗi một cơ quan

HCNN đều được giao những nhiệm vụ cụ thể, nhiệm vụ đó chi phối mọi hoạt

động của đơn vị trong đó có hoạt động tài chính.

- Hệ thống kiểm tra, kiểm sốt trong đơn vị như: thanh tra, kiểm tra tài

chính... đặc biệt là hệ thống kiểm tốn nội bộ bao gồm: mơi trường kiểm toán,

hệ thống kế toán, các thủ tục kiểm toán và các loại kiểm toán. Hệ thống kiểm

toán nội bộ tốt, phát huy được hiệu quả có vai trò rất quan trọng đến hoạt động

quản lý tài chính của đơn vị, thể hiện ở một số khía cạnh sau:

+ Hệ thống kiểm toán nội bộ giám sát và đảm bảo tin cậy số liệu của kế

toán giúp cho các nhà quản lý có được thơng tin chính xác trong việc đưa ra

các quyết định về điều chỉnh, quản lý và quản trị của đơn vị mình.

+ Hệ thống kiểm tốn nội bộ giúp phát hiện kịp thời những rắc rối

trong hoạt động quản lý tài chính của đơn vị để giúp cho các thủ trưởng đơn

vị có được các phương pháp xử lý thích hợp.

+ Hệ thống kiểm tốn nội bộ ngăn chặn các sai phạm có khả năng xảy

ra trong cơng tác quản lý tài chính làm ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của

18



cơ quan, đơn vị.

Như vậy, thông qua việc xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến tự chủ tài

chính trong các cơ quan HCNN giúp cho việc đề ra và thực thi cơ chế tự chủ

tài chính trong các cơ quan HCNN đạt được mục tiêu đã định.

1.3. Kinh nghiệm quản lý chi thường xuyên tại một số nước

1.3.1. Kinh nghiệm về quản lý chi thường xun nói chung trong cơ quan

hành chính nhà nước của các nước

1.3.1.1. Kinh nghiệm của Singapore

Chính phủ Singapore đã thực hiện cuộc cải cách ngân sách theo hướng

nới lỏng kiểm sốt đầu vào, kiểm sốt chi phí sang kiểm soát kết quả đầu ra.

Nguyên lý cơ bản của lập ngân sách theo kết quả đầu ra ở Singapore là đòi

hỏi các cơ quan HCNN thực hiện tự chủ tài chính được linh hoạt trong quản

lý để có thể cung cấp dịch vụ một cách có hiệu quả hơn.

Phương thức quản lý ngân sách theo kết quả đầu ra giúp cho quyết định

của các nhà quản lý khu vực công có cơ sở hơn, cơng khai, minh bạch hơn,

tăng cường tính hiệu quả sử dụng ngân sách, tiết kiệm tối đa chi phí đầu vào

để đạt được đầu ra như mong muốn. Một cơ quan, đơn vị được xem là tự chủ

về tài chính khi có các yếu tố cơ bản làm cơ sở cho việc lập ngân sách theo

kết quả đầu ra như sau:

- Xác định được trước mục tiêu công việc và sản phẩm đầu ra: Trách

nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị sẽ được làm rõ hơn vì hàng năm

họ phải xác định trước đầu ra và đặt rõ mục tiêu cơng việc trình lên Bộ

trưởng, ngân sách được phân bổ trên cơ sở điều chỉnh tăng dự toán theo một

tỷ lệ nhất định so với dự toán thực hiện năm trước. Việc điều chỉnh này sẽ bù

đắp cho sự gia tăng về chi phí đầu vào như tăng giá.

Hệ thống phân bổ ngân sách trước đây ở Singapore chủ yếu dựa trên yếu

tố đầu vào, gắn với các nội dung chi cụ thể. Các Bộ, Ngành chỉ cần lập ngân

sách theo số lượng đầu vào cần cho hoạt động của mình mà khơng liên kết giữa

19



giữa đầu vào và đầu ra. Hệ thống lập ngân sách theo kết quả đầu ra hiện nay

đòi hỏi Chính phủ trở thành người mua dịch vụ thay mặt cho những người nộp

thuế. Chính phủ xem các Bộ, Ngành như là những người cung cấp dịch vụ và

phân bổ ngân sách cho các Bộ, Ngành theo mức độ công việc hồn thành. Như

vậy, các Bộ, Ngành sẽ có trách nhiệm hơn với cơng việc của mình.

- Có cơ chế khuyến khích việc hồn thành mục tiêu đề ra: Theo cơ chế

điều hành ngân sách dựa trên yếu tố đầu vào, nguồn vốn ngân sách cấp nếu

cuối năm không sử dụng hết thì phải hồn trả ngân sách. Do đó, các Bộ,

Ngành có xu hướng cố gắng sử dụng hết nguồn ngân sách thừa trước khi kết

thúc năm tài khóa. Để khuyến khích hoạt động có hiệu quả hơn, theo phương

thức quản lý ngân sách theo kết quả đầu ra, các cơ quan thực hiện đạt và vượt

mục tiêu ban đầu đề ra sẽ được phép giữ lại phần ngân sách thừa ra.

- Áp dụng cơ chế quản lý linh hoạt: Thủ trưởng cơ quan, đơn vị sẽ được

trao quyền chủ động và linh hoạt tối đa đối với các vấn đề có liên quan đến tổ

chức, nhân sự và tài chính trong phạm vi ngân sách được duyệt.

Ở Singapore, người ta thường sử dụng 5 chỉ số khác nhau để đánh giá

kết quả hoạt động của một cơ quan, đơn vị tự chủ tài chính áp dụng phương

thức lập ngân sách theo kết quả đầu ra, đó là các chỉ số: kết quả tài chính; số

lượng sản phẩm đầu ra; chất lượng dịch vụ; hiệu quả hoạt động và kết quả

hoạt động.

1.3.1.2. Kinh nghiệm của Cộng hòa Pháp:

Nền hành chính Pháp đã thực hiện hai cuộc cải cách lớn, trong đó cải

cách quản lý ngân sách chuyển từ quản lý ngân sách theo đầu vào sang cơ chế

quản lý ngân sách theo kết qủa đầu ra đã tạo ra một thay đổi căn bản trong

quản lý tài chính cơ quan HCNN. Vấn đề chú trọng không chỉ là chi tiêu như

thế nào mà còn là mục đích chi tiêu và chi thế nào cho hiệu quả.

Đến năm 2001, Luật Ngân sách đã được ban hành nhằm khắc phục và

sửa đổi những điểm chưa hợp lý trong Luật Ngân sách năm 1999, với mục

20



tiêu nâng cao vai trò của Nghị viện trong q trình lập và thơng qua ngân

sách, áp dụng các khái niệm kết quả, hiệu quả và minh bạch trong phương

thức quản lý ngân sách. Cụ thể là các quy định tập hợp kinh phí nhấn mạnh

đến kết quả, thay vì thơng tin trước đây dựa trên chi phí đầu vào, các mục tiêu

để lập và thực hiện ngân sách được dựa trên chi phí đầu vào, các mục tiêu để

lập và thực hiện ngân sách được dựa trên cơ sở nhiệm vụ với nhiều chương

trình khác nhau.

Luật Ngân sách 2001 cũng đặt ra yêu cầu nâng cao hiệu quả của quản

lý chi NSNN ở nội dung phương pháp gắn với hiệu quả. Đó là phân bổ ngân

sách một cách tổng thể hơn theo các chương trình; các nhà quản lý ở đơn vị

mình được tự do phân bổ lại kinh phí theo bản chất từng loại kinh phí, đồng

thời đặt ra chính sách chi tiêu cơng do Nhà nước tài trợ phải gắn với mục tiêu,

các chỉ số đo kết quả, đo lường kết quả của các chính sách thơng qua đánh giá

tính hiệu quả của nó, chất lượng dịch vụ và năng suất.

Quá trình kiểm tra chất lượng và đánh giá kết quả do một cơ quan độc

lập đảm nhận. Sau khi thực hiện, cán bộ của từng chương trình sẽ báo cáo với

Bộ trưởng về cam kết đưa ra, báo cáo với Nghị viện về kết quả hoạt động, với

thẩm kế viện trong trường hợp quản lý kém.

Sau khi nhậm chức vào năm 2007, Tổng thống Nicolas Sarkozy đã

cùng Thủ tướng Francois Fillon xây dựng và thực hiện một chương trình cải

cách tổng thể nhằm giảm bớt mua sắm cơng. Chương trình này còn có một số

mục tiêu khác: hiện đại hóa các tổ chức nhà nước, cải tiến phục vụ công dân

và doanh nghiệp, nâng cao ý thức trách nhiệm của công chức và phát triển

văn hóa hướng tới kết quả, hiệu quả cơng tác, mục tiêu của cải cách là “làm

tốt hơn với ít chi phí hơn”.

Nhiều cách thức cải tiến được tổ chức áp dụng trong các cơ quan

HCNN, bao gồm việc đơn giản hóa các quy trình hoạt động, ứng dụng công

nghệ thông tin và giới thiệu các phương pháp, kỹ thuật mới nhằm quản lý việc

21



thực thi nhiệm vụ một cách sát thực hơn. Cuộc cải cách trong lĩnh vực hành

chính nhà nước tại Pháp tập trung vào cải cách cơ cấu tổ chức, quy trình thủ

tục của bộ máy hành chính và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tăng

cường cơ chế phối hợp giữa các Bộ, Ngành và nâng cao tính cơ động, linh

hoạt khi chuyển đổi nhân sự từ vị trí này sang vị trí khác, từ đó đã giải quyết

được bài tốn chi phí vận hành của các Bộ, Ngành và tiến tới đạt được mục

tiêu về hiệu quả, hiệu suất đối với tất cả các khoản chi tiêu NSNN.

1.3.2. Bài học vận dụng về công tác quản lý chi thường xuyên trong cơ

quan hành chính Nhà nước ở Việt Nam

Kinh phí sử dụng trong các cơ quan HCNN chủ yếu là kinh phí từ

NSNN. Do vậy quản lý chi thường xuyên ở các cơ quan này chủ yếu là quản

lý chi NSNN đảm bảo sử dụng hiệu quả, tiết kiệm. Kinh nghiệm thực tế vể

quản lý chi thường xuyên của các nước Singapore, Đức, Pháp đã cho thấy

phương thức quản lý chi NSNN dựa theo kết quả đầu ra và hướng tới xây

dựng khung chỉ tiêu trung hạn là hoàn toàn phù hợp, đáp ứng u cầu cải cách

tài chính cơng ở Việt Nam hiện nay. Từ đó có thể rút ra một số bài học kinh

nghiệm cho Việt Nam như sau:

Thứ nhất, Nhà nước cần tiếp tục nghiên cứu sửa đổi Luật NSNN theo

hướng tăng cường phân cấp quản lý NSNN cho các địa phương, cho các đơn

vị sử dụng ngân sách theo hướng gắn quyền hạn với trách nhiệm; đồng thời

đảm bảo vai trò chủ đạo của Ngân sách Trung ương. Tại các nước phát triển

trên, đều đã có sự phân định rõ phạm vi, nội dung và trách nhiệm, quyền hạn

giữa các cơ quan thực hiện sự quản lý Nhà nước, cơ quan trực tiếp quản lý, sử

dụng kinh phí NSNN và các cá nhân liên quan. Bởi vì quyền sở hữu và quyền

sử dụng NSNN thường là tách khỏi nhau, nhưng trong q trình quản lý và sử

dụng ln có sự đan xen quyền hạn, trách nhiệm giữa các cấp, các cơ quan

với nhau. Ở Việt Nam việc xác định quyền hạn, nghĩa vụ và trách nhiệm của

các cấp, các cơ quan, các cá nhân chưa được rõ rang nên việc quy trách nhiệm

cho một cơ quan, một cá nhân trong việc quản lý và sử dụng NSNN không

22



hiệu quả, lãng phí…thường khó khăn. Do đó Nhà nước cần tiếp tục phân định

cụ thể hơn về nghĩa vụ, trách nhiệm, thẩm quyền của các cơ quan, cá nhân thì

việc quản lý, sử dụng NSNN sẽ tránh được lãng phí, thất thốt và đảm bảo

nâng cao hiệu quả trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Thứ hai, các nước trên đều đã áp dụng phương thức soạn lập ngân sách

trong khuôn khổ chi tiêu tiêu trung hạn và quản lý ngân sách theo kết quả đầu

ra. Quản lý chi NSNN dựa theo kết quả đầu ra là phương thức quản lý tiên

tiến đã được nhiều nước tiếp cận, trong đó có cả những quốc gia có nền kinh

tế phát triển và đang phát triển. Phương pháp quản lý ngân sách theo đầu ra

trong thời gian trung hạn cho phép các nhà quản lý tại các cơ quan HCNN chủ

động hơn trong điều hành ngân sách, đồng thời phải chịu trách nhiệm về đầu

ra và kết quả hoạt động của mình, yêu cầu ngân sách được sử dụng hiệu quả,

công khai, minh bạch.

Việt Nam là một nước mới bắt đầu phát triển kinh tế thị trường, từ một

đất nước hạ tầng kinh tế xã hội lạc hậu, trình độ quản lý còn bất cập, trong khi

đó nhu cầu đầu tư từ NSNN để phát triển kinh tế xã hội của đất nước là vô

cùng lớn, khả năng huy động từ GDP còn thấp. Vì vậy việc chi tiêu từ nguồn

NSNN gắn với kết quả là một đòi hỏi cấp thiết.

Nhà nước cần tiếp tục đổi mới phương pháp lập, phân bổ dự toán

NSNN đối với cơ quan HCNN theo hướng dựa trên kết quả đầu ra, tăng

cường trách nhiệm của đội ngũ CBCC, nâng cao hiệu lực của bộ máy HCNN,

mức độ hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Tuy nhiên, để đo đếm hiệu quả chi NSNN bằng kết quả đầu ra cần có

hệ thống khn khổ pháp lý tiên tiến, hạ tầng công nghệ thông tin, đội ngũ

cán bộ quản lý tư duy và trình độ đủ để tiếp cận với phương thức mới. Kinh

nghiệm của các nước đã áp dụng thành công cho thấy phải tốn nhiều thời

gian, nguồn lực và phải có sự chuẩn bị kỹ lưỡng với những bước đi thích hợp.



23



Nhà nước ta cần phải thực hiện thí điểm ở một số cơ quan HCNN

trước, sau đó rút ra những kinh nghiệm và kiểm tra những cách tiếp cận khác

nhau trước khi thể chế hóa và phổ biến áp dụng rộng rãi phương thức quản lý

chi tiêu công dựa theo kết quả đầu ra. Cách tiếp cận từng bước như vậy có thể

khắc phục được tư tưởng nóng vội, chủ quan và khắc phục những hiệu quả

kém trong quá trình thực hiện.

Kiểm tra và đánh gia công việc thực hiện đều phải được xem là công cụ

quan trọng của hệ thống lập ngân sách theo kết quả đầu ra, chúng bổ sung và

hỗ trợ cho nhau. Cần gắn kết chặt chẽ quyền tự chủ và trách nhiệm của người

lãnh đạo tại các cơ quan HCNN, cần tạo điều kiện cho công chúng, những nhà

tài trợ, những người thụ hưởng tham gia tất cả các giai đoạn của hệ thống lập

ngân sách theo đầu ra như: xây dựng chiến lược, phát triển hệ thống đo lường

cơng việc thưc hiện và tiến trình ra quyết định theo kết quả đầu ra.

Thứ ba, tại các nước đều rất coi trọng cơng tác kiểm tốn, kiểm tra,

giám sát và xây dựng chế tài xử lý vi phạm trong quá trình quản lý, sử dụng

NSNN tại các cơ quan HCNN. Bên cạnh việc hoàn thiện pháp luật, cơ chế

chính sách, các nước còn thơng qua cơ chế kiểm tra, giám sát chặt chẽ và xử

lý vi phạm nghiêm khắc để đảm bảo cho việc quản lý và sử dụng kinh phí có

hiệu quả, cần cải thiện chất lượng các phương thức và công cụ kiểm tra, giám

sát, đồng thời cần quy định cụ thể nghĩa vụ, quyền hạn, trách nhiệm của các

cơ quan, các cá nhân thực hiện cơng tác kiểm tốn, kiểm tra, giám sát.

Thứ tư, hệ thống cơ quan quản lý Nhà nước tại các nước trên được xây

dựng đồng bộ, có chức năng nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm rõ ràngvà

khơng có sự chồng chéo giữa các bộ phận, từ đó kinh phí tại các cơ quan này

được quản lý và sử dụng có hiệu quả. Theo đó Nhà nước cần tiếp tục xây

dựng, củng cố và hoàn thiện hệ thống các cơ quan HCNN từ trung ương đến

địa phương và trong từng cơ quan đơn vị, bên cạnh việc tiếp tục hoàn thiện

chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của mỗi cơ quan, cá nhân

một cách rõ rang và khơng có sự chồng chéo, các cơ quan cũng cần được

24



trang bị đầy đủ cơ sở vật chất, được bố trí các cán bộ có đủ trình độ chun

mơn nghiệp vụ.

Tóm lại cơng tác quản lý chi thường xuyên tại các cơ quan HCNN là

một yêu cầu bắt buộc và cần thiết nhằm đảm bảo xây dựng được cơ chế quản

lý và có hiệu quả nguồn kinh phí NSNN tại các cơ quan này để từ đó thực

hiện tốt các nhiệm vụ được giao theo đúng đường lối chính sách, chế độ của

Nhà nước. Quản lý chi thường xuyên hiệu quả sẽ góp phần đảm bảo duy trì

hoạt động và tăng cường cơng tác quản lý, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt

động của bộ máy Nhà nước, tránh trình trạng lãng phí, thất thốt trong bố trí

và sử dụng ngân sách, thực hiện công khai minh bạch NSNN.



25



Chương 2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Quá trình nghiên cứu

Quá trình nghiên cứu tác giả đã thực hiện phương pháp nghiên cứu tại

chỗ là chủ yếu. Do hiện tại tác giả là một chuyên viên đang cơng tác tại Tổng

cục DTNN, nên có nhiều điều kiện để tiếp cận được với nguồn tài liệu thứ cấp

và được phép sử dụng để đưa vào luận văn của mình. Trong quá trình làm

luận văn các số liệu báo cáo phong phú và đều đảm bảo tính xác thực với

nguồn tài liệu rõ ràng. Ngoài việc thu thập những số liệu, báo cáo của

TCDTNN, tác giả đã sử dụng các phương pháp khác như phân tích, so sánh…

để việc phân tích được sâu và phù hợp với hướng nghiên cứu của tác giả.

2.2. Hệ thống dữ liệu thu thập

Luận văn sử dụng phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp và phương

pháp xử lý số liệu sử dụng ở đây là phương pháp tổng hợp, so sánh và phân

tích dựa trên các số liệu thu thập được tại cơ quan Tổng cục Dự trữ Nhà nước

từ đó phân tích, diễn giải so sánh tìm ra việc quản lý chi thường xuyên của cơ

quan này được thực hiện như thế nào.

Phương pháp khảo sát, đánh giá thực trạng dựa trên quan điểm

đổi mới, cải cách hành chính của Đảng và Nhà nước: Đây là phương pháp thu

thập thông tin dựa trên các văn bản quản lý của Nhà nước trong cơng tác quản

lý chi thường xun từ đó đưa ra nhận xét về tình hình thực tế tại Tổng cục

Dự trữ Nhà nước.

Việc nghiên cứu tài liệu thông qua thu thập và tự xử lý cũng có những

ưu điểm: tận dụng những tài liệu sẵn có của đơn vị cơng tác, tiết kiệm thời

gian và chi phí nghiên cứu, tránh những sai lầm của những nghiên cứu đi

trước. Tuy nhiên việc nghiên cứu như thế này cũng có những hạn chế: người

nghiên cứu sẽ không hiểu sâu được vấn đề nghiên cứu như tại sao lại tính tốn

như vây, sử dụng phương pháp toán học như thế nào để có thể đưa ra các tỷ lệ

phân bổ các khoản chi…để từ đó có những giải pháp sát với hiện trạng nhằm

thích ứng với những biến đổi thường xuyên của kinh tế - xã hội đất nước.



26



Phương pháp phân tích:

+ Phương pháp thống kê kinh tế: được sử dụng để phân tích số liệu kết

hợp với phương pháp so sánh nhằm làm rõ tình hình biến động của các chỉ

tiêu nghiên cứu trong mối quan hệ với các chỉ tiêu khác. Cụ thể, qua các chier

tiêu về số tuyệt đối, số tương đối đưa ra những kết luận về những kết quả,

thành tựu đạt được, những tồn tại trong hoạt động quản lý chi thường xuyên

tại Tổng cục Dự trữ Nhà nước, từ đó bổ sung tăng thu nhập cho cán bộ, công

chức, tăng cường cơ sở vật chất phục vụ cho công tác.... và những vấn đề đặt

ra, trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp phù hợp, có căn cứ khoa học.

+ Phương phương so sánh: sử dụng số liệu theo chuỗi thời gian để so

sánh, so sánh chéo các chỉ tiêu giữa các năm.



27



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Nhân tố bên trong

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×