Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
- Xây dựng hệ thống biện pháp ưu đãi về kinh tế: Để tạo ra lợi thế thu hút đầu tư vào KCN thì hệ thống biện pháp ưu đãi về kinh tế cũng là một yếu tố quan trọng. Hệ thống biện pháp này phải thể hiện được tính cạnh tranh so với những khu vực ngoài KCN và p

- Xây dựng hệ thống biện pháp ưu đãi về kinh tế: Để tạo ra lợi thế thu hút đầu tư vào KCN thì hệ thống biện pháp ưu đãi về kinh tế cũng là một yếu tố quan trọng. Hệ thống biện pháp này phải thể hiện được tính cạnh tranh so với những khu vực ngoài KCN và p

Tải bản đầy đủ - 0trang

đầu tư vào KCN vừa phải đảm bảo được sự quản lý của Nhà nước và phù hợp

với thông lệ, luật chơi chung của quốc tế.

Nhà đầu tư nước ngoài luôn mong muốn đầu tư trong một môi trường

luật pháp rõ ràng, đơn giản, có tính ổn định, lâu dài, qui định rõ quyền lợi và

nghĩa vụ của nhà đầu tư. Một hệ thống pháp luật có tính pháp lý cao, các thủ

tục hành chính đơn giản, nhanh gọn sẽ là nhân tố hấp dẫn các nhà đầu tư.

• Xác định các nhà đầu tư mục tiêu cho các lĩnh vực/sản phẩm

Nền kinh tế quốc dân bao gồm nhiều ngành, nhiều lĩnh vực. Tùy thuộc

vào mức độ quan trọng của các ngành, các lĩnh vực đối với nền kinh tế cũng

như nhu cầu về vốn của chúng mà người ta sắp xếp các ngành theo thứ tự ưu

tiên trong việc thu hút FDI. Trong từng ngành, từng lĩnh vực lại có rất nhiều

các nhà đầu tư nước ngoài tiềm năng. Họ có mục đích đầu tư, điểm mạnh, điểm

yếu khác nhau. Họ mang lại nhưng lợi ích khác nhau khi đầu tư cho quốc gia

sở tại. Thực tế này đòi hỏi, quốc gia sở tại phải lựa chọn các nhà đầu tư mục

tiêu cho từng ngành, từng lĩnh vực theo mức độ ưu tiên của mình trong mục

tiêu thu hút FDI để hoạt động thu hút FDI có trọng tâm và đạt hiệu quả cao.

• Xây dựng kế hoạch và tổ chức các hoạt động xúc tiến

đầu tư vào KCN

Xúc tiến đầu tư vào KCN là một hoạt động quan trọng nhằm giới thiệu,

quảng bá về KCN, các dự án tiếp nhận đầu tư trong KCN, cung cấp các thông

tin liên quan đến các dịch vụ đầu tư cho các nhà ĐTNN. Nội dung chính của

hoạt động xúc tiến đầu tư vào KCN bao gồm các công việc cụ thể sau :

- Thành lập các cơ quan chuyên trách về xúc tiến đầu tư vào KCN ở các

cấp. Việc thành lập các cơ quan chuyên trách về xúc tiến đầu tư vào KCN là

rất cần thiết, đảm bảo được năng lực, hiệu quả và sự chuyên nghiệp trong hoạt

động xúc tiến đầu tư. Các cơ quan xúc tiến đầu tư có thể bao gồm các cơ quan

của Chính phủ, các bộ ngành và của từng địa phương. Các cơ quan này có thể



xxiii



đặt văn phòng đại diện của mình tại nước ngoài để tạo thuận lợi trong hoạt

động của mình tại nước ngoài.

- Xây dựng danh mục thu hút FDI vào KCN. Danh mục này cho biết

các ngành nghề, các lĩnh vực trong KCN được Chính phủ và địa phương

khuyến khích đầu tư, khơng khuyến khích đầu tư hay cấm đầu tư. Dựa trên

danh mục này, các nhà ĐTNN sẽ lựa chọn các ngành nghề, lĩnh vực đầu tư

thích hợp với mình. Ngoài ra, danh mục này cũng nhằm đảm bảo thực hiện

được các mục tiêu thu hút FDI của Chính phủ nước sở tại.

- Xây dựng kế hoạch và tổ chức các chương trình xúc tiến đầu tư. Các

cơ quan chuyên trách về xúc tiến đầu tư có nhiệm vụ xây dựng và tổ chức

thực hiện các chương trình xúc tiến đầu tư. Các chương trình xúc tiến đầu tư

này rất đa dạng có thể là một số hoạt động sau : tổ chức các diễn đàn xúc tiến

đầu tư kết hợp với các chuyến thăm cấp cao của các nhà lãnh đạo đứng đầu

nhà nước, tổ chức hội thảo giới thiệu về cơ hội đầu tư ở trong và ngoài nước,

xây dựng các trang thông tin chuyên về hoạt động xúc tiến đầu tư, phát hành

các ấn bản về đầu tư giới thiệu về : sức hấp dẫn của môi trường đầu tư, các

thành tựu đã đạt được, các chính sách ưu đãi đầu tư...

Để hoạt động xúc tiến đầu tư này đạt hiệu quả cao thì cần có một chiến

lược về xúc tiến đầu tư, sự hợp tác giữa các cơ quan của Chính phủ, các bộ

ngành, địa phương và của từng KCN nước sở tại.

1.2.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến thu hút FDI vào KCN

Các nhân tố ảnh hưởng đến thu hút FDI vào các KCN bao gồm các

nhân tố liên quan đến môi trường quốc tế, môi trường quốc gia tiếp nhận

đầu tư và môi trường bên trong KCN. Dưới đây tác giả sẽ đi sâu phân tích

các ảnh hưởng của những nhân tố trên đối với thu hút FDI vào các KCN,

cụ thể như sau:

1.2.4.1. Các nhân tố liên quan đến môi trường quốc tế.

- Môi trường kinh tế thế giới

xxiv



Môi trường kinh tế thế giới ảnh hưởng sâu sắc đến khả năng thu hút

FDI của một quốc gia. Các cuộc khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng tài chínhtiền tệ, khủng hoảng chính trị, xã hội; dịch bệnh…đều như một tác động đa

phương diện và theo nhiều cơ chế khác nhau tới thu hút FDI của một quốc

gia. Sự tác động đó có mặt khuyến khích, có mặt lại hạn chế luồng vốn FDI

vào quốc gia tiếp nhận. Sự tác động có thể gián tiếp thông qua sự tác động tới

FDI khu vực hoặc thông qua sự tác động tới các lĩnh vực có liên quan khác

của nền kinh tế như lĩnh vực thương mại, lĩnh vực tài chính-ngân hàng...

- Hướng chuyển dịch của dòng FDI quốc tế.

Nhân tố bên ngoài đầu tiên có ý nghĩa quyết định khả năng thu hút FDI

của một quốc gia là quốc gia đó có nằm trong hướng chuyển dịch của dòng vốn

FDI quốc tế khơng? Xu hướng vận động của FDI thế giới nói chung quyết định

mức độ tăng giảm sự phát triển của khu vực có vốn ĐTNN của các nước trên

thế giới. Nếu một quốc gia thuộc dòng chảy của vốn, khả năng tiếp nhận vốn

của quốc gia đó rất lớn, bởi vì: Một khi quốc gia đã nằm trong dòng chảy vốn

ĐTNN, cũng có nghĩa là bản thân quốc gia đó có đủ những điều kiện để các

nhà ĐTNN “để mắt” tới. Nếu những điều kiện mà quốc gia đó chưa đủ để thu

hút nhà đầu tư thì cũng sẽ được “bổ sung” từ chính các nhà đầu tư… Đón bắt

được xu hướng chuyển dịch FDI trên thế là một yếu tố quan trọng để một quốc

gia đưa ra các điều kiện phù hợp khai thơng dòng FDI đổ về.

1.2.4.2. Các nhân tố liên quan đến nước tiếp nhận đầu tư.

Các nhân tố này cơ bản quyết định đến khả năng thu hút FDI của một

quốc gia. Các nhân tố này có thể xem như là những nhân tố bên trong tác

động trực tiếp tới sự di chuyển của dòng FDI vào một quốc gia.

- Chiến lược thu hút vốn phục vụ phát triển kinh tế.

Chiến lược thu hút vốn phục vụ phát triển kinh tế của một quốc gia có

thể coi là nhân tố có ý nghĩa quyết định đến các hoạt động triển khai và kết

quả thu hút FDI của quốc gia đó.

xxv



Chiến lược này tập trung ở một số điểm: có mở cửa thu hút vốn bên

ngoài hay khơng; đặt trọng tâm thu hút nguồn vốn trong nước hay ngoài

nước; nguồn vốn nước ngoài tập trung chủ yếu vào nguồn nào định hướng các

lĩnh vực thu hút vốn; tiêu chuẩn để xác định phương hướng lựa chọn dự án

đầu tư nước ngoài…VD: Trong thời kì đầu mới thu hút FDI của Thái Lan,

mục tiêu được ưu tiên hàng đầu trong việc thu hút vốn FDI là vốn. Sau một

thời gian thu hút được một lượng lớn vốn FDI, Thái Lan đã chuyển mục tiêu

ưu tiên hàng đầu là công nghệ, tiếp sau đó mới đến vốn. Việc xác định mục

tiêu này là khác nhau ở từng thời kì phát triển kinh tế của mỗi quốc gia.

- Mức độ hội nhập kinh tế quốc tế của quốc gia tiếp nhận.

Trong xu thế quốc tế hố ngày càng phát triển, tính tuỳ thuộc lẫn nhau

ngày càng lớn, không một quốc gia dân tộc nào tự khép kín, cơ lập với thế

giới mà có thể phát triển được. Do đó, sự hợp tác, cùng tồn tại và phát triển

giữa các quốc gia dân tộc có chế độ chính trị-xã hội khác nhau ngày càng

tăng. Các mối quan hệ kinh tế quốc tế của một quốc gia vừa là hệ quả của

chiến lược huy động vốn của quốc gia đó, vừa là cơ hội để tìm kiếm đối tác

đầu tư. Nhiều quốc gia khi thực hiện mở cửa tham gia các tổ chức kinh tế khu

vực hoặc quốc tế, hoạt động ngoại thương phát triển nhanh chóng, thu hút

ĐTNN đã gia tăng, chất lượng ĐTNN được cải thiện đáng kể, do đó mở thêm

nguồn lực để phát triển kinh tế đất nước. Để tăng cường mối quan hệ kinh tế

quốc tế của một quốc gia, Chính phủ phải thiết lập và duy trì các quan hệ đối

ngoại chính thức hoà bình, hợp tác thân thiện và rộng rãi với các nước, đàm

phán và ký kết các loại Hiệp định và cam kết đầu tư, thương mại, bảo hiểm và

tư pháp song phương và đa phương ở cấp quốc gia, khu vực và quốc tế khác

nhau cần thiết, tạo ra khung pháp lý chính thức và đầy đủ để mở đường cho

sự lưu chuyển vốn đầu tư giữa các thị trường vốn bên ngoài với thị trường

trong nước.

- Sự ổn định về chính trị, kinh tế và xã hội

xxvi



Đây là điều kiện tiên quyết nhằm giảm thiểu những rủi ro kinh tế,

chính trị của vốn FDI khi vượt khỏi sự kiểm soát của chủ ĐTNN. Những

bất ổn định kinh tế, chính trị khơng chỉ làm cho dòng vốn này bị chững lại,

thu hẹp, mà còn làm cho dòng vốn từ trong nước chảy ngược ra ngoài, tìm

đến nơi an toàn và hấp dẫn hơn. Bất kỳ sự bất ổn định chính trị nào, các

xung đột khu vực, nội chiến hay sự hoài nghi, tẩy chay, thiếu thiện cảm của

giới lãnh đạo và nhân dân đối với vốn ĐTNN, đều là những nhân tố nhạy

cảm tác động tiêu cực đến tâm lý và hành động thực tế của các chủ ĐTNN,

cũng như làm chậm lại các cải cách chính sách cần thiết đối với việc thu hút

FDI của nước chủ nhà.

1.2.4.3. Các nhân tố thuộc về môi trường trong KCN

Do FDI vào KCN là hoạt động đầu tư tập trung, đặc điểm của KCN là

một khu vực lãnh thổ hữu hạn nên hoạt động này còn chịu ảnh hưởng của các

nhân tố thuộc về môi trường trong KCN. Các nhân tố ảnh hưởng đến thu hút

FDI của môi trường trong KCN cũng giống các nhân tố của mơi trường quốc

gia nói chung. Tuy nhiên, trong phần này tác giả chú trọng vào trình bày các

nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động thu hút FDI vào KCN của mơi

trường KCN, đó là các nhân tố thuộc môi trường đầu tư KCN. Các nhân tố

này bao gồm:

Nhân tố về mặt pháp lý bao gồm: Hệ thống các văn bản pháp luật,

chính sách về KCN, hệ thống các biện pháp ưu đãi đầu tư vào KCN... Thông

thường, Chính phủ và địa phương của nước sở tại nơi có các KCN thường ban

hành các quy chế riêng cho hoạt động đầu tư vào KCN, đưa ra nhiều ưu đãi

cho hoạt động đầu tư vào KCN để tăng sức hấp dẫn cho thu hút đầu tư vào

KCN. Đây chính là yếu tố mà các nhà đầu tư quan tâm khi quyết định đầu tư

vào một quốc gia, đầu tư vào KCN hay ngoài KCN.

Nhân tố về cơ sở kết cấu hạ tầng. Cơ sở hạ tầng trong KCN là điều kiện

vật chất hàng đầu trong việc xem xét quyết định đầu tư của các nhà ĐTNN.

xxvii



Cơ sở hạ tầng KCN cần phải được xây dựng đồng bộ bao gồm: hệ thống

đường nội bộ, hệ thống thoát nước, hệ thống cấp điện, cấp nước, hệ thống xử

lí nước thải tập trung, hệ thống cơ sở hạ tầng về công nghệ thông tin và các hệ

thống dịch vụ khác như: tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, lao động…

Cơ sở hạ tầng KCN thường được đầu tư xây dựng bởi các nhà đầu tư

phát triển cơ sở hạ tầng. Những nhà đầu tư này sau khi xây dựng cơ sở hạ

tầng xong, họ sẽ cho thuê lại mặt bằng, nhà xưởng cho các nhà đầu tư thứ cấp

khác và thu phí. Các loại phí mà nhà đầu tư thứ cấp thường phải đóng nộp khi

hoạt động trong KCN bao gồm: phí th đất, phí điện, nước, phí xử lí nước

thải, phí duy tu cơ sở hạ tầng và các loại phí dịch vụ khác mà nhà đầu tư thứ

cấp sử dụng. Các loại phí dịch vụ này có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động

sản xuất kinh doanh của các nhà đầu tư và nó được tính vào chi phí sản xuất.

Chính vì vậy, các loại phí này cũng là yếu tố được các nhà đầu xem xét khi ra

quyết định đầu tư.

Nhân tố về lao động: Các doanh nghiệp hoạt động trong KCN thường

có nhu cầu lớn về lao động phổ thơng, lao động có tay nghề đã qua đào tạo.

Chính vì vậy, khả năng đáp ứng về lao động của địa phương có KCN đặc biệt

là lao động đã qua đào tạo là một nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động thu hút

FDI. Ngoài ra, chi phí th nhân cơng, sự thuận lợi trong hoạt động tuyển

dụng lao động cũng là các vấn đề mà nhà đầu tư quan tâm.

Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên của KCN: Các doanh nghiệp trong

KCN thường sử dụng nguồn nguyên liệu sẵn có tại địa phương. Việc tiếp

nhận, vận chuyển nguyên vật liệu và thành phẩm đi tiêu thụ rất được các nhà

đầu tư quan tâm. Các KCN nằm dọc đường quốc lộ, có hệ thơng giao thơng

thuận tiện, gần cầu cảng, sân bay… thường có lợi thế hơn trong việc thu hút

đầu tư. Do vậy, vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên của KCN cũng là một nhân

tố ảnh hưởng đến hoạt động thu hút FDI vào KCN.



xxviii



1.2.5. Các tiêu chí đánh giá hiệu quả thu hút FDI vào các KCN

Trong khn khổ Luận văn này, dưới góc độ về quản lý kinh tế, tác giả

sẽ đi sâu vào phân tích 03 tiêu chí cơ bản về hiệu quả kinh tế, tác động xã hội

và tác động môi trường để đánh giá hiệu quả của việc thu hút FDI trong các

KCN đối với sự phát triển kinh tế- xã hội của địa phương. Cụ thể như sau :

* Tiêu chí đánh giá hiệu quả về kinh tế: Các chỉ tiêu đánh giá hiệu

quả thu hút FDI về mặt kinh tế bao gồm các chỉ tiêu sau:

- Mức độ đóng góp nguồn vốn bổ sung cho vốn đầu tư phát triển xã

hội và tăng trưởng kinh tế. Đối với các nước đang phát triển, thiếu vốn cho

đầu tư phát triển dẫn đến hiệu quả phát triển kinh tế thấp, tích lũy thấp lại

quay về tình trạng thiếu vốn, Vốn FDI là một nguồn vốn huy động từ bên

ngoài tạo nên sự thay đổi vào cái vòng luẩn quẩn đó, là nguồn vốn bổ sung dài

hạn cho kinh tế địa phương. Nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vì mục tiêu lợi

nhuận vì vậy việc nghiên cứu thực hiện các dự án luôn luôn đặt hiệu quả lên

hàng đầu, làm cho hiệu quả đầu tư của kinh tế địa phương cũng tăng lên.

Và nếu xét vốn FDI trong mối quan hệ với các nguồn vốn nước

ngoài khác như tín dụng quốc tế, chứng khốn quốc tế, vốn ODA… thì vốn

FDI cho phép các nước đang phát triển tránh được gánh nặng nợ nần, ít mạo

hiểm, do đó có ảnh hưởng tích cực đến cán cân thanh tốn trong ngắn hạn.

Tuy nhiên, về dài hạn, để biết rõ vốn FDI ảnh hưởng cán cân thanh tốn

như thế nào thì cần phải xem xét trong một thời kỳ nhất định. Và cho dù

xem xét dưới góc độ nào, các nhà kinh tế đều có một kết luận là sự gia tăng

dòng vốn FDI có ảnh hưởng tích cực tới cán cân thanh toán của các nước

đang phát triển. Một điều quan trọng nữa là vốn FDI có hiệu ứng tích cực

đối với toàn hệ thống tài chính của nước nhận đầu tư.

- Mức độ đóng góp của FDI vào KCN trong tăng trưởng kinh tế của

tỉnh. Chỉ tiêu này phản ánh mức độ đóng góp của FDI trong KCN vào

tăng trưởng kinh tế của tỉnh, tỷ lệ này cao hay thấp thể hiện mức độ đóng

xxix



góp nhiều hay ít của khu vực FDI đối với nền kinh tế địa phương. Khi FDI

trong KCN đóng góp nhiều hay ít vào GDP thì đó cũng chính là các KCN

trên địa bàn đã tác động nhiều hay ít đến tăng trưởng kinh tế. Tăng trưởng

kinh tế là sự tăng lên hay giảm đi của nền kinh tế của năm nay so với năm

trước đó hoặc thời kỳ này so với thời kỳ trước. GDP hay GNP, GNI là các

chỉ tiêu được dùng để đo lường sự tăng trưởng kinh tế của một quốc gia và

trong đó có sự đóng góp của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.

- Mức thu ngân sách khu vực FDI/Tổng thu ngân sách nhà nước. Chỉ

tiêu này phản ánh, trong một đồng vốn ngân sách nhà nước thì khu vực

FDI đã đóng góp được bao nhiêu, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ là mức độ

đóng góp của khu vực FDI càng lớn. Ngoài ra, người ta còn sử dụng chỉ

tiêu: Thu ngân sách/vốn FDI để phản ánh mức độ nộp ngân sách so với

vốn FDI thực hiện hàng năm hoặc trong một thời kỳ. Chỉ tiêu này càng

cao thì phản ánh hiệu quả của vốn FDI tính theo mức đóng góp ngân sách

càng lớn. để đánh giá ta so sánh chỉ tiêu này với giá trị trung bình tại địa

phương đó qua các thời kỳ hoặc so sánh với các địa phương khác, so với

giá trị trung bình của toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Nếu chỉ tiêu này càng

lớn thì chứng tỏ mức độ đóng góp của khu vực FDI vào ngân sách càng lớn.

- Mức độ đóng góp của vốn FDI vào sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế.

Vốn FDI tham gia vào sự hình thành cơ cấu vốn đầu tư theo ngành và từ đó

tác động vào q trình chuyển dịch cơ cấu ngành tại địa phương tiếp nhận

vốn. Trên góc độ này, cơ cấu vốn FDI và sự dịch chuyển cơ cấu vốn FDI sẽ

có tác động tới cơ cấu kinh tế và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Một cơ cấu

vốn FDI phù hợp sẽ góp phần vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phù

hợp và qua đó góp phần tạo nên sự phát triển. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế cần

có vốn đầu tư. Tuy nhiên, có vốn đầu tư chưa đủ vì nếu khơng bố trí hợp lý

thì khơng thể tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế được, với một cơ cấu vốn



xxx



đầu tư hợp lý sẽ thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng

hợp lý.

- Mức đóng góp Thu ngân sách khu vực FDI/Tổng thu ngân sách nhà nước

Chỉ tiêu này phản ánh, trong một đồng vốn ngân sách nhà nước thì

FDI trong KCN đã đóng góp được bao nhiêu, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ

là mức độ đóng góp của khu vực FDI càng lớn. Ngoài ra, người ta còn sử

dụng chỉ tiêu: Thu ngân sách/vốn FDI để phản ánh mức độ nộp ngân sách

so với vốn FDI thực hiện hàng năm hoặc trong một thời kỳ. Chỉ tiêu này

càng cao thì phản ánh hiệu quả của vốn FDI tính theo mức đóng góp ngân

sách càng lớn. để đánh giá ta so sánh chỉ tiêu này với giá trị trung bình

tại địa phương đó qua các thời kỳ hoặc so sánh với các địa phương khác,

so với giá trị trung bình của toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Nếu chỉ tiêu này

càng lớn thì chứng tỏ mức độ đóng góp của khu vực FDI vào ngân sách

càng lớn.

- Trong việc thúc đẩy chuyển giao công nghệ. Để thực hiện một dự án

FDI vào một quốc gia, các NĐT nước ngoài không chỉ chuyển vào nước đó

vốn bằng tiền, mà còn chuyển cả vốn hiện vật như máy móc, thiết bị, ngun

vật liệu (còn gọi là cơng nghệ cứng) và vốn vơ hình như cơng nghệ, tri thức

khoa học, bí quyết quản lý, kỹ năng tiếp cận thị trường... (còn gọi là cơng

nghệ mềm) cũng như đưa chuyên gia nước ngoài vào hoặc đào tạo các chuyên

gia bản xứ về các lĩnh vực cần thiết phục vụ hoạt động của dự án. Chính điều

này cho phép các nước nhận đầu tư không chỉ nhập khẩu công nghệ đơn

thuần, mà còn nắm vững cả kỹ năng nguyên lý vận hành, sửa chữa, mơ phỏng

và phát triển nó, nhanh chóng tiếp cận được cơng nghệ hiện đại ngay cả khi

nền tảng công nghệ quốc gia chưa được tạo lập đầy đủ.

FDI được coi là một phương tiện hữu hiệu cho các nước đang phát triển

có trình độ cơng nghệ lạc hậu nhập khẩu các cơng nghệ có trình độ cao hơn từ



xxxi



bên ngoài. Đối với các nước phát triển thì FDI góp phần bổ sung và hoàn

thiện cơng nghệ của mình.

- Tác động lan tỏa của vốn đầu tư nước ngoài đến các thành phần kinh

tế khác trong nền kinh tế: Hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp đầu tư

nước ngoài được nâng cao qua số lượng các doanh nghiệp tăng vốn đầu

tư, mở rộng quy mô sản xuất; đồng thời, có tác động lan tỏa đến các thành

phần kinh tế khác của nền kinh tế thông qua sự liên kết giữa các doanh

nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với các doanh nghiệp trong nước, công

nghệ và năng lực quản lý, kinh doanh được chuyển giao từ doanh nghiệp có

vốn đầu tư nước ngoài. Sự lan tỏa này có thể theo hàng dọc giữa các doanh

nghiệp trong ngành dọc hoặc theo hàng ngang giữa các doanh nghiệp cùng

ngành. Mặt khác, các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài cũng tạo động lực cạnh

tranh cho các doanh nghiệp trong nước nhằm thích ứng trong bối cảnh toàn cầu

hóa, qua đó nâng cao được năng lực của các doanh nghiệp trong nước.

* Các tiêu chí đánh giá hiệu quả tác động về mặt xã hội, gồm các tiêu

chí cơ bản như sau:

- Trong việc tạo việc làm, tăng năng suất lao động, cải thiện nguồn nhân lực

Tiêu chí này được định lượng bằng chỉ số:

Số lao động làm việc khu vực FDI và tỷ số lao động khu vực

FDI/Tổng lao động địa phương. Chỉ tiêu này phản ánh mức độ thu hút lao

động tại khu vực FDI, nếu khu vực FDI thu hút càng nhiều lao động tại địa

phương thì càng tốt, càng tạo ra nhiều việc làm cho người lao động. Ngoài

ra, người ta còn dùng chỉ tiêu: Tỷ suất vốn đầu tư/lao động để cho biết mức

đầu tư bình quân cho một lao động trong khu vực FDI. Nếu chỉ xét trên

phương diện vốn tạo việc làm thì tỷ suất vốn trên lao động cao so với số

liệu trung bình thì được xem như vốn đầu tư thực hiện thu hút được ít lao

động và ngược lại.



xxxii



Thơng qua vốn FDI sẽ tạo ra các doanh nghiệp mới hoặc làm tăng

quy mơ các đơn vị hiện có từ đó tạo ra cơng ăn việc làm cho rất nhiều lao

động, đặc biệt là các nước đang phát triển có ln có nguồn lao động dồi

dào, nhưng thiếu vốn để khai thác và sử dụng, sự xuất hiện của hàng loạt các

doanh nghiệp FDI, lao động làm việc trong khu vực FDI cũng sẽ tiếp thu

được nhiều kỹ năng chuyên môn và quản lý. Đội ngũ lao động quản lý sẽ

tiếp thu được kỹ thuật quản lý tiên tiến, hiện đại ở các nước khác nhau trên

thế giới, cách tiếp cận thị trường, khả năng đàm phán, xúc tiến thương mại,

quản trị nhân lực…còn người lao động trong các doanh nghiệp sẽ tiếp thu

được kỷ luật lao động, tác phong làm việc, cách thức sắp xếp và tổ chức

công việc để hoàn thành sản xuất đúng thời gian và số lượng…

Ngoài ra còn làm tăng thu nhập cho người lao động bởi tiền lương trả

từ các doanh nghiệp có vốn FDI thường lớn hơn các doanh nghiệp trong

nước, từ đó cải thiện được đời sống của người lao động. Hơn nữa, các dự

án FDI thường tổ chức các khóa đào tạo cho người lao động của dự án,

trong đó có nhiều người được cử đi lao động của nước ngoài từ đó sẽ hình

thành ở nước nhận đầu tư một lực lượng công nhân kỹ thuật lành nghề. Đối

với những cán bộ quản lý, khi được tham gia các dự án, do yêu cầu của

công việc sẽ trưởng thành hơn về năng lực quản lý để phù hợp với nền sản

xuất hiện đại. Như vậy, việc tham gia vào các dự án có vốn FDI sẽ tạo cho

địa phương phát triển được nguồn nhân lực. đây là nhân tố quan trọng

góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, bởi vì trình độ nguồn nhân lực có

ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động sản xuất, các vấn đề xã hội. Và phản ứng

dây chuyền tự nhiên, sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp có vốn FDI với

các doanh nghiệp trong nước trên thị trường lao động là nhân tố thúc đẩy

lực lượng lao động tự nâng cao trình độ một cách tích cực và có hiệu

quả hơn, góp phần hình thành nhanh hơn một đội ngũ lao động có trình

độ, có thói quen tuân thủ nề nếp làm việc theo tác phong công nghiệp

xxxiii



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

- Xây dựng hệ thống biện pháp ưu đãi về kinh tế: Để tạo ra lợi thế thu hút đầu tư vào KCN thì hệ thống biện pháp ưu đãi về kinh tế cũng là một yếu tố quan trọng. Hệ thống biện pháp này phải thể hiện được tính cạnh tranh so với những khu vực ngoài KCN và p

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×