Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO CÁC KHU CÔNG NGHIỆP

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO CÁC KHU CÔNG NGHIỆP

Tải bản đầy đủ - 0trang

phố Hồ Chí Minh, qua đó đề xuất những giải pháp nhằm thu hút đầu tư phát

triển khu công nghệ cao của Việt Nam nói chung và của thành phố Hồ Chí

Minh nói riêng. Tuy nhiên, các luận án mới chỉ dừng lại nghiên cứu ở thành

phố Hồ Chí Minh.

(6) Bài trích: “Phát triển các KCN, KCX ở các tỉnh phía Bắc - Những

vấn đề lý luận và thực tiễn” (Kỷ yếu hội thảo khoa học, Thanh Hoá, tháng

6/2004). (7) Bài trích: “15 năm xây dựng và phát triển các KCN, KCX ở Việt

Nam (1991-2006)” (Kỷ yếu hội nghị - hội thảo quốc gia, Long An, tháng

7/2006). Các tác giả đã hệ thống hóa những lý luận về khu cơng nghiệp, khu

chế xuất, tình hình phát triển của các khu cơng nghiệp, khu chế xuất của Việt

Nam nói chung, qua đó đánh giá những thành tựu đã đạt được và những hạn

chế trong q trình phát triển các khu cơng nghiệp, khu chế xuất nói riêng. (8)

Báo cáo: “Báo cáo tổng kết công tác quản lý các khu công nghiệp tỉnh Hà

Nam năm 2014 phương hướng nhiệm vụ năm 2015”; “báo cáo sơ kết công tác

quản lý các KCN tỉnh Hà Nam 6 tháng đầu năm 2015” – Ban quản lý các khu

cơng nghiệp tỉnh Hà Nam. Ngoài ra, còn một số bài báo phân tích trên tạp chí

chuyên ngành khác.

Các đề tài và những cơng trình nghiên cứu trên tuy đã đề cập đến vấn đề

chính sách thu hút FDI vào KCN ở nhiều khía cạnh khác nhau, một số nghiên

cứu đã có giá trị nhất định trong việc xây dựng cơ chế, chính sách thu hút FDI

vào KCN nhưng do mục đích khác nhau nên các cơng trình mới chủ yếu nghiên

cứu dưới góc độ khoa học hoặc nghiên cứu chính sách thu hút FDI ở một địa

phương khác. Việc nghiên cứu để xây dựng mơ hình KCN khác nhau với

những đặc điểm về tự nhiên, kinh tế, xã hội khác nhau, ở từng giai đoạn khác

nhau của mỗi địa phương cũng khác nhau. Hiện nay chưa có cơng trình nghiên

cứu về chính sách thu hút FDI vào KCN tại địa phương Hà Nam với cách tiếp

cận từ nghiên cứu lý luận đến thực tiễn áp dụng cho tỉnh hiện nay.

Mặc dù vậy, các cơng trình khoa học đã được cơng bố là những tài liệu

ix



tham khảo có giá trị cho việc nghiên cứu và viết luận văn này. Trên cơ sở đó,

luận văn tiếp tục nghiên cứu theo hướng chuyên sâu, cụ thể trên phạm vi một

tỉnh nhằm chỉ rõ những ưu điểm, chỉ ra những mặt hạn chế và nguyên nhân của

việc thực thi chính thu hút FDI vào KCN của tỉnh, từ đó đề xuất giải pháp nhằm

hoàn thiện chính sách thu hút FDI vào KCN của địa phương.

Do vậy tác giả đã chọn đề tài “thu hút FDI vào các KCN của tỉnh Hà

Nam” làm luận văn tốt nghiệp, đi sâu nghiên cứu hệ thống các vấn đề lý luận về

thu hút FDI trong các KCN, trên cơ sở đó, kết hợp với thực tiễn tình hình địa

phương để đề ra một số giải pháp nhằm tăng cường thu hút FDI vào KCN tỉnh

Hà Nam, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế chung của tỉnh.

Nghiên cứu đề tài này, luận văn có những đóng góp mới về mặt học

thuật, lý luận và thực tiễn như sau:

(1) Trên cơ sở kế thừa các nghiên cứu trước đây về thu hút FDI, kết hợp

với khảo sát thực tiễn, luận văn đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận về thu

hút FDI vào các khu công nghiệp và mối quan hệ giữa phát triển khu công

nghiệp với thu hút FDI.

(2) Luận văn cũng đã luận giải các nội dung, nhân tố ảnh hưởng và hệ

thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của hoạt động thu hút FDI vào các khu

công nghiệp theo cách tiếp cận vĩ mơ dưới góc độ của nhà quản lý.

(3) Luận văn nghiên cứu thực trạng thu hút, tình hình thực hiện các chỉ tiêu

thu hút và các nhân tố chính ảnh hưởng đến hoạt đơng thu hút FDI vào KCN của

tỉnh Hà Nam. Thông qua việc đánh giá thực trạng thu hút vốn FDI vào các KCN

của tỉnh Hà Nam, luận văn đã tìm ra những thành cơng và các tác động của nó

đến việc phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Hà Nam.

(4) Bên cạnh đó Luận văn cũng chỉ ra những tồn tại hạn chế trong thu hút

FDI vào KCN của tỉnh, trong đó có cả những hạn chế về môi trường đầu tư cũng

như hạn chế trong kết quả thu hút đầu tư (sự mất cân đối trong thu hút vốn FDI

vào KCN, hiệu quả sử dụng vốn FDI thấp, quy mô vốn nhỏ, tác động tiêu cực

x



đến môi trường sinh thái…); đồng thời cũng phân tích rõ nguyên nhân dẫn đến

những hạn chế, trong đó nhấn mạnh đến cơ sở hạ tầng kỹ thuất, quản lý nhà

nước, hoạt động xúc tiến đầu tư…

(5) Kết quả nghiên cứu cũng góp phần khẳng định việc tăng cường thu

hút FDI vào KCN của Hà Nam cần gắn quy mô với chất lượng và hiệu quả sử

dụng, chứ không thu hút bằng mọi giá. Trên cơ sở dự báo về bối cảnh thu hút

FDI vào KCN của tỉnh trong thời gian tới và cơ sở phân tích ở chương 3,

Luận văn đưa ra một số định hướng và các giải pháp để tăng cường thu hút

FDI vào các KCN tỉnh Hà Nam giai đoạn 2016- 2020.

1.2. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC THU HÚT FDI VÀO KCN

1.2.1. Tổng quan về FDI

1.2.1.1. Khái niệm, đặc điểm, hình thức FDI

Vốn đầu tư là yếu tố vật chất quyết định tốc độ tăng trưởng kinh tế của

một quốc gia. Nguồn vốn trong nước không thể đảm bảo cho nhu cầu về vốn

trong quá trình phát triển kinh tế đặc biệt là đối với các quốc gia đang phát

triển. Chính vì vậy, mỗi quốc gia đều phải bổ sung nguồn vồn cho mình bằng

cách thu hút vốn từ bên ngoài. FDI là một trong những kênh thu hút nguồn

vốn đầu tư nước ngoài. Hiện nay, có nhiều quan niệm về FDI:

Theo Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), đầu tư trực tiếp nước

ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được

một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài

sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính

khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản

lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu

tư thường hay đựoc gọi là "cơng ty mẹ" và các tài sản được gọi là "công ty

con" hay "chi nhánh công ty.

Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) lại định nghĩa đầu tư trực tiếp nước ngoài

(Foreign Direct Invesment) là vốn đầu tư thực hiện để thu được lợi ích lâu dài

trong một doanh nghiệp hoạt động ở một nền kinh tế khác với nền kinh tế của

xi



nhà đầu tư. Mục đích của nhà đầu tư là dành được tiếng nói có hiệu quả trong

việc quản lý doanh nghiệp đó”.

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 3 Luật Đầu tư 2005 của Việt Nam thì

đầu tư nước ngoài là việc nhà ĐTNN đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc

bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo qui định của Luật

này”. Khái niệm này nhấn mạnh chủ đầu tư là người nước ngoài nhằm xác

định được tư bản được chuyển dịch trong FDI nhất thiết phải vượt ra khỏi

phạm vi một quốc gia.

Tóm lại, tuy còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau, nhưng nhìn chung,

các định nghĩa trên đã nhận dạng FDI trên các khía cạnh như sau:

- Đây là loại hình đầu tư dài hạn bởi hoạt động đầu tư này gắn liền với

việc xây dựng các cơ sở, chi nhánh sản xuất, kinh doanh tại nước tiếp nhận

đầu tư. Vốn FDI có bản chất là dòng chu chuyển vốn có thời hạn tương đối

dài. Vốn FDI đi liền với cơng trình, dự án đầu tư ở một địa điểm cụ thể nên nó

có tính ổn định tương đối cao, dễ theo dõi, dễ kiểm sốt, khơng biến động quá

bất thường như các dòng tiền ngắn hạn hoặc các khoản đầu tư gián tiếp.

- Nhà đầu tư nước ngoài là đồng thời là người trực tiếp quản lý, điều

hành việc sử dụng vốn, chịu trách nhiệm và hưởng lợi ích từ kết quả sản xuất,

kinh doanh căn cứ vào mức độ góp vốn. Nhà đầu tư nước ngoài cần phải góp

một số vốn tối thiểu vào vốn của dự án FDI để được tham gia vào ban điều

hành, tuỳ theo Luật Đầu tư của mỗi nước quy định. Luật Đầu tư Việt Nam

năm 2005, số vốn tối thiểu của nước ngoài phải chiếm ít nhất 30% tổng số

vốn pháp định của dự án, trừ những trường hợp do Chính phủ quy định.

Có nhiều cách phân loại FDI khác nhau tùy vào từng giác độ tiếp cận.

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, các hình thức FDI bao gồm :

- Hợp đồng hợp tác kinh doanh (sau đây gọi tắt là hợp đồng BCC) là

hình thức đầu tư được ký giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh phân

chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập pháp nhân.

xii



- Doanh nghiệp liên doanh : là doanh nghiệp do hai bên hoặc nhiều bên

hợp tác thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh hoặc hiệp định

ký giữa Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ

nước ngoài hoặc là doanh nghiệp do doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

hợp tác với doanh nghiệp Việt Nam hoặc do doanh nghiệp liên doanh hợp tác

với nhà đầu tư nước ngoài trên cơ sở hợp đồng liên doanh.

- Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài : là doanh nghiệp do nhà

đầu tư nước ngoài đầu tư 100% vốn tại Việt Nam.

- Các hình thức BOT, BTO, BT:

Hình thức BOT: Hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao là hình

thức đầu tư được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để

xây dựng, kinh doanh cơng trình kết cấu hạ tầng trong một thời hạn nhất định;

hết thời hạn, nhà đầu tư chuyển giao khơng bồi hoàn cơng trình đó cho Nhà

nước Việt Nam.

Hình thức BTO: Hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh là hình

thức đầu tư được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để

xây dựng cơng trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư

chuyển giao công trình đó cho Nhà nước Việt Nam; Chính phủ dành cho nhà

đầu tư quyền kinh doanh cơng trình đó trong một thời hạn nhất định để thu

hồi vốn đầu tư và lợi nhuận.

Hình thức BT: Hợp đồng xây dựng - chuyển giao là hình thức đầu tư

được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng

cơng trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư chuyển giao

cơng trình đó cho Nhà nước Việt Nam; Chính phủ tạo điều kiện cho nhà đầu

tư thực hiện dự án khác để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hoặc thanh toán

cho nhà đầu tư theo thoả thuận trong hợp đồng BT.

1.2.1.2. Thu hút FDI



xiii



Thu hút FDI là hoạt động nhằm thu hút nguồn vốn đầu tư từ bên ngoài

vào một quốc gia. Hoạt động FDI được thực hiện thông qua các dự án FDI mà

người ra quyết định đầu tư chính là các nhà đầu tư nước ngoài. Như vậy, bản

chất của hoạt động thu hút FDI là hoạt động thu hút các nhà đầu tư nước

ngoài đầu tư vào quốc gia mình.

1.2.2. Tổng quan về KCN

1.2.2.1. Khái niệm KCN

Có nhiều quan niệm khác nhau về KCN. Các quan niệm này được xây

dựng để thực hiện các mục tiêu nhất định như phát triển các KCN, quản lý

nhà nước về KCN hoặc khai thác tác động của KCN đến việc chuyển dịch cơ

cấu kinh tế.

Theo Luật Đầu tư 2005 định nghĩa : " Khu công nghiệp là khu chuyên

sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất cơng

nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo quy định của

Chính phủ".

Theo quy chế KCN, KCX, KCNC ban hành kèm theo Nghị định

36/CP ngày 24/4/1997 của Chính phủ, khái niệm KCN được hiểu là :"Khu

cơng nghiệp là khu tập trung các doanh nghiệp KCN chuyên sản xuất hàng

công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất cơng nghiệp, có ranh

giới địa lý xác định, khơng có dân cư sinh sống ; do Chính phủ hoặc Thủ

tướng Chính phủ quyết định thành lập, trong khu cơng nghiệp có thể có

doanh nghiệp chế xuất".

Trong giai đoạn toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế với sự chuyển

dịch từ kinh tế nông nghiệp sang kinh tế công nghiệp và kinh tế tri thức, quan

niệm về KCN được mở rộng. Các giao dịch kinh tế không phải chỉ điều chỉnh

bằng các quy định pháp lý trong nước mà còn bằng cả các quy định pháp lý

quốc tế đặc biệt là những nguyên tắc của WTO. WTO cho phép thành lập các



xiv



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO CÁC KHU CÔNG NGHIỆP

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×