Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Tải bản đầy đủ - 0trang

Chất lượng dịch vụ được thừa nhận như là một trong những yếu tố cơ bản

của sự hài lòng khách hàng (Parasuraman et al., 1994). Tuy nhiên, có nhiều tranh

luận về việc liệu sự hài lòng của khách hàng có phải là tiền thân cho chất lượng dịch

vụ tốt hay không (Parasuraman et al., 1985 và Bitner et al., 1990 hay Anderson và

Sullivan, 1993). Các nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng sự hài lòng chịu ảnh hưởng bởi

khơng chỉ nhận thức về chất lượng dịch vụ mà còn bởi những nhận thức về chất

lượng sản phẩm và các yếu tố giá cả, cũng như các yếu tố về cá nhân (Zeithaml và

Bitner, 2000). Ví dụ, sự hài lòng của khách hàng với dịch vụ Ngân hàng bán lẻ sẽ là

một khái niệm rộng hơn và chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng bới những nhận thức về chất

lượng sản phẩm (như nhiều lựa chọn tiền gửi cho khách hàng), giá cả của sản phầm

(ví dụ như chi phí tính bởi các ngân hàng hoặc tỷ giá của các ngân hàng tiền gửi

khác nhau), các yếu tố cá nhân chẳng hạn như trạng thái cảm xúc của khách hàng.

Trong các nghiên cứu được thực hiện tại các quốc gia khác nhau trừ Iran,

chúng ta có thể tham khảo các nghiên cứu dưới đây:

Glasnz and Klyngbyl(2001) tại UNCTAD, nghiên cứu về các nhân tố hiệu

quả trong việc phát triển tài chính về điện tử và nghiên cứu đã chỉ ra rằng hiệu quả

của truyền thông không dây, an ninh, cơ sở hạ tầng liên quan đến giao dịch điện tử,

thông tin và vai trò hiệu quả của ngân hàng thế giới trong việc phát triển tài chính

điện tử trên thế giới đã được chỉ ra.

Mukti (2000) đã nghiên cứu các rào cản đối với việc áp dụng internet để làm

việc ở Malaysia và gọi những rào cản như an ninh, thiếu nhân sự chuyên gia, thiếu

máy tính, rối loạn của các hacker

1.1.2. Các nghiên cứu trong nước

So với nhiều quốc gia trên thế giới, hoạt động bán lẻ ngân hàng tại Việt Nam

vẫn còn khá mới mẻ và chưa phát triển mạnh mẽ. Đó cũng chính là lý do có tương

đối ít nghiên cứu trong nước liên quan tới dịch vụ bán lẻ trong các ngân hàng; trong

số đó có thể kể tới cơng trình của Đỗ Thị Hải Trang (2007), Trần Thị Trâm Anh

(2011) hay Lê Kiều Oanh (2012)...



6



Luận văn thạc sỹ kinh tế của thạc sỹ Đỗ Thị Hải Trang (2007),với mục đích là

đưa ra một số giải pháp chủ yếu góp phần phát triển DVNHBL tại ngân hàng Ngoại

Thương Việt Nam trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế, cho rằng việc phát triển

DVBL là từ ba nhân tơ chính là khung pháp lý của nhà nước, thói quen của khách

hàng (thu nhập còn thấp, và thói quen sử dụng tiền mặt còn phổ biến nên làm hạn

chế sự phát triển DVNHBL, trình độ dân trí còn bị chi phối bởi nền văn hóa nơng

thơn, tốc độ đơ thị hóa nơng thơn còn chậm) và sự cố gắng của ngân hàng (khoảng

cách với dân chúng, năng lực của các ngân hàng đặc biệt là năng lực tài chính và

năng lực quản lý của ngân hàng, số lượng và chất lượng đội ngũ nhân viên).

Cũng tương tự như nghiên cứu của Đỗ Thị Hải Trang (2007), Luận văn thạc sỹ

kinh tế của thạc sỹ Trần Thị Trâm Anh (2011) đặt đối tượng nghiên cứu tại ngân

hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam. Tác giả đã nêu lên những nhân tố ảnh

hưởng đến sự phát triển DVBL là chất lượng của dịch vụ, vì cho rằng sự tồn tại của

mọi ngành nghề kinh doanh chính là ở khách hàng.

Trong khí đó, luận án tiến sỹ kinh tế của tiến sỹ Đào Lê Kiều Oanh (2012)

“Phát triển dịch vụ ngân hàng bán buôn và bán lẻ tại ngân hàng Đầu tư và Phát triển

Việt Nam” cho rằng những nhân tố ảnh hưởng đến việc phát triển DVBL là từ hai

nhân tố chính là từ phía ngân hàng và từ mơi trường bên ngoài.

Nhân tố xuất phát từ ngân hàng như: Hạ tầng cơng nghệ thơng tin, năng lực tài

chính, năng lực quản trị điều hành và chiến lược nguồn nhân lực, mở rộng kênh

phân phối, có chính sách khách hàng thích hợp, chất lượng dịch vụ và chính sách

Marketing.

Nhân tố xuất phát từ mơi trường bên ngồi như: cơ sở pháp lý, mức độ hội

nhập kinh tế quốc tế và cạnh tranh trong nội bộ ngành, tăng trưởng phát triển kinh tế

và mơi trường xã hội, tình hình chính trị và trật tự an toàn xã hội, nhu cầu của khách

hàng, chính sách của chính phủ và các cơ quan quản lý Nhà nước và đối thủ cạnh

tranh.

Khác với các nghiên cứu phân tích đánh giá hoạt động ngân hàng bán lẻ nói

chung tại thị trường Việt Nam, hoặc chỉ tập trung vào đánh giá tình hình phát triển



7



dịch vụ này tại các ngân hàng thương mại cổ phần, nơi luôn coi phát triển dịch vụ

ngân hàng bán lẻ là hoạt động kinh doanh chính yếu của mình; hay chỉ đánh giá

hoạt động kinh doanh này tại một số chi nhánh ngân hàng; Phạm Thu Hiền (2011)

nghiên cứu đánh giá hoạt động dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại một ngân hàng thương

mại quốc doanh lớn, với đối tượng khách hàng truyền thống là những doanh nghiệp,

định chế tài chính lớn trong và ngoài nước nhằm trả lời cho câu hỏi: Việc phát triển

dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại một ngân hàng như vậy sẽ gặp những thuận lợi và khó

khăn như thế nào, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế có nhiều biến động và cạnh tranh

như hiện nay?

Khơng nghiên cứu đơn thuần một ngân hàng nhất định, Lê Hoàng Nga (2014)

cho rằng hoạt động bán lẻ tại các ngân hàng thương mại tại Việt Nam nhìn chung

tăng trưởng ổn định, ít gây ra rủi ro nhờ sự đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ; tuy nhiên

sẽ là chưa đủ khi các ngân hàng nước ngoài ồ ạt nhảy vào. Cũng theo tác giả, để cải

thiện được tình hình thì cần nâng cao năng lực giám sát hệ thống giữa các ngân

hàng, phát triển các nguồn vốn phi ngân hàng cũng như cải thiện quy mô, cơ cấu sở

hữu của các ngân hàng.

Nhìn chung, dù có các cách phân chia khác nhau nhưng các nghiên cứu trong

nước đều có cái nhìn chung về các nhân tố ảnh hưởng tới dịch vụ bán lẻ tại các

ngân hàng thương mại. Các nhân tố cũng hồn tồn phù hợp với các cơng bố tại

nước ngoài, chứng tỏ rằng sự phát triển của dịch vụ ngân hàng bán lẻ đã ít nhiều đi

theo xu hướng phát triển trên thế giới.

1.2. Các khái niệm về Dịch vụ ngân hàng bán lẻ

1.2.1. Các khái niệm, đặc điểm của dịch vụ ngân hàng bán lẻ

1.2.1.1. Khái niệm dịch vụ ngân hàng bán lẻ

Trong hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường, khái niệm bán lẻ được

hiểu là việc cung cấp các sản phẩm dịch vụ trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng,

khác với bán buôn là bán cho người trung gian, cho các đại lý phân phối với số

lượng lớn. Tuy nhiên, do đặc thù của lĩnh vực tài chính tiền tệ nên thuật ngữ bán lẻ

trong hoạt động ngân hàng cũng được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau:



8



Có quan điểm cho rằng: “Dịch vụ bán lẻ là hoạt động ngân hàng mà ở đó

các ngân hàng thực hiện các giao dịch trực tiếp với người tiêu dùng, thay vì với các

tổ chức kinh tế hoặc các ngân hàng khác”, Anderson, E. W., Fornell, C., &

Lehmann, D. R. (1994). Hoặc theo tổ chức thương mại thế giới WTO thì:“Ngân

hàng bán lẻ là nơi mà KHCN có thể đến giao dịch tại những chi nhánh, phòng giao

dịch của các ngân hàng để thực hiện các dịch vụ như: tiền gửi tiết kiệm, kiểm tra số

dư tài khoản, thế chấp vay vốn, dịch vụ thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ và một số dịch vụ

khác đi kèm”

Còn theo các chun gia của Học viện Cơng nghệ Châu Á - AIT thì “Dịch

vụ bán lẻ là việc ngân hàng cung ứng các sản phẩm dịch vụ của mình tới từng cá

nhân riêng lẻ, các DNNVV thơng qua mạng lưới chi nhánh hoặc là KH có thể tiếp

cận trực tiếp với các sản phẩm dịch vụ ngân hàng thông qua phương tiện CNTT,

điện tử viễn thông”.

Trên thực tế tại các NHTM trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã và đang

thực hiện tái cấu trúc mơ hình hoạt động kinh doanh theo hai nhóm đối tượng KH

chính là KHCN, KH DNNVV và nhóm KH các doanh nghiệp lớn, các định chế tài

chính. Theo đó, việc tổ chức nghiên cứu thị trường, thiết kế sản phẩm dịch vụ, xây

dựng các chính sách về phí, lãi suất và ban hành các quy trình, quy định nghiệp

vụ… đều hướng tới hai nhóm khách hàng này. Trong khi các KHCN, các khách

hàng DNNVV thường sử dụng các sản phẩm dịch vụ truyền thống, có tính đại trà

phổ biến thì nhóm các KH doanh nghiệp lớn và các định chế tài chính lại đòi hỏi

các sản phẩm dịch vụ ngân hàng hiện đại, mang hàm lượng chất xám và công nghệ

cao và thường được thiết kế “may đo” riêng để phù hợp với hoạt động của từng KH.

Từ những cách hiểu nói trên và xuất phát từ thực tiễn trong hoạt động kinh

doanh, theo quan điểm của tác giả thì Dịch vụ bán lẻ của Ngân hàng thương mại là

các dịch vụ tài chính vơ hình được ngân hàng chuyển tới tận tay những đối tượng

KH là cá nhân, hộ gia đình, DNNVV thông qua mạng lưới các kênh phân phối đa

dạng và hiệu quả.



9



1.2.1.2. Đặc điểm dịch vụ ngân hàng bán lẻ

Giống như các loại hình dịch vụ khác, dịch vụ ngân hàng cũng mang những

đặc trưng cơ bản sau:

- Đối tượng khách hàng: DVBL hướng tới đối tượng khách hàng là các cá

nhân, hộ gia đình, các DNNVV. Đặc thù của nhóm khách hàng này là khác nhau về

độ tuổi, vị thế xã hội, trình độ học thức và hành vi tiêu dùng do đó nhu cầu về các

sản phẩm dịch vụ ngân hàng rất đa dạng và phong phú. Đối với nhóm khách hàng

có trình độ, có am hiểu về lĩnh vực tiền tệ ngân hàng, họ sẽ quan tâm nhiều hơn đến

tiện ích, giá trị gia tăng của sản phẩm, dịch vụ. Ngược lại, nhóm khách hàng ít có

các giao dịch với ngân hàng lại thường chú ý đến giá cả, lãi suất và uy tín của ngân

hàng để quyết định có gửi tiền, vay tiền hay thực hiện các dịch vụ khác tại ngân

hàng hay không.

- Số lượng khách hàng lớn: Dân số thế giới đang gia tăng một cách chóng

mặt và khơng có dấu hiệu ngừng lại, cùng với đó là sự phát triển mạnh mẽ của

những nền kinh tế mới nổi. Hệ quả tất yếu là sự gia tăng nhu cầu sử dụng dịch vụ

ngân hàng của tầng lớp dân cư thu nhập khá và hệ thống các DNNVV.

- Giá trị các khoản giao dịch thường nhỏ: Điều dễ nhận thấy là giá trị các

khoản giao dịch của DVBL thường nhỏ hơn rất nhiều so với với các khoản giao

dịch của các doanh nghiệp lớn, các định chế tài chính do nhu cầu, tính chất của các

đối tượng tham gia giao dịch.

- DVBL dựa trên nền tảng CNTT: Trong thời đại số hóa hiện nay, ngân hàng

nào có hệ thống CNTT phát triển, biết ứng dụng tốt cơng nghệ vào hoạt động ngân

hàng thì sẽ có cơ hội lớn để phát triển hoạt đơng bán lẻ của mình. Bởi lẽ CNTT là

nền tảng để hỗ trợ các ngân hàng phát triển tốt các sản phẩm dịch vụ hiện đại của

mình như internet banking, mobile banking, phone banking… Tốc độ và độ chính

xác khi xử lý các giao dịch, các tiện ích của sản phẩm, mức độ bảo mật thông tin…

là những yếu tố rất quan trọng khi KH lựa chọn sử dụng sản phẩm dịch vụ ngân

hàng điện tử của một ngân hàng. Bên cạnh đó, hệ thống cơng nghệ hiện đại cũng

giúp cho ngân hàng có thể thực hiện việc lưu trữ và xử lý số liệu tập trung, từ đó có



10



thể triển khai mơ hình tập trung hóa hoạt động vận hành, xử lý các giao dịch có tính

chất phân tán như hỗ trợ tín dụng, thanh tốn trong và ngồi nước, giúp tiết kiệm

chi phí và nâng cao năng lực quản trị.

- Hệ thống kênh phân phối rộng khắp: Để cung ứng được sản phẩm cho một

lượng lớn khách hàng tại nhiều địa điểm khác nhau đòi hỏi các NHTM phải có một

hệ thống kênh phân phối rộng khắp để có thể đưa giá trị sản phẩm, dịch vụ đến tận

tay khách hàng, đáp ứng được nhu cầu khách hàng và giảm thiểu những chi phí phát

sinh khơng cần thiết cho khách hàng.

- Sản phẩm DVBL phong phú và đa dạng: Do nhu cầu của mỗi KH là khác

nhau theo giới tính, độ tuổi, thu nhập, đặc tính vùng miền… nên các sản phẩm

DVBL của các ngân hàng cần phong phú và đa dạng để thỏa mãn tốt nhất các nhu

cầu của từng phân khúc khách hàng đó. Ngồi ra các sản phẩm đa dạng cũng đem

đến nhiều hơn những lựa chọn cho khách .

- Hoạt động marketing giữ vai trò quyết định đối với sự phát triển DVBL: Đối

tượng khách hàng của DVBL là các cá nhân, DNNVV. Khả năng tiếp cận với các

dịch vụ ngân hàng của nhóm khách hàng này còn thấp, đặc biệt là với các KHCN.

Bởi vậy, để sản phẩm đến được tay khách hàng, khách hàng hiểu và sử dụng sản

phẩm thì khâu quảng bá, tiếp thị và chăm sóc sau bán hàng là vơ cùng quan trọng, có

ý nghĩa quyết định đối với sự tồn tại và phát triển các DVBL hiện nay.

- Tính vơ hình: Đây là đặc điểm cơ bản để phân biệt sản phẩm dịch vụ ngân

hàng với các sản phẩm của các ngành sản xuất khác. Cũng giống như các dịch vụ

khác, dịch vụ ngân hàng cũng khơng có hình thái vật chất cụ thể. Khách hàng tiếp

nhận và tiêu dùng dịch vụ ngân hàng thông qua hoạt động giao tiếp, tiếp nhận thông

tin và kết quả là nhu cầu được đáp ứng. Cũng có một điểm đặc biệt là khách hàng

chỉ có thể đánh giá được chất lượng dịch vụ sau khi đã mua và sử dụng chúng. Dịch

vụ ngân hàng cũng có điểm khác hàng hóa vật chất ở chỗ khơng có sản phẩm dở

dang, khơng lưu trữ được.



11



1.2.1.3. Các loại hình dịch vụ ngân hàng bán lẻ của ngân hàng thương mại

 Huy động vốn

Với vai trò là trung gian tài chính thì hoạt động huy động vốn là một trong

những hoạt động cơ bản của NHTM, là nền tảng cho sự tồn tại và phát triển của

ngân hàng. Các NHTM có thể huy động vốn từ nhiều nguồn khác nhau, trong đó

vốn huy động từ KHCN, các DNNVV đóng vai trò chủ đạo, tạo lập nguồn vốn ổn

định cho các ngân hàng. Huy động vốn từ hoạt động bán lẻ ở các NHTM được thực

hiện qua các hình thức chủ yếu sau:

- Tiền gửi thanh tốn: là loại tiền gửi của KH khơng phải vì mục đích hưởng

lãi mà để sử dụng các dịch vụ thanh toán và hưởng các tiện ích khác có liên quan

đến loại tiền gửi này của ngân hàng. Đối tượng gửi tiền là cá nhân và các tổ chức

kinh tế - những KH có nhu cầu sử dụng dịch vụ thanh tốn qua ngân hàng. Đây là

loại tiền gửi có lãi suất rất thấp (thậm chí tại một số nước có mức lãi suất bằng

không). Khi khách hàng mở tài khoản tiền gửi thanh tốn tại ngân hàng, số dư có

trên tài khoản tiền gửi thanh tốn của khách hàng hình thành từ hai nguồn là do

khách hàng nộp tiền vào hoặc do khách hàng nhận tiền gửi từ các đơn vị khác. Số

dư này nhằm đáp ứng các nhu cầu thanh toán cũng như sử dụng của khách hàng.

- Tiền gửi có kỳ hạn của DNNVV: bên cạnh việc duy trì số dư tiền gửi nhất

định trên tài khoản thanh toán để đảm bảo các nhu cầu giao dịch phát sinh hàng ngày,

nhằm tăng cường khai thác sử dụng đồng vốn hiệu quả thì DNNVV cũng lựa chọn

hình thức gửi tiền có kỳ hạn tại NHTM. Căn cứ vào kế hoạch tài chính của đơn vị,

khách hàng có thể lựa chọn gửi tiền với nhiều kỳ hạn khác nhau, linh hoạt theo tuần,

tháng hoặc có thể gửi dài hạn hàng năm. Thơng thường thời gian gửi càng dài thì lãi

suất càng cao và khách hàng có thể nhận lãi suất trước, định kỳ hàng tháng hoặc khi

đến hạn hợp đồng tiền gửi, tùy thuộc vào nhu cầu của KH và thỏa thuận với ngân

hàng. Đối với khoản tiền gửi có kỳ hạn, KH sẽ không được rút tiền trước hạn, hoặc

được rút trước nhưng sẽ phải chịu một khoản phí/ lãi phạt nhất định.

- Tiền gửi tiết kiệm dân cư: về bản chất thì sản phẩm này cũng giống như

tiền gửi có kỳ hạn của DNNVV, chỉ khác về đối tượng KH hướng tới là các KHCN.



12



Đây chính là một trong những hoạt động có tình truyền thống nhất, gắn liền với lịch

sử hình thành và phát triển của ngành ngân hàng. Các KHCN khi có nguồn tiền

nhàn rỗi tạm thời, chưa có nhu cầu sử dụng có thể đem gửi tiết kiệm tại ngân hàng,

vừa đảm bảo an toàn lại được hưởng lãi suất. Tiền gửi tiết kiệm dân cư bao gồm hai

loại chính là tiền gửi khơng kỳ hạn và có kỳ hạn, tuy nhiên trên thực tế các KHCN

thường lựa chọn gửi tiền có kỳ hạn để được hưởng lãi suất cao, bởi lẽ KHCN có thể

chủ động trong kế hoạch chi tiêu của mình. Trong trường hợp phát sinh nhu cầu chi

tiêu đột xuất, KH có thể rút trước hạn và nhận lãi suất thấp, hoặc cầm cố chính

quyển sổ tiết kiệm đó tại ngân hàng để vay vốn ngân hàng, tùy theo phương án nào

có hiệu quả hơn.

- Huy động vốn thông qua phát hành các giấy tờ có giá: Đây là nguồn vốn

của NHTM hình thành thơng qua việc phát hành các giấy tờ có giá như kỳ phiếu,

trái phiếu ngân hàng, chứng chỉ tiền gửi…Nếu huy động tiền gửi là hoạt động

thường xuyên thì việc phát hành giấy tờ có giá chỉ thực hiện vào những thời điểm

nhất định. Thơng thường hình thức này được thực hiện khi ngân hàng đã tiếp nhận

được những dự án vay vốn lớn với thời hạn giải ngân nhanh hoặc sau khi đã cân đối

giữa nguồn vốn và sử dụng vốn trong tồn hệ thống mà vẫn còn thiếu. Hình thức

này có ưu điểm là trong một thời gian gắn có thể huy động được nguồn vốn lớn và

ổn định, ngân hàng có thể sử dụng lâu dài vì hình thức này KH khơng rút trước hạn.

Tuy nhiên đây là hình thức huy động vốn chỉ được thực hiện khi có sự đồng ý của

NHNN và nhìn chung lãi suất huy động thường cao hơn lãi suất huy động tiền gửi

cùng kỳ hạn. KH mua giấy tờ có giá có thể là cá nhân hoặc các tổ chức kinh tế. Mặc

dù giấy tờ có giá khơng được rút trước hạn nhưng cũng giống như sổ tiết kiệm, khi

có nhu cầu về tiền mặt KH có thể chiết khấu các giấy tờ có giá này tại các NHTM.

 Dịch vụ tín dụng

Hoạt động tín dụng bán lẻ của các NHTM hiện nay rất phong phú và đa dạng

nhằm đáp ứng tốt nhất mọi nhu cầu của khách hàng. Căn cứ theo đối tượng khách

hàng, có thể phân chia tín dụng bán lẻ thành hai loại hình cơ bản là cho vay KHCN

và cho vay khách hàng doanh nghiệp DNNVV:



13



+ Cho vay KHCN và hộ gia đình: là các khoản cho vay nhỏ lẻ, đáp ứng nhu

cầu chi tiêu và mua sắm tiện nghi sinh hoạt cá nhân, hộ gia đình nhằm nâng cao đời

sống của người dân. Tùy vào nhu cầu, mục đích sử dụng và khả năng cân đối tài

chính, khách hàng có thể lựa chọn vay ngắn hạn, trung hoặc dài hạn và có thể lựa

chọn các phương thức trả nợ khác nhau như trả nợ một lần vào cuối kỳ hạn vay và

trả góp định kỳ. Căn cứ theo mục đích sử dụng tiền vay, có thể phân chia thành các

sản phẩm tín dụng cho KHCN, hộ gia đình như sau:

- Cho vay tiêu dùng: là khoản cho vay nhằm đáp ứng các nhu cầu chi tiêu,

mua sắm của cá nhân, hộ gia đình như: mua nhà, sửa chữa nhà cửa, mua sắm đồ

dùng gia đình, thanh toán tiền chữa bệnh, chi trả cho các kỳ nghỉ gia đình hoặc chi

phí du học... Trong đó, hai sản phẩm thông dụng và thường chiếm tỷ trọng lớn nhất

trong tổng dư nợ cho vay KHCN là cho vay mua xe ơ tơ trả góp và cho vay mua,

xây dựng sử chữa nhà. Cho vay mua xe ô tô trả góp là hình thức ngân hàng cung

cấp tín dụng cho khách hàng để thanh toán một phần tiền mua xe ô tô phục vụ sinh

hoạt hàng ngày hoặc kinh doanh vận tải. Khách hàng có thể dùng chính chiếc xe đó

làm tài sản đảm bảo cho khoản vay của mình tại Ngân hàng. Còn cho vay mua, xây

dựng, sửa chữa nhà là loại cho vay để khách hàng mua nhà, đất, xây dựng nhà mới

hoặc sửa chữa, cải tạo nhà đang ở. Cùng với một phần vốn tự có của mình, khách

hàng có thể vay bổ sung phần vốn thiếu hụt từ ngân hàng để thực hiện dự án và

hoàn trả dần hàng tháng hoặc theo định kỳ

- Cho vay sản xuất kinh doanh: là loại cho vay nhằm bổ sung vốn thiếu hụt

trong hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng là các hộ kinh doanh cá thể.

Khách hàng có thể vay vốn ngắn hạn để thanh toán tiền hàng đối tác, hoặc tiền

lương cho nhân viên.

- Cho vay thơng qua phát hành thẻ tín dụng: Là một loại tín dụng tuần hồn

cấp cho chủ thẻ tín dụng. Mỗi chủ thẻ tín dụng được cấp một hạn mức tín dụng nhất

định căn cứ vào mức độ tín nhiệm và năng lực tài chính, khả năng đảm bảo chi trả

của chủ thẻ. Khả năng đảm bảo chi trả được xác định dựa trên việc tổng hợp các

thông tin khác nhau như thu nhập, tình hình chi tiêu, mối quan hệ, địa vị trong xã hội.



14



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×