Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
NHỮNG GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THU HÚT FDI VÀO CÁC KCN TỈNH HÀ NAM GIAI ĐOẠN 2016 – 2020

NHỮNG GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THU HÚT FDI VÀO CÁC KCN TỈNH HÀ NAM GIAI ĐOẠN 2016 – 2020

Tải bản đầy đủ - 0trang

từ đàm phán FTA, đồng thời xem xét sự cải tiến môi trường kinh doanh trong

nước như cam kết của Chính phủ.

Việt Nam đứng trước nhiều cơ hội hội nhập, mở cửa mạnh mẽ, với nhiều

hiệp định thương mại tự do (FTA) có thể được ký kết như: FTA Việt Nam - EU,

Việt Nam - Hàn Quốc, Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) và

Cộng đồng Kinh tế ASEAN có hiệu lực… tiến trình hội nhập quốc tế đang diễn

ra mạnh mẽ ở Việt Nam. Những hiệp định này sẽ giúp môi trường đầu tư của

Việt Nam hấp dẫn hơn. Hoạt động của các Doanh nghiệp Việt Nam nói chung

và doanh nghiệp FDI ở Việt Nam nói riêng kỳ vọng sẽ có nhiều chuyển biến to

lớn trong giai đoạn tiếp theo. Nhiều doanh nghiệp Mỹ đang có xu hướng

chuyển dịch địa điểm đầu tư từ Trung Quốc sang Việt Nam

Bên cạnh đó, với việc ban hành Luật Đầu tư (sửa đổi) và Luật Doanh

nghiệp (sửa đổi), môi trường đầu tư của Việt Nam được đánh giá sẽ ngày càng

thuận lợi, thơng thống, hấp dẫn hơn. Theo các luật này, kể từ ngày 1/7, số

ngành nghề bị cấm kinh doanh ở Việt Nam sẽ được giảm từ 51 ngành xuống

còn 6 ngành. Chính phủ cũng sẽ nới lỏng quy định đối với hơn 100 lĩnh vực

khác – một đợt cải tổ quy định kinh doanh lớn nhất trong nền kinh tế kể từ khi

doanh nghiệp tư nhân được phép hoạt động tại Việt Nam kể từ năm 1990.

Ngoài việc nới lỏng các quy định về kinh doanh, Chính phủ cũng đang đẩy

nhanh tiến trình bán cổ phần của các doanh nghiệp nhà nước như một cách

thu hút đầu tư. Nhà đầu tư nước ngoài sẽ có thêm cơ hội đầu tư do có thêm

nhiều cơng ty nhà nước cổ phần hó và Việt Nam sẽ bán cổ phần với khối

lượng lớn, không chỉ 5%, 10% hay 20% như trước kia. Đặc biệt, Nghị định về

đầu tư theo hình thức đối tác cơng tư (PPP) mới được Chính phủ ban hành

đang được các nhà đầu tư quốc tế rất quan tâm. Nếu đẩy mạnh triển khai hình

thức này sẽ thu hút được lượng vốn đầu tư lớn từ nhà đầu tư nước ngoài.

Nhiều nhà đầu tư Mỹ thể hiện sự quan tâm đặc biệt đối với hình thức đầu tư

PPP tại Việt Nam. Vì vậy, trong thời gian tới, cần lồng ghép vào các chương

lxxxii



trình xúc tiến đầu tư để quảng bá hình thức đầu tư PPP theo Nghị định mới tới

các nhà đầu tư quốc tế.

4.2. Định hướng tăng cường hoạt động thu hút vốn đầu tư trực tiếp

nước ngoài của tỉnh Hà Nam giai đoạn 2016 – 2020

4.2.1. Về cơ cấu vốn

Về cơ cấu đầu tư theo nguồn vốn, dự kiến từ ngân sách nhà nước và

tín dụng đầu tư sẽ giảm dần, tăng nguồn vốn đầu tư từ doanh nghiệp, của

dân cư và tư nhân. Huy động tối đa nguồn vốn đầu tư nước ngoài ( vốn đầu

tư trực tiếp nước ngoài, vốn vay ODA,..): Tiếp tục cải thiện môi trường đầu

tư thông qua việc nâng cấp cơ sở hạ tầng, cải cách thủ tục hành chính, hỗ trợ

doanh nghiệp, nâng cao chất lượng cung cấp các dịch vụ,… tạo lợi thế trong

việc thu hút nguồn đầu tư trực tiếp và gián tiếp từ nước ngoài. Chú trọng

hơn nữa công tác xúc tiến đầu tư để thu hút làn sóng đầu tư mới vào Việt

Nam. Dự kiến vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài giai đoạn 2016-2020 thu hút

khoảng 1.5 đến 2 tỷ USD.

4.2.2. Định hướng ngành

Phát triển tỉnh Hà Nam trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại

trước năm 2020, là trung tâm kinh tế của khu vực Nam đồng bằng sông Hồng. Ưu

tiên thu hút đầu tư nước ngoài vào các ngành, lĩnh vực cơng nghiệp phụ trợ,

có cơng nghệ cao, thân thiện với môi trường; tạo việc làm cho người lao

động; các sản phẩm, dịch vụ có sức cạnh tranh cao; các dự án xây dựng, nâng

cấp kết cấu hạ tầng. Các ngành khuyến khích đầu tư gồm: cơng nghệ thơng

tin, điện tử, vi điện tử, công nghệ sinh học…, chú trọng công nghệ nguồn từ

các nước công nghiệp phát triển như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc; coi

trọng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài gắn với nghiên cứu phát triển và

chuyển giao công nghệ.



lxxxiii



4.2.3. Định hướng đối tác

Tiếp tục thu hút thêm các nhà đầu tư từ các nước đã có nhiều dự án đến

với Hà Nam như Nhật Bản, Hàn Quốc. Dự báo từ nay đến 2020 Nhật Bản và

Hàn Quốc sẽ tiếp tục giữ vai trò quan trọng hàng đầu trong đầu tư tại Việt

Nam nói chung và Hà Nam nói riêng. Ngoài hai đối tác chiến lược trên, tỉnh

cũng cần định hướng thu hút các dự án đầu tư đến từ EU, Hoa Kỳ,…và các

nước có nền cơng nghiệp phát triển khác.

Chú trọng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài từ các tập đoàn đa

quốc gia (TNCs). Đầu tư trực tiếp nước ngoài trên thế giới chủ yếu là vốn của

TNCs. Hoạt động của các tập đoàn này có tác động quan trọng đối với những

nước tiếp nhận vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, do đó việc thu hút các TNCs

được khuyến khích cả hai hướng:

- Trên cơ sở định hướng thu hút các doanh nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp

vừa và nhỏ cần có định hướng để thu hút những dự án lớn, công nghệ cao.

- Tạo điều kiện để một số TNCs xây dựng các trung tâm nghiên cứu,

phát triển công nghệ gắn với đào tạo nguồn nhân lực.

4.3. Các giải pháp đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoài vào các

khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Nam

4.3.1. Xây dựng quy hoạch tổng thể, cải thiện môi

trường đầu tư để thu hút nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài

Đầu tư trực tiếp nước ngoài dù đạt được đến quy mô nào cũng chỉ là bộ

phận cấu thành của toàn bộ cơ cấu đầu tư. Tự bản thân các doanh nghiệp có

vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài khơng thể tạo nên cơ cấu kinh tế hoàn chỉnh

mà chỉ là bộ phận bổ sung, chịu tác động qua lại của các bộ phận khác trong

cơ cấu kinh tế, do đó nó khơng thể vượt ra quy hoạch chung của nền kinh tế.

Do vậy, cần phải xây dựng quy hoạch tổng thể thu hút đầu tư trực tiếp nước

ngoài, tránh hiện tượng tự phát trong bố trí dự án đầu tư.



lxxxiv



Theo cơ chế thị trường, hợp tác đầu tư nước ngoài là một hành động tự

nguyện dựa trên sự thoả thuận giữa các bên. Để đạt được thoả thuận, các bên

cần tuân thủ các quy định của pháp luật, chính sách đầu tư. Vì vậy, pháp luật

và chính sách đầu tư phải đầy đủ đồng bộ, rõ ràng, cụ thể, tránh những thay

đổi đột ngột, yêu cầu các bên hợp tác thực hiện đúng và nghiêm túc mọi quy

định của nhà nước. Do đó, xuất phát từ yêu cầu và khả năng thực tế trong

từng giai đoạn, cần xây dựng quy hoạch tổng thể thu hút đầu tư trực tiếp nước

ngoài phù hợp, đáp ứng được yêu cầu của các nhà đầu tư, nhất là tập quán và

thông lệ quốc tế. Việc xây dựng quy hoạch cần phải đánh giá đúng điều kiện

thực tiễn phát triển kinh tế xã hội của tỉnh và đặt lên hàng đầu, quan trọng

nhất là công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động của các doanh nghiệp có

vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Để nâng cao chất lượng quy hoạch thu hút

đầu tư trực tiếp nước ngoài, cần chú trọng công tác dự báo cập nhật thông tin

thị trường trong nước, quốc tế và khu vực, đảm bảo thống nhất giữa quy

hoạch của tỉnh với quy hoạch chung của Nhà nước. Quy hoạch thu hút đầu tư

trực tiếp nước ngoài cần quán triệt các quan điểm sau:

- Quy hoạch thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài phải gắn liền và là bộ

phận không tách rời của chiến lược phát triển kinh tế xã hội của cả nước, cũng

như gắn liền với quy hoạch phát triển vùng, ngành trên cơ sở cân đối các

nguồn lực, lợi thế của địa phương.

- Quy hoạch thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài phải đảm bảo sự rõ

ràng, cụ thể nhưng đồng thời phải có tính mở, tính thay thế và định hướng.

Quy hoạch thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài phải bám sát vào các khả năng,

điều kiện hiện có của Hà Nam, nhận định những cơ hội, thách thức… để thực

hiện bằng được các mục tiêu quy hoạch.

- Quy hoạch thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài phải hội tụ đủ cả ba

yếu tố: tính lâu dài, tính khoa học và tính khả thi. Việc xây dựng quy hoạch cần

được tổ chức thực hiện theo quy trình sau:

lxxxv



+ Điều tra tổng thể về tình hình hoạt động và đánh giá hiệu quả của

hoạt động thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, tìm ra những mặt được, chưa

được của hoạt động này, chỉ ra mục tiêu cho từng giai đoạn cụ thể nhằm thực

hiện được định hướng đề ra của Hà Nam.

+ Nghiên cứu, khảo sát kinh nghiệm xây dựng quy hoạch của một số

địa phương trong và ngoài nước.

+ Xây dựng quy hoạch thu hút và sử dụng đầu tư trực tiếp nước ngoài

phải tính đến những ngành có lợi thế, những ngành khơng có khả năng, những

ngành cần thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài …

- Lập danh mục các dự án cần thu hút đầu tư bằng các nguồn vốn khác

nhau vốn đầu tư trong nước, vốn đầu tư nước ngoài.

- Hình thành và phát triển các khu cơng nghiệp có tầm nhìn lâu dài,phù

hợp với định hướng phát triển ngành công nghiệp của tỉnh.

- Xác định phương hướng phát triển tổng thể các khu công nghiệp.

Định hướng đầu tư cơ sở hạ tầng từng giai đoạn và có định hướng ưu tiên,

khuyến khích thu hút vốn đầu tư vào các ngành sản xuất chủ yếu trong các

khu công nghiệp, tạo các vùng động lực thúc đẩy phát triển công nghiệp trên

toàn thành phố.

4.3.2. Cải cách thủ tục hành chính.

Tiến hành rà sốt, bổ sung, hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật

đã ban hành nhằm bảo đảm thực sự hấp dẫn thơng thống, rõ ràng, nhất quán,

minh bạch, ổn định để khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài. Qua rà soát

cần đánh giá kỹ mặt được, chưa được, làm rõ những nội dung cần bổ sung,

chỉnh sửa cho phù hợp với yêu cầu và điều kiện mới, tạo sự bình đẳng thực sự

cho các nhà đầu tư thuộc các thành phần kinh tế, xoá bỏ sự phân biệt giữa đầu

tư trong nước và đầu tư nước ngoài, đồng thời phải tính tới các yếu tố phù

hợp với thông lệ quốc tế khi Việt Nam đã là thành viên của Tổ chức Thương

mại thế giới (WTO).

lxxxvi



Thứ nhất, đổi mới quan điểm về thủ tục hành chính, nghĩa là phải thay

đổi tư duy, suy nghĩ của các cán bộ, cơng chức “chuyển từ nền hành chính

cơng vụ sang nền hành chính phục vụ”. Để thực hiện tốt nhiệm vụ này UBND

tỉnh cần tổ chức các buổi Hội nghị, Hội thảo cũng như ban hành các Quyết

định, quy chế rõ rang hơn để các cơ quan, cán bộ cơng chức thực hiện. Các cơ

quan nhà nước cần có tư duy sát thực hơn về hoạt động đầu tư và kinh doanh

của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo hướng trước hết đây vừa là

lợi ích, vừa là trách nhiệm của họ. Cơ quan quản lý nhà nước phải nhận thức,

quán triệt quan điểm phục vụ trong chỉ đạo thực hiện cải cách thủ tục hành

chính là nhiệm vụ trung tâm theo hướng nhận khó khăn về phía mình để tìm

cách đơn giản hố thủ tục hành chính tới mức cao nhất, đem lại thuận lợi nhất

cho doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, mọi thủ tục hành chính cần hướng vào việc

tạo thuận lợi cho các hoạt động đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài, cũng như

hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Các thủ tục

hành chính đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cần được thiết kế

theo hướng để khi doanh nghiệp thực hiện với thời gian ngắn nhất và chi phí

thấp nhất. Từ điều này sẽ tìm ra nhiều cách sáng tạo thực hiện.

Thứ hai, Tiếp tục đơn giản hố các thủ tục hành chính trong việc thẩm

định và cấp phép. Cải tiến mạnh mẽ thủ tục cấp giấy phép đầu tư, đơn giản

hoá các thủ tục hành chính thực sự theo nguyên tắc liên thông "một cửa",

"một đầu mối". Các cơ quan chức năng phải thơng báo cơng khai các loại giấy

tờ cần có về hồ sơ đăng ký cấp giấy phép đầu tư. Cần sửa đổi, điều chỉnh một

số nội dung theo hướng giảm bớt các danh mục phải báo cáo đánh giá tác

động tới môi trường và quy định cụ thể các dự án được miễn lập các loại báo

cáo này. Với các dự án phải lập báo cáo, cơ quan thẩm định phải tiến hành

khẩn trương và bảo đảm độ chính xác cao, để vừa rút ngắn thời gian đăng ký,

vừa hạn chế được các công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường. Thu thập

các thông tin về công nghệ tiên tiến của thế giới phải trở thành việc làm

lxxxvii



thường xuyên của các cơ quan này. Cùng với cải cách, đơn giản hóa các thủ

tục hành chính, UBND tỉnh cần tiếp tục ủy quyền và giao cho Ban quản lý các

khu công nghiệp là cơ quan đầu mối tiếp nhận và giải quyết tất cả các thủ tục

hành chính của các nhà đầu tư trong khu công nghiệp.

Thứ ba, tiếp tục tạo điều kiện cho các dự án có vốn đầu tư nước ngoài

sau khi được cấp phép triển khai nhanh và sớm đi vào hoạt động sản xuất kinh

doanh. Việc triển khai thực hiện dự án bao gồm các thủ tục về cấp đất, xây

dựng cơng trình, nhập khẩu vật tư thiết bị, đánh giá tác động môi trường... cần

đơn giản theo hướng các cơ quan chức năng hướng dẫn doanh nghiệp thực

hiện đúng những quy định của luật pháp có liên quan, theo dõi q trình xây

dựng doanh nghiệp; trong trường hợp phát hiện vi phạm pháp luật thì trước

hết hướng dẫn doanh nghiệp khắc phục tình trạng đó, chỉ áp dụng việc xử

phạt đối với trường hợp nghiêm trọng hoặc ngoan cố không chịu sửa chữa theo

hướng dẫn của cơ quan nhà nước. Theo đó, UBND tỉnh cần nhanh chóng giải

quyết một số vấn đề sau:

- Giao Sở Tài nguyên và Môi trường tiến hành đo đạc, lập bản đồ địa

chính một lần và đơn giản hố mọi thủ tục khác về giao đất, cho thuê đất;

đồng thời đề nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường và các cơ quan hữu quan

soạn thảo ngay các quy định về giải phóng mặt bằng, cũng như quy định về

chuyển quyền sử dụng đất (đối với các dự án nằm ngoài khu cơng nghiệp).

- Tiến hành nhanh chóng cơng tác đền bù, giải phóng mặt bằng khu

cơng nghiệp Đồng Văn III để đẩy nhanh tiến độ đầu tư xây dựng hạ tầng để

có mặt bằng sạch giao cho doanh nghiệp.

- Về thủ tục quản lý xây dựng cơ bản theo thiết kế đã đăng ký, cần

được tổ chức chặt chẽ nhưng không được can thiệp quá sâu; cơ quan quản lý

nhà nước về xây dựng cơ bản cần thực hiện đúng chức năng, thẩm quyền của

mình, đồng thời cải tiến các thủ tục theo hướng gọn nhẹ và hiệu quả; coi trọng

công tác kiểm tra, giám sát thực hiện tiến độ đầu tư theo đúng quy định, khi

lxxxviii



cần có thể điều chỉnh ngay, tránh gây phiền hà, lãng phí, cũng như hiện tượng

"giữ chỗ".

Thứ tư, việc thực hiện hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp có

vốn đầu tư nước ngoài được bắt đầu bằng thủ tục đăng ký với cơ quan nhà

nước để nộp thuế, hoạt động xuất nhập khẩu, bảo vệ mơi trường, phòng cháy

chữa cháy. Khi cần thiết các cơ quan này có thể tiến hành kiểm tra để đánh giá

doanh nghiệp đã có đủ điều kiện, trang thiết bị phù hợp với quy định của pháp

luật; hướng dẫn và yêu cầu bổ sung để bảo đảm đủ điều kiện kinh doanh. Cần

áp dụng các phương thức tiến bộ về nghiệp vụ như doanh nghiệp tự tính và

nộp thuế, cuối kỳ sẽ đối chiếu để nộp bổ sung hoặc được thoái thuế; đăng ký

kế hoạch xuất nhập khẩu cả năm và áp dụng biện pháp trừ dần khi thực hiện.

Bên cạnh đó, tỉnh cần thường xuyên phối hợp với các cơ quan quản lý nhà

nước đối với hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước

ngoài và các địa phương khác trong cả nước, các Bộ, Ngành định kỳ gặp gỡ,

đối thoại về luật pháp chính sách, giải quyết kịp thời các kiến nghị của doanh

nghiệp, tháo gỡ các ách tắc, điều chỉnh, bổ sung các chính sách biện pháp tạo

thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh.

Thứ năm, trong thời gian tới, UBND tỉnh trên cơ sở báo cáo đánh giá của

Ban quản lý các khu cơng nghiệp cần nhanh chóng có biện pháp xử lý, hỗ trợ

cho phù hợp. Tập trung chỉ đạo điều hành xử lý nghiêm hành vi vi phạm của các

nhà đầu tư nước ngoài, cũng như giải quyết nhanh các vấn đề khó khăn phát sinh

tạo điều kiện cho các doanh nghiệp này vượt qua.

Thứ sáu, Tiếp tục chỉ đạo các cơ quan đơn vị liên quan thực hiện đúng

quy chế của UBND tỉnh đã ban hành trong công tác thanh tra, kiểm tra đối với

hoạt động của các doanh nghiệp, theo đó các cơ quan đơn vị liên quan phải

xây dựng kế hoạch thanh tra hàng năm gửi về thanh tra tỉnh để tổng hợp lên

kế hoạch thanh tra, việc thanh tra không quá 1 lần/ năm;



lxxxix



Việc ban hành quy chế về thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp có vốn đầu

tư trực tiếp nước ngoài đã được ban hành, Tuy nhiên cần quy định cụ thể chế

độ kiểm tra của các cơ quan quản lý nhà nước để chấm dứt sự kiểm tra tuỳ

tiện, tránh hình sự hố các quan hệ kinh tế của doanh nghiệp, nhưng vẫn bảo

đảm được sự giám sát của các cơ quan quản lý nhà nước và áp dụng các chế

tài đối với những vi phạm pháp luật của các doanh nghiệp. Hoạt động thanh

tra, kiểm tra doanh nghiệp là cần thiết, nhưng trước hết phải hướng vào mục

đích làm cho các doanh nghiệp tự giác tôn trọng pháp luật, tránh tình trạng lợi

dụng thanh tra, kiểm tra để gây khó khăn cho hoạt động bình thường của

doanh nghiệp. Việc xử lý các hành vi phạm pháp cần thực hiện đúng trình tự

và hình phạt đã được quy định. Cần có sự phối hợp giữa các cơ quan nhà

nước trong việc thanh tra, kiểm tra và áp dụng các phương thức tiến bộ để vừa

bảo đảm thực hiện nghiêm minh luật pháp, vừa tạo điều kiện thuận lợi cho

kinh doanh của doanh nghiệp.

4.3.3. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực địa phương

4.3.3.1. Giải pháp về tạo nguồn nhân lực

Việc phát triển nguồn nhân lực cho khu, cụm công nghiệp Hà Nam

phải đảm bảo chất lượng chuyên môn, nghiệp vụ, tay nghề, có khả năng tiếp

thu có hiệu quả các phương pháp quản lý khoa học hiện đại, các trình độ

thiết bị cơng nghệ cao, tiên tiến trên thế giới; có thể lực, tác phong và nếp

sống văn hóa cơng nghiệp phù hợp với điều kiện của địa phương. Doanh

nghiệp trong các khu công nghiệp cần cam kết và thực hiện ưu tiên tuyển

dụng lao động tại địa phương, nơi có KCN; Đặc biệt ưu tiên lao động bị mất

đất sản xuất, mất mặt bằng kinh doanh. Đồng thời với việc bảo đảm chất

lượng lao động, việc tuyển dụng để đào tạo và đào tạo lại cũng cần tập trung

vào các đối tượng này.



xc



4.3.3.2. Về đào tạo nguồn nhân lực

Tạo dựng mối quan hệ liên kết chặt chẽ giữa các doanh nghiệp trong

các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh với các trường đại học, trường dạy nghề

trên địa bàn và vùng để đào tạo nhân lực đáp ứng đúng nhu cầu của doanh

nghiệp về các ngành nghề kinh doanh. Hàng năm, tỉnh giao cho các trường

đào tạo đóng trên địa bàn một chỉ tiêu định hướng dành cho các khu công

nghiệp hoặc theo đăng ký của Ban Quản lý các khu công nghiệp với các cơ

chế ưu đãi kèm theo và chế độ tuyển dụng sau khi tốt nghiệp cụ thể.

Tạo mối liên kết giữa các cơ quan quản lý Nhà nước, doanh nghiệp và

các trường để tổ chức mở các lớp đào tạo trong trường hoặc ngay tại doanh

nghiệp.Tạo điều kiện thành lập các trung tâm đào tạo nghề và truyền nghề

ngay tại các khu, cụm công nghiệp, khu cơng nghệ cao cho doanh nghiệp có

khả năng đào tạo lại hoặc đào tạo mới nguồn nhân lực tại chỗ. Ưu tiên hỗ trợ

các chương trình kế hoạch đào tạo phù hợp với nhu cầu, sát với thực tế, đáp ứng

kịp thời yêu cầu nguồn nhân lực kỹ thuật theo đặt hàng, theo địa chỉ trong khu,

cụm công nghiệp. Việc đào tạo nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp khu

công nghiệp cần phải quan tâm đầy đủ tới cơ cấu chuyên môn: Nhân lực quản

lý, điều hành; nhân lực chuyên môn nghiệp vụ cao; công nhân kỹ thuật.

Người lao động cần có kiến thức về pháp luật, cần hiểu được quyền lợi và

trách nhiệm của mình đối với doanh nghiệp và xã hội.

4.3.3.3. Đối với doanh nghiệp hoạt động trong các khu công nghiệp

Các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh trong các khu phải có

kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực riêng để chủ động trong việc đào tạo cả về

quy mơ, trình độ và cơ cấu ngành nghề, chú ý kèm cặp nâng cao tay nghề tại

chỗ; doanh nghiệp cần phải có bộ máy chuyên trách về quản lý nhân lực.

4.3.3.4. Đối với UBND tỉnh

Cần sớm ban hành cơ chế, chính sách về thu hút lao động vào các khu

cơng nghiệp; Cơ chế, chính sách hỗ trợ giải quyết chỗ ở cho người lao động

xci



tại chỗ; cơ chế hỗ trợ công tác đào tạo nguồn nhân lực tại chỗ. Hà Nam đã đạt

được những kết quả khá ấn tượng về phát triển kinh tế và thu hút đầu tư trực

tiếp nước ngoài nhờ sự năng động của chính quyền địa phương từ Lãnh đạo

tỉnh đến các cấp các ngành, nguồn lao động rẻ, chất lượng, và có nhiều hứa

hẹn trong tương lai. Tuy nhiên, nếu nguồn nhân lực không phát triển như

mong đợi, động lực phát triển sẽ giảm dần. Tiềm năng về nguồn lao động

công nghiệp của Hà Nam đã được nhiều người biết đến, vì vậy biến tiềm năng

này thành hiện thực sẽ là giải pháp để nâng cao khả năng cạnh tranh của Hà

Nam trong thu hút các nguồn vốn đầu tư của nước ngoài nhằm phát triển

ngành công nghiệp của địa phương.

4.3.4. Cải tạo, nâng cấp cơ sở hạ tầng

- Hạ tầng kỹ thuật: Các nhà đầu tư nước ngoài khi bỏ vốn vào đầu tư

một nơi nào đó, thì một trong những điều họ quan tâm chính là cơ sở hạ tầng

nơi đó như thế nào.Trong những năm qua, việc xây dựng và phát triển cơ sợ

hạ tầng của tỉnh đạt được một số thành công bước đầu, đã từng bước mang

lại cho Hà Nam bộ mặt mới. Tuy nhiên, cơ sở hạ tầng kỹ thuật vẫn chưa đáp

ứng được nhu cầu phát triển kinh tế. Các lĩnh vực đầu tư kết cấu hạ tầng kỹ

thuật cần nguồn vốn đầu tư lớn, nhưng thời gian thu hồi vốn chậm, do đó tư

nhân thường không muốn đầu tư vào lĩnh vực này. Tỉnh cần có chính sách

ưu đãi đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng một cách đồng bộ từ giao thông,cấp

điện, cấp thốt nước, xử lý mơi trường một cách triệt để và dứt điểm để khi

các nhà máy đi vào hoạt động thì chấm dứt hoạt động xây dựng hạ tầng

trong và ngoài hàng rào.

Do nguồn ngân sách hạn hẹp, không đủ đầu tư cho việc xây dựng cơ sở

hạ tầng đồng bộ và toàn diện nên tỉnh Hà Nam phải tính tốn cân nhắc để đưa

ra giải pháp linh hoạt tạo môi trường thuận lợi cho việc thu hút FDI đầu tư

vào lĩnh vực này. Đề đáp ứng nhu cầu vốn lớn cho xây dựng kết cấu hạ tầng,

cần sử dụng hình thức BOT, khuyến khích các doanh nghiệp FDI đầu tư vốn,

xcii



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

NHỮNG GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THU HÚT FDI VÀO CÁC KCN TỈNH HÀ NAM GIAI ĐOẠN 2016 – 2020

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×