Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
- Trong việc tạo việc làm, tăng năng suất lao động, cải thiện nguồn nhân lực

- Trong việc tạo việc làm, tăng năng suất lao động, cải thiện nguồn nhân lực

Tải bản đầy đủ - 0trang

Thông qua vốn FDI sẽ tạo ra các doanh nghiệp mới hoặc làm tăng

quy mơ các đơn vị hiện có từ đó tạo ra cơng ăn việc làm cho rất nhiều lao

động, đặc biệt là các nước đang phát triển có ln có nguồn lao động dồi

dào, nhưng thiếu vốn để khai thác và sử dụng, sự xuất hiện của hàng loạt các

doanh nghiệp FDI, lao động làm việc trong khu vực FDI cũng sẽ tiếp thu

được nhiều kỹ năng chuyên môn và quản lý. Đội ngũ lao động quản lý sẽ

tiếp thu được kỹ thuật quản lý tiên tiến, hiện đại ở các nước khác nhau trên

thế giới, cách tiếp cận thị trường, khả năng đàm phán, xúc tiến thương mại,

quản trị nhân lực…còn người lao động trong các doanh nghiệp sẽ tiếp thu

được kỷ luật lao động, tác phong làm việc, cách thức sắp xếp và tổ chức

công việc để hoàn thành sản xuất đúng thời gian và số lượng…

Ngoài ra còn làm tăng thu nhập cho người lao động bởi tiền lương trả

từ các doanh nghiệp có vốn FDI thường lớn hơn các doanh nghiệp trong

nước, từ đó cải thiện được đời sống của người lao động. Hơn nữa, các dự

án FDI thường tổ chức các khóa đào tạo cho người lao động của dự án,

trong đó có nhiều người được cử đi lao động của nước ngoài từ đó sẽ hình

thành ở nước nhận đầu tư một lực lượng công nhân kỹ thuật lành nghề. Đối

với những cán bộ quản lý, khi được tham gia các dự án, do yêu cầu của

công việc sẽ trưởng thành hơn về năng lực quản lý để phù hợp với nền sản

xuất hiện đại. Như vậy, việc tham gia vào các dự án có vốn FDI sẽ tạo cho

địa phương phát triển được nguồn nhân lực. đây là nhân tố quan trọng

góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, bởi vì trình độ nguồn nhân lực có

ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động sản xuất, các vấn đề xã hội. Và phản ứng

dây chuyền tự nhiên, sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp có vốn FDI với

các doanh nghiệp trong nước trên thị trường lao động là nhân tố thúc đẩy

lực lượng lao động tự nâng cao trình độ một cách tích cực và có hiệu

quả hơn, góp phần hình thành nhanh hơn một đội ngũ lao động có trình

độ, có thói quen tuân thủ nề nếp làm việc theo tác phong cơng nghiệp

xxxiii



hiện đại. Tất cả những điều đó sẽ góp phần thúc đẩy tăng năng suất lao

động của các nhà đầu tư trong nền kinh tế đồng thời tạo ra môi trường

cạnh tranh mạnh mẽ luôn buộc các nhà đầu tư phải đổi mới để nâng cao

năng suất lao động, đứng vững trong thị trường cạnh tranh.

- Mức độ đóng góp của FDI vào KCN trong việc mở rộng quan hệ đối

ngoại, chủ động hội nhập kinh tế thế giới của địa phương. Đối với các nước

đang phát triển thì có nhu cầu về ngoại tệ lớn để hiện đại hoá nền kinh tế.

Khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài đã góp phần vào việc thúc đẩy xuất

khẩu và thực tế là chiếm tỷ trọng cao trong tổng xuất khẩu của các nước

đang phát triển, ở nước ta trong giai đoạn hiện nay tỷ lệ này chiếm hơn

50% và có xu hướng tăng trong thời gian sắp tới khi chúng ta hội nhập sâu

vào kinh tế thế giới. Đặc biệt, thông qua mạng lưới tiêu thụ của các tập

đoàn xuyên quốc gia hay các công ty đa quốc gia nhiều sản phẩm sản

xuất tại nước ta đã tiếp cận được với thị trường của thế giới. Thời gian qua,

trong lĩnh vực khách sạn và du lịch nhờ có các nhà đầu tư nước ngoài mà

nhiều khách sạn cao cấp đạt tiêu chuẩn quốc tế được xây dựng, các hoạt

động về du lịch, sinh thái, nghỉ dưỡng…đã đáp ứng nhu cầu khách du lịch

quốc tế làm gia tăng nhanh chóng lượng khách du lịch vào nước ta. Bên

cạnh đó, các nhà đầu tư nước ngoài còn góp phần đưa nền kinh tế nước ta

từng bước hội nhập với kinh tế thế giới, đặc biệt trong lĩnh vực tài chính,

ngân hàng với sự có mặt của các tổ chức tài chính quốc tế và các chi nhánh

ngân hàng lớn trên thế giới như: HSBC, ANZ…đã góp phần thúc đẩy các hoạt

động thương mại quốc tế, giúp cho các giao dịch quốc tế được nhanh chóng

và thuận tiện hơn rất nhiều.

* Tiêu chí đánh giá tác động về mơi trường, sinh thái: Tiêu chí này

đánh giá, việc thu hút FDI trong các KCN có những tác động tích cực và tiêu

cực như thế nào đến môi trường sinh thái của KCN nói riêng, mơi trường địa

phương và quốc gia nói chung. Hiện nay, nhìn chung các doanh nghiệp có

xxxiv



vốn đầu tư nước ngoài tuân thủ các tiêu chuẩn môi trường Việt Nam và có kết

quả tốt hơn so với số đơng các doanh nghiệp trong nước, vì họ có khả năng tài

chính và khả năng tiếp cận với các kỹ năng quản lý mơi trường. Doanh nghiệp

có vốn đầu tư nước ngoài có thể trở thành những “mơ hình mẫu” giới thiệu

những kiến thức quản lý môi trường hiện đại vào Việt Nam cùng tinh thần sản

xuất kinh doanh thân thiện với môi trường, đồng thời tạo áp lực để các doanh

nghiệp trong nước cải thiện kết quả môi trường của mình, tạo điều kiện làm

cho nguồn lực trong nước như lao động, đất đai, tài nguyên…được khai thác

và sử dụng có hiệu quả hơn. Bên cạnh đó cũng cần quan tâm đánh giá cả

những tác động tiêu cực do thu hút FDI đối với mơi trường. Đó là việc mơi

trường đất, nước, khơng khí ngày càng ơ nhiễm do nước thải, chất thải, khí

thải cơng nghiệp; việc mở rộng các KCN cũng làm thu hẹp diện tích rừng,

gây mất cân bằng sinh thái…

1.3.



Kinh nghiệm thu hút FDI vào các KCN

1.3.1. Kinh nghiệm quốc tế



1.3.1.1. Kinh nghiệm thu hút FDI vào KCN của Thái Lan

Thái Lan nằm trong khu vực Đông Nam Á và là nước thành viên

APEC. Thái Lan có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam về văn hóa, lịch sử

và địa lý. Trong những năm vừa qua Thái Lan có nhiều bước phát triển mạnh

về kinh tế. Mặc dù gần đây, do gặp phải nhiều thiên tai như sóng thần, mất ổn

định về chính trị như đảo chính…toàn cảnh nền kinh tế vĩ mơ của Thái Lan

vẫn có sự tăng trưởng. 34 UNCTAD đã nghiên cứu, khảo sát dựa vào 325 tập

đoàn đa quốc gia lớn nhất vào tháng 5/2005; tổng thể toàn thế giới Thái Lan

đứng thứ 9. UNCTAD đánh giá khu vực ASEAN có số lượng FDI thu hút lớn

nhất thế giới. Đặc biệt là phải kể đến Thái Lan thành công trong công tác thu

hút FDI vào một số KCN, điển hình như KCN Rojana. KCN Rojana - một

trong những KCN tốt nhất ở Thái Lan. Là sự hợp tác giữa Nhật Bản (Tập

đoàn Sumikin Bussan)Thái Lan (Nhóm Vinich Butr‟s) từ năm 1988. KCN

xxxv



này đã có nhiều ưu đãi cho các doanh nghiệp đầu tư vào KCN như những hấp

dẫn về giá cả. Ngoài những yếu tố trên phải kể đến những chính sách về xúc

tiến đầu tư của Thái Lan. Các công ty lựa chọn Châu Á trong đó có Thái Lan

vì họ có: đủ thơng tin về lực lượng lao động, nguồn lao động dồi dào, có tính

chun mơn hóa cao hơn cả Trung Quốc, Philippin và Indonexia, cần cù,

nhanh chóng tiếp thu được kỹ năng mới. Cơ sở hạ tầng tương đối phát triển,

đặc biệt ở xung quanh các đô thị lớn, có những điều kiện vui chơi giải trí

thích hợp cho các nhà đầu tư (như sân gôn, câu lạc 35 bộ đêm …) và những

kích thích được đưa ra tại khu vực này, trong khi họ lại có ít thơng tin như thế

về khu vực khác. Đặc biệt, chính sách kinh tế ít thay đổi lớn. Trung ương thực

hiện chính sách kinh tế triệt để, Trung ương ít can thiệp vào các hoạt động

kinh tế tư nhân, tương đối ít tệ quan liêu cản trở các nhà đầu tư tiềm tàng như

ở nơi khác. Bên cạnh đó nền kinh tế phát triển nhanh trong nhiều năm, đồng

tiền ổn định và có khả năng chuyển đổi được, lãi suất do đầu tư mang lại khá

cao và có thể chấp nhận được đối với các nhà đầu tư. Để triển khai và thu hút

đầu tư, Thái Lan có nhiều biện pháp hữu hiệu. Các chính sách của Trung ương

được thể chế hóa trong Luật khuyến khích đầu tư (Investment Promotion Act)

năm 1962 và đạt được bổ sung năm 1977 và năm 1991. Tuy nhiên, mọi hoạt

động đầu tư đều do Ủy ban đầu tư quản lý (Board of Investment). Để thực thi

các khuyến khích trên và thu hút đầu tư, Thái Lan đã dùng các biện pháp tài

chính và tiền tệ là chủ yếu nhất quán. Thái Lan đã tạo ra mơi trường tài chính

hấp dẫn đặc biệt có khả năng hỗ trợ mạnh mẽ các luồng đầu tư từ bên ngoài.

Thái Lan cho rằng tiền tệ và tài chính là một công cụ hữu hiệu nhất. Qua

nghiên cứu về thu hút FDI vào KCN thành công nêu trên cho thấy. Để có

được những kết quả đó là do:

- Chính sách nhất quán, cởi mở, kinh tế và tài chính để tạo điều kiện

thuận lợi và sự yên tâm cho các nhà đầu tư;

- Lựa chọn vị trí xây dựng thuận lợi, gần các đầu mối giao thơng;

xxxvi



- Có chính sách ưu đãi, khuyến khích các nhà đầu tư đặc biệt về tài

chính, thủ tục đơn giản, gọn nhẹ, cơ sở hạ tầng tốt, lao động dồi dào, tiền

lương hợp lý, thời điểm xây dựng thích hợp;

- Mơi trường cư trú, sinh sống dễ chịu. Có chiến lược thu hút vốn đầu tư

cụ thể, đặc biệt tăng cường hợp tác quốc tế theo hướng “mở cửa” để thu hút vốn

FDI.

- Tìm hiểu sự phong tục tập quán của các đối tác để có thể kêu gọi các

nhà đầu tư FDI đầu tư vào các KCN cho phù hợp với tình hình phát triển kinh

tế xã hội của từng vùng miền của cả nước.

1.3.1.2. Kinh nghiệm thu hút FDI vào KCN của Ấn Độ

Trường hợp không thành công của Ấn Độ là KCN Kandia Free. Khu

này được thành lập từ năm 1966 mãi đến năm 1972 chỉ mới thu hút được 17

xí nghiệp đầu tư đưa vào hoạt động, trong đó có 1 dự án FDI. Từ năm 1972 1975 tăng thêm 10 xí nghiệp trong khi đó thì từ năm 1972 - 1975 có 8 xí

nghiệp phải đóng cửa. Tổng kim ngạch đầu tư chỉ 9,11 triệu USD. Như vậy có

thể nói là việc thu hút đầu tư nói chung và đầu tư FDI nói riêng vào KCN này

là thất bại. Lý do của việc thu hút khơng thành cơng đó là: Thay đổi địa điểm,

kế hoạch nghèo nàn. Bao cấp quá nhiều. Đòi hỏi đối với nhà đầu tư quá cứng

nhắc. Thủ tục rườm rà, không dành ưu đãi đầu tư cho các nhà đầu tư FDI, hạ

tầng cơ sở, tiện nghi công cộng quá thấp, thiếu tuyên truyền cổ động. Thủ tục

hải quan nặng nề, một phần do tình hình chính trị khơng ổn định. Cụ thể là

trong suốt thời gian phát triển thu hút đầu tư, đặc biệt là thu hút FDI vào các

KCN, Trung ương và các cơ quan liên quan không chú ý tới việc tuyên truyền

vận động đầu tư FDI mà chỉ trông chờ vào những quan hệ hết sức hạn chế của

Ban Quản lý KCN và KCX. Trong những năm 70 - 80, công nghệ thông tin

của Ấn Độ mới chỉ phát triển ở mức độ nhất định chứ chưa có được thành tựu

như ngày nay nên việc sử dụng công nghệ thông tin trong cơng tác tun

truyền, vận động đầu tư còn rất hạn chế. Do chính sách và cơ chế quản lý của

xxxvii



Ấn Độ khi đó còn mang nặng tính bảo thủ, quan liêu nên phần nào làm cho

môi trường đầu tư ở nước này vốn đã yếu kém càng trở nên trầm trọng. Một

yếu tố cơ bản trong công tác tăng cường quan hệ quốc tế chưa được mở rộng

theo hình thức “đa phương hóa, đa dạng hóa” mà rất cứng nhắc trong một số

nước phát triển. Trên thực tế, vào thời điểm đó những nước này cũng còn rất

khó khăn nên Ấn Độ khơng thể tìm kiếm được cơ hội đầu tư từ họ. Tóm lại,

ngun nhân chính dẫn đến sự thất bại trong việc thu hút đầu tư và đặc biệt là

FDI vào KCN là: Các biện pháp khuyến khích thiếu cạnh tranh. Sự kiểm sốt

và hạn chế của chủ sở hữu. Chính sách đầu tư kém hấp dẫn. Cơng tác xúc tiến

đầu tư còn kém. Trình tự cho phép đầu tư cồng kềnh. Thủ tục hải quan nặng

nề.

1.3.2. Kinh nghiệm của một số địa phương trong nước

1.3.2.1. Kinh nghiệm của tỉnh Bắc Ninh

Bắc Ninh là tỉnh có diện tích nhỏ nhất nước, với diện tích hơn 800

km2 , mật độ dân số và mật độ các điểm dân cư rất cao, giáp thủ đơ Hà Nội và

có hệ thống đường giao thông Quốc gia liên hệ với các trung tâm kinh tế vùng

đồng bằng Bắc bộ và cả nước thuận lợi. Tỉnh Bắc Ninh chủ trương xây dựng

các KCN khơng những có chức năng hoàn hảo, tạo mơi trường sạch nhất, đáp

ứng nhu cầu của các nhà đầu tư tốt nhất, mà còn phải tạo ra một khơng gian

sống lân cận để đảm bảo cho KCN phát triển an toàn, bởi vì những vấn đề

ngoài “hàng rào KCN” như: nhà ở, dịch vụ, tổ chức đời sống xã hội, an ninh

trật tự.. đang có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của các KCN. Quan điểm đó

được thể hiện trong các Nghị quyết 04/NQ/TU ngày 25/05/1998, Nghị quyết

02-NQ/TU ngày 04/05/2001 của Ban chấp hành Đảng bộ Tỉnh; Nghị quyết

12-NQ/TU ngày 03/02/2000 của Ban thường vụ Tỉnh ủy Bắc Ninh. Trong

việc xây dựng và phát triển các KCN, Bắc Ninh ln bình tĩnh hướng đến bền

vững; vừa tích lũy nhân tố tạo hình ảnh và diện mạo KCN hiện đại, vừa tạo

nền móng vững chắc để phát triển kinh tế đi đơi với chăm lo thực hiện chính

xxxviii



sách xã hội, đồng thời thiết lập nhân tố đột phá đẩy nhanh tăng trưởng và phát

triển, góp phần quan trọng vào thành tựu phát triển kinh tế - xã hội. Trong

năm 2002, Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập KCN Quế Võ, đây là

quần thể KCN-đô thị-chung cư- khu vực vui chơi giải trí với diện tích đất gần

700 ha trong đó diện tích đất cho KCN là 311,6 ha; trên 200 ha dành cho xây

dựng khu đô thị, khu dân cư, khu thương mại, chung cư và nhà ở cho người

lao động có thu nhập thấp; trên 100 ha dành cho khu vực công viên, hồ nước

và khu dịch vụ vui 38 chơi, giải trí. Với mơ hình phát triển KCN này đáp ứng

được yêu cầu phát triển KCN gắn kết chặt chẽ với khu dân cư và khu vực dịch

vụ phục vụ KCN, nhằm đáp ứng các điều kiện sống, làm việc tốt hơn cho

người lao động.

Từ những kết quả thu hút đầu tư của tỉnh Bắc Ninh, có thể nhận thấy

rằng địa phương đã phát huy tốt được các yếu tố tác động đến thu hút đầu tư

như: vị trí địa lý, mơi trường pháp lý, định hướng phát triển, xây dựng cơ sở

hạ tầng KCN gắn với an sinh xã hội.

1.3.2.2. Kinh nghiệm của tỉnh Bình Dương

Bình Dương là một tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía nam,

cạnh thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm văn hóa khoa học kỹ thuật lớn

và tỉnh Đồng Nai có truyền thống lâu đời về phát triển cơng nghiệp. Chính

nhờ điều kiện vị trí thuận lợi đó mà Bình Dương thừa hưởng những lợi thế

khu vực để phát triển cơng nghiệp trong đó hoạt động thu hút FDI là vơ cùng

quan trọng. Tỉnh Bình Dương trong quy hoạch phát triển kinh tế xã hội đã xác

định hình thành các KCN và Cụm cơng nghiệp nhằm tăng cường thu hút FDI.

Bên cạnh đó, Bình Dương đã tiến hành cụ thể hóa các chính sách, quy định,

luật pháp của nhà nước phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của địa phương

nhằm tạo điều kiện cho các chủ đầu tư nước ngoài khi đầu tư vào địa bàn tỉnh.

Đặc biệt, các cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài tại tỉnh Bình

Dương đã cải cách và tinh giảm các thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian cấp

xxxix



giấy phép nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài. Trong

đó, tỉnh đã áp dụng cơ chế cấp giấy phép cho chủ đầu tư nước ngoài chỉ một

ngày kể từ khi nhận được hồ sơ hợp lệ. Với những biện pháp phù hợp trong

công tác quy hoạch phát triển kinh tế xã hội nhằm khai thác lợi thế về địa lý,

tính đến tháng 9 năm 2010 tỉnh đã cấp phép cho 1011 dự án có vốn đầu tư

trực tiếp nước ngoài đầu tư vào các KCN với tổng số vốn đầu tư đăng ký lên

đến khoảng 6,861 tỷ USD. Đầu tư FDI vào các KCN tỉnh Bình Dương chủ

yếu đầu tư vào các ngành công nghiệp với tỷ trọng 97% tổng số dự án và 88%

tổng số vốn đầu tư, số còn lại là các dự án đầu tư vào kinh doanh phát triển hạ

tầng KCN.

Từ những thành công trong công tác thu hút đầu tư của tỉnh Bình

Dương, có thể nhận thấy rằng địa phương đã phát huy tốt được các yếu tố tác

động đến thu hút đầu tư như: quy hoạch các khu khu công nghiệp gắn với lợi

thế về vị trí địa lý nhằm thuận lợi trong kết nối giao thơng với Thành phố Hồ

Chí Minh, sân bay, cảng biển và các tỉnh; định hướng, chỉ đạo các cơ quan

đơn vị cải cách thủ tục hành chính,…

1.3.3. Kinh nghiệm rút ra đối với Hà Nam

Qua việc tìm hiểu các KCN trên địa bàn một số tỉnh, có thể rút ra một

số bài học kinh nghiệm để đẩy mạnh thu hút FDI vào KCN và phát huy hiệu

quả từ quá trình phát triển các KCN sau đây:

- Sự thống nhất nhận thức và nhất quán hành động của toàn thể Đảng

bộ và nhân dân trong tỉnh trong quá trình quy hoạch, xây dựng KCN là vơ

cùng quan trọng. Q trình quy hoạch phát triển KCN, đặc biệt là việc lựa

chọn vị trí xây dựng, quy mơ xây dựng, chọn ngành công nghiệp ưu tiên thu

hút đầu tư vào KCN phải phù hợp quy hoạch phát triển KT-XH chung, với

tiềm năng và lợi thế của địa phương, với điều kiện cơ sở hạ tầng kinh tế - xã

hội của khu vực, và đảm bảo an ninh quốc phòng. Việc quy hoạch phát triển

KCN phải đảm bảo đồng bộ giữa phát triển công nghiệp với cơ sở hạ tầng

xl



ngoài hàng rào KCN và q trình đơ thị hóa. Phát triển các KCN cần đồng

thời chú trọng đầu tư đảm bảo sự đồng bộ về hạ tầng ngoài hàng rào KCN:

giao thông, điện, nước, hạ tầng xã hội phục vụ đời sống công nhân KCN, khu

dân cư dịch vụ phục vụ cho KCN.

- Về chiến lược phát triển và mục tiêu thu hút FDI, đi từ thu hút vào

những ngành nghề sử dụng nhiều lao động sang những ngành có giá trị kinh

tế cao và lĩnh vực dịch vụ.

- Ổn định chính sách vĩ mô tạo sự yên tâm cho các nhà đầu tư trong

hoạt động đầu tư, nhất là chính sách khuyến khích đầu tư cho lĩnh vực đầu tư

xây dựng hạ tầng và hoạt động đầu tư vào các KCN. Cơ chế chính sách về thu

hút FDI ngày càng hoàn chỉnh theo hướng thơng thống hơn và phù hợp với

thơng lệ quốc tế. Tích cực cải tiến thủ tục hành chính, tạo mọi điều kiện thuận

lợi cho các NĐTNN tham gia đầu tư vào địa phương.

- Thu hút nhiều dự án đầu tư nói chung và dự án FDI nói riêng vào

KCN, đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH là mục tiêu cuối cùng của phát triển

các KCN, và cũng là mục tiêu của chủ đầu tư xây dựng hạ tầng KCN. Song

thu hút đầu tư phát triển sản xuất phải gắn với bảo đảm môi trường và phát

triển bền vững, gắn với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.



xli



CHƯƠNG 2

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Để xây dựng các nội dung của Luận văn, tác giả đã sử dụng nhiều

phương pháp nghiên cứu khác nhau để giúp người đọc thấy hệ thống được

những kiến thức chung cả về cơ sở lý luận và thực tiễn của hoạt động thu hút

FDI vào các KCN; trình bày rõ những hiện trạng của việc thu hút FDI vào các

KCN tỉnh Hà Nam cũng như những phân tích đánh giá tình hình cụ thể, từ đó

đề xuất các giải pháp để tăng cường thu hút FDI vào các KCN tỉnh Hà Nam

trong thời gian tới. Các phương pháp cụ thể như sau:

2.1. Phương pháp luận

Sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch

sử của chủ nghĩa Mác - Lênin: Nhằm nghiên cứu vấn đề trong trạng thái vận

động biến đổi không ngừng và trong mối quan hệ tổng thể tác động qua lại

giữa hiện tượng nghiên cứu với các hiện tượng khác, đồng thời các hiện tượng

nghiên cứu ln được xem xét trong q trình từ hình thành đến phát triển

qua các giai đoạn lịch sử khác nhau. Bên cạnh đó, nghiên cứu trên tư tưởng

Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của

Nhà nước trong điều kiện xây dựng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ

nghĩa để làm sáng tỏ nội dung nghiên cứu của luận văn.

2.2. Phương pháp thu thập dữ liệu, thông tin

Chủ yếu sử dụng phương pháp điều tra thứ cấp (thu thập các tài liệu, số

liệu đã có tại các cơ quan trong tỉnh như: Ban Quản lý các KCN, Phòng tổng

hợp UBND tỉnh Hà Nam, Sở Kế hoạch - Đầu tư, ...).

Từ trước đến nay thu hút FDI vào các KCN là đối tượng nghiên cứu

của đông đảo các nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau. Các tài liệu,

số liệu về vấn đề này được lưu trữ và cập nhật ở nhiều cơ quan, tổ chức. Việc

tổng quan tài liệu thu thập được cho phép tiếp cận với những kết quả nghiên

xlii



cứu đã có, cập nhật những vấn đề mới ở trong và ngoài nước. Tài liệu thống

kê thứ cấp, thu thập được từ Cục Thống kê, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Ban

quản lý các KCN tỉnh, Uỷ ban nhân dân (UBND) tỉnh Hà Nam ... Cụ thể là

các số liệu về tình hình phát triển các KCN, sau đó tiến hành phân loại, xử lý,

tổng hợp theo các tiêu chí trong phần nội dung đề cương đã xây dựng và kết

luận. Từ đó, giúp tác giả có cái nhìn tổng qt theo các tiêu chí cơ bản về q

trình quản lý việc thu hút FDI vào các KCN tại tỉnh Hà Nam. Ngoài ra, thông

qua các đề tài, luận văn thạc sỹ; cơng trình; bài viết; tạp chí; internet; các

trang Website của các tác giả…để lấy thông tin, số liệu liên quan đến chính

sách thu hút FDI.

2.3. Phương pháp phân tích, xử lý dữ liệu, thơng tin

Tổng hợp, phân tích, thông tin, được được sử dụng để tổng hợp và phân

tích các quy định của pháp luật về chính sách thu hút FDI vào KCN cũng như

các thông tin về thực tiễn áp dụng trong xây dựng chính sách thu hút FDI vào

các KCN tỉnh Hà Nam.

Trên cơ sở các tài liệu, số liệu thu thập được, tiến hành phân loại, đánh

giá, tổng hợp, tính tốn và lựa chọn các số liệu cần thiết để đưa vào nghiên

cứu; sử dụng phần mềm máy tính để tổng hợp, phân tích và xử lý số liệu, tài

liệu. Các số liệu mà tác giả thu thập trong quá trình khảo sát thực tiễn áp dụng

pháp luật về xây dựng các chính sách thu hút FDI, qua đó có được các số liệu,

thơng tin tin cậy trình bày trong luận văn.

2.4. Phương pháp so sánh

Là phương pháp được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu khoa học.

Trong Luận văn này tác giả đã sử dụng nhiều lần phương pháp so sánh: So

sánh chỉ tiêu về vốn FDI theo từng năm. So sánh chỉ tiêu về vốn FDI theo

nhóm ngành. So sánh chỉ tiêu về vốn FDI theo quốc gia, vùng lãnh thổ…; từ

đó thấy được sự thay đổi các chỉ tiêu theo thời gian các năm, sự chênh lệch về

cơ cấu giữa các nhóm ngành hay mức độ đầu tư khác nhau giữa các quốc gia…

xliii



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

- Trong việc tạo việc làm, tăng năng suất lao động, cải thiện nguồn nhân lực

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×