Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chương 2. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THU HÚT VÀ SỬ DỤNG NGUỒN VỐN ODA CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2010 - 2015

Chương 2. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THU HÚT VÀ SỬ DỤNG NGUỒN VỐN ODA CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2010 - 2015

Tải bản đầy đủ - 0trang

Các nhà tài trợ có giá trị hiệp định ODA lớn là WB, Ngân hàng phát triển

châu Á (ADB) và Nhật Bản. Từ năm 1993 đến 2012, ADB tài trợ hơn 14 triệu

USD, WB tài trợ hơn 20 triệu USD và Nhật Bản là hơn 19 triệu USD.

Bảng 2.1. Tình hình cam kết, ký kết, giải ngân ODA giai đoạn 1993 -2012

Đơn vị tính: triệu USD

Năm



Cam kết



Kýkết



Giải ngân



1993



1.860,80



816,68



413



1994



1.958,70



2.597,86



725



1995



2.311,50



1.443,53



737



1996



2.430,90



1.597,42



900



1997



2.377,10



1.686,01



1.000



1998



2.192,00



2.444,30



1.242



1999



2.146,00



1.507,15



1.350



2000



2.400,50



1.773,12



1.650



2001



2.399,10



2.433,17



1,500



2002



2.462,00



1.813,56



1.528



2003



2,839,40



1.785,89



1.422



2004



3.440,70



2.598,14



1.650



2005



3.748,00



2,610,29



1.787



2006



4.445,60



2.945,69



1.785



2007



5.426,60



3.911,73



2.176



2008



5.914,67



4.359,55



2.253



2009



8.063,87



6.217,04



4.105



2010



7.905,51



3.207,38



3.541



2011



7.386,77



6.814,46



3.650



2012



6.486,00



5.869,36



4.183



78.195,72



8.463,33



37.597,00



Tổng số



Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Nhờ việc thực hiện có kết quả các giải pháp cơ cấu lại, xử lý các khoản nợ

nước ngồi cũng như trong việc khai thơng quan hệ tài chính, tín dụng với nước

ngồi, thời kỳ 1993-2012, Việt Nam đã được cam kết tài trợ 78,19 tỷ USD.

Trong đó, số đã đàm phán, ký kết các hiệp định tài trợ là 58,36 tỷ USD và đã

32



giải ngân được 37,6 tỷ USD. Riêng năm 2014 tổng vốn ODA và vốn vay ưu đãi

được ký kết đạt hơn 43,62 tỷ USD (41,60 tỷ USD vốn ODA và vay ưu đãi,

202,05 triệu USD viện trợ khơng hồn lại). Tổng giá trị các hiệp định ký kết

năm 2014 bằng khoảng 68% của năm 2013. Nguyên nhân là do các cơ quan Việt

Nam đã chú trọng đến công tác chuẩn bị dự án, chất lượng và tính khả thi của

các chương trình, dự án, đảm bảo duy trì nợ cơng bền vững.

Cơ cấu ODA giành cho các ngành, lĩnh vực ln có sự thay đổi qua từng

giai đoạn khác nhau, nếu như giai đoạn trước đây 2006 – 2010, ODA được tập

trung chủ yếu cho giáo dục, y tế thì giai đoạn hiện nay ODA chuyển sang đầu tư

cho giao thông vận tải, năng lượng. Sự thay đổi này là do có sự thay đổi về ưu

tiên lĩnh vực đầu tư của nhà tài trợ cũng như của Việt Nam.



Nguồn: Báo cáo của Chính phủ tại Diễn đàn Quan hệ Đối tác Phát triển Việt

Nam 2014 (VBDF)

Hình 2.2. Cơ cấu ODA ký kết theo ngành, lĩnh vực năm 2014

Các lĩnh vực bao gồm giao thông vận tải, năng lượng tập trung nhiều

nguồn vốn ODA và vốn vay ưu đãi lần lượt là 32% và 29%, trong khi các lĩnh

vực khác như nông nghiệp và phát triển nơng thơn kết hợp với xóa đói giảm

nghèo, năng lượng, y tế, giáo dục và đào tạo, thể chế,…chỉ chiếm tỷ trọng khiêm

tốn 8%, 18%.

Bảng 2.2. Tình hình ký kết các hiệp định ODA tính đến tháng 11/2014

Đơn vị tính: tỷ USD



ODA ký kết

(triệu USD)



Ngành, lĩnh vực

33



Cơ cấu(%)



Giao thơng vận tải

Năng lượng

Cấp, thốt nước, mơi trường và phát

triển đơ thị

NN&PTNN - Xóa đói giảm nghèo

Y tế, giáo dục và đào tạo, các ngành

khác

Tổng số



1.284,15

1.176,46



31,95

29,27



529,23



13,16



330,00



8,21



699,86



17,41



4.019,70

100

Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư



2.1.2. Về giải ngân vốn ODA

Việt Nam nhận thức rằng cam kết vốn ODA mới chỉ là sự ủng hộ về chính

trị, việc thực hiện nguồn vốn này nhằm tạo ra các cơng trình, sản phẩm kinh tếxã hội cụ thể mới thực sự cần thiết để đóng góp vào q trình phát triển của đất

nước.

Giải ngân vốn ODA và vốn vay ưu đãi năm 2014 đạt khoảng 5,6 tỷ USD

(ODA vốn vay là 5,25 tỷ USD, ODA viện trợ khơng hồn lại là 350 triệu USD),

cao hơn 9% so với năm 2013.

Trong tổng số vốn giải ngân năm 2014 có khoảng 2,45 tỷ USD thuộc

nguồn vốn xây dựng cơ bản, khoảng 2,1 tỷ USD thuộc nguồn vốn cho vay lại,

khoảng 318 triệu USD thuộc nguồn vốn hành chính sự nghiệp và khoảng 732

triệu USD từ các khoản hỗ trợ ngân sách.

Theo đánh giá chung, sau những biện pháp đôn đốc kiên quyết, thường

xuyên của Ban Chỉ đạo, giải ngân năm 2014 có những cải thiện đáng kể. Các

nhà tài trợ quy mô lớn vẫn tiếp tục được duy trì mức giải ngân cao như Nhật

Bản (JICA): 1,773 tỷ USD, WB: 1,386 tỷ USD, ADB: 1,058 tỷ USD. Một số dự

án đầu tư quy mô lớn cũng đã đóng góp vào mức giải ngân này như Dự án xây

dựng Nhà ga hành khách T2-Cảng hàng không Nội Bài, Dự án cơ sở hạ tầng

giao thông ĐBSCL, Dự án cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn Đồng

bằng sông Hồng P4R, Dự án đầu tư xây dựng Nhà máy nhiệt điện Ơ Mơn số 2

và lưới điện truyền tải khu vực ĐBSCL...



34



Ngoài ra, mức giải ngân năm 2014 cao nhờ các khoản giải ngân nhanh, hỗ

trợ ngân sách như Chương trình EMCC 2 (383 triệu USD), Chương trình hỗ trợ

ứng phó với biến đổi khí hậu (SP-RCC 4: 130 triệu USD).

Trong năm 2014, một số công trình, dự án trọng điểm quốc gia như cầu

Nhật Tân, đường nối Nhật Tân - sân bay quốc tế Nội Bài, Nhà ga hành khách T2

- Cảng hàng không quốc tế Nội Bài, đường cao tốc Nội Bài-Lào Cai đã hồn

thành, được đưa vào khai thác sử dụng, góp phần hồn chỉnh, hiện đại hóa hệ

thống cơ sở hạ tầng, thúc đẩy liên kết vùng trong tiến trình phát triển khu vực

phía Bắc.

Nhìn chung, Việt Nam được các nhà tài trợ đánh giá là nước tiếp nhận và

sử dụng ODA tương đối tốt. Các dự án của ADB tại Việt Nam đạt tỷ lệ thành

công 82,1%, cao hơn tỷ lệ của một số nước như Ấn Độ (65,2%), Indonesia

(63,2%), Philippines (45,5%). Tỷ lệ thành công của các dự án của Ngân hàng

Tái thiết Đức (KfW) ở Việt Nam tương đương với mức trung bình thế giới.



Nguồn: Bộ Kế hoạch đầu tư, 2014

Hình 2.3. Cam kết, ký kết và giải ngân vốn ODA thời kỳ 2010 - 2014

Mặc dù các chỉ tiêu về cam kết, ký kết và giải ngân nguồn vốn ODA đều

đạt và vượt kế hoạch đề ra, nhưng tiến độ thực hiện và giải ngân nguồn vốn

ODA vẫn chưa đạt yêu cầu và đối với một số nhà tài trợ còn thấp hơn với mức

bình qn của khu vực và thế giới. Công tác quản lý, sử dụng vốn ODA năm

35



2014 cũng còn một số hạn chế, như thời gian xem xét và phê duyệt danh mục tài

trợ của các cơ quan trước khi trình Thủ tướng Chính phủ kéo dài; thời gian

chuẩn bị chương trình, dự án ODA, bao gồm từ khâu đề xuất ý tưởng dự án cho

đến khi ký kết điều ước cụ thể về ODA thường mất khoảng 2 - 3 năm. Chất

lượng văn kiện dự án chưa đáp ứng được yêu cầu. Vẫn còn những vướng mắc

liên quan đến quy định quản lý rút vốn hay liên quan đến việc sử dụng vốn ODA

và vốn vay ưu đãi đối với các hạng mục chi tiêu thường xun vì mục đích sự

nghiệp phát triển; liên quan đến cơ chế tài chính trong nước đối với các khoản

vay ODA và vốn vay ưu đãi; khác biệt về quy trình, thủ tục giữa Việt Nam và

nhà tài trợ.

Số vốn ODA chưa giải ngân của các chương trình, dự án đang thực hiện

còn rất lớn, khoảng 21 tỷ USD. Nếu tình hình giải ngân chậm được cải thiện,

mỗi năm Việt Nam mất hàng trăm triệu USD chi phí cơ hội.

Kết quả nghiên cứu của ADB cho thấy, chậm tiến độ thi công thường dẫn

đến phụ trội chi phí khoảng 14%. Ví dụ, như dự án thủy lợi Phước Hòa, chi phí

tăng 101%, dự án cao tốc Nội Bài - Lào Cai tăng 15% và dự án mạng giao thông

miền Trung tăng 51%.

2.2. Tác động của ODA đối với Việt Nam

2.2.1. Tác động tích cực

Thứ nhất, Nguồn vốn ODA đóng góp quan trọng cho cân đối tài chính

quốc gia, Mặc dù sự đóng góp của ODA cho GDP của Việt Nam ở mức độ

khiêm tốn, khoảng 3 - 4% trong 5 năm 2006 - 2010, song nguồn vốn này góp

phần đảm bảo cân đối tài chính vĩ mơ và bổ sung nguồn vốn đầu tư. Trong bối

cảnh ngân sách nhà nước dành cho đầu tư phát triển còn hạn hẹp, đây là nguồn

vốn quý báu để đầu tư phát triển các lĩnh vực cơng ích nhằm cung cấp cho người

dân, nhất là người nghèo ở vùng nông thôn và thành thị các dịch vụ công thiết

yếu (y tế, giáo dục, cấp nước sinh hoạt, cải thiện điều kiện giao thông,…) với số

lượng nhiều hơn, chất lượng tốt hơn và giá cả cạnh tranh hơn.



36



Thứ hai, ODA đã góp phần quan trọng trong việc phát triển hệ thống

chính sách, luật pháp, xây dựng thể chế phục vụ công cuộc đổi mới và cải cách

của Việt Nam trong quá trình chuyển tiếp sang nền kinh tế thị trường và hội

nhập quốc tế

Nguồn vốn ODA thực hiện trong thời kỳ 2011 - 2014, được sử dụng để

cung cấp các dịch vụ tư vấn về phát triển chính sách trên nhiều lĩnh vực như

kinh tế vĩ mô, cải cách hệ thống tài chính, ngân hàng, cải cách doanh nghiệp nhà

nước, phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, hỗ trợ quá trình hội nhập kinh tế quốc

tế, xây dựng các luật và các văn bản dưới luật thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau

(như quản lý đất đai, phát triển thương mại, đấu thầu, xây dựng, quản lý nợ

cơng,…). Có thể kể đến một số dự án sau: Chương trình Cải cách quản lý Thuế

và Chính sách Thuế Việt Nam, năm 2014 do IFM tài trợ, tổng giá trị 1.139.550

USD, tập trung vào 03 nội dung chính: (i) Quản lý thuế, (ii) Quản lý hải quan và

thuế thương mại (Cải cách Luật thuế XNK); và (iii) Chính sách thuế. JICA hợp

tác kỹ thuật thực hiện Hải quan điện tử tài trợ khơng hồn lại 119 tỷ VND dự án

thực hiện từ 2012 - 2015.

Nguồn vốn ODA đã góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng

của hệ thống pháp luật Việt Nam. Việc lồng ghép và thực hiện thí điểm một số

nội dung chính sách, thể chế trong khn khổ các chương trình, dự án phát triển

cơ sở hạ tầng đầu tư bằng nguồn vốn ODA đã đóng góp phát triển bền vững

ngành này theo định hướng thị trường.

Thứ ba, Nguồn vốn ODA đã hỗ trợ phát triển nhiều ngành và lĩnh vực cơ

sở hạ tầng kinh tế và xã hội

a) Phát triển nơng nghiệp và nơng thơn kết hợp xóa đói, giảm nghèo

Giai đoạn 1993-2013, Việt Nam đã thu hút được 78 tỷ USD vốn ODA từ

hơn 50 nhà tài trợ trên thế giới. Trong đó, riêng ngành nơng nghiệp và phát triển

nông thôn thu hút được 5,5 tỷ USD vốn ODA từ 41 nhà tài trợ, chiếm khoảng

7% tổng vốn ODA dành cho Việt Nam.



37



Theo đó, hai nhà tài trợ đa phương lớn nhất của ngành nông nghiệp và

phát triển nông thôn (NN&PTNT) là Ngân hàng Thế giới (WB) và Ngân hàng

Phát triển châu Á (ADB). Tính đến năm 2013, hai đối tác này đã tài trợ cho

ngành nông nghiệp 3,15 tỷ USD, chiếm 57,3% tổng vốn ODA vào nông nghiệp.

Riêng ADB là tài trợ lớn nhất với 1,6 tỷ USD, chiếm gần 30% tổng vốn ODA

vào ngành nông nghiệp.

Đối với tài trợ song phương, Nhật Bản là đối tác ODA lớn nhất trong lĩnh

vực nông nghiệp. Đến nay, Nhật Bản đã tài trợ cho ngành NN&PTNT 70 dự án

với tổng vốn 1,3 tỷ USD. Trong đó, 60 dự án là dự án hỗ trợ kỹ thuật, viện trợ

khơng hồn lại, hỗ trợ khẩn cấp với tổng vốn đạt trên 300 triệu USD, và 10 dự

án vốn vay lớn trong lĩnh vực thủy lợi, lâm nghiệp với gần 1 tỷ USD.

Mặc dù nguồn vốn ODA chảy vào nông nghiệp không nhiều, nhưng

nguồn vốn này đã đóng góp đáng kể cho sự phát triển của ngành, làm thay đổi

diện mạo nông thôn trong những năm qua. Cụ thể, nguồn vốn ODA góp phần

xóa đói giảm nghèo cho người dân nơng thơn, giảm tỷ lệ đói nghèo của Việt

Nam từ 60% vào năm 1993 xuống còn 10% vào năm 2012; với nguồn vốn ODA

vay ưu đãi, hệ thống hạ tầng nông nghiệp nông thôn, hệ thống điện, trường học,

trạm y tế xã đã được cải thiện; ODA cũng góp phần trợ giúp tăng cường nghiên

cứu khoa học và chuyển giao công nghệ mới trong nông nghiệp. Thông qua các

dự án hỗ trợ phát triển ngành, hỗ trợ khoa học và công nghệ nông nghiệp, các

trang thiết bị nghiên cứu được tăng cường, nhiều giống cây trồng vật nuôi tốt đã

được nghiên cứu, ứng dụng vào sản xuất.

Các dự án nổi bật trong lĩnh vực này: Quỹ Phát triển Châu Á của ADB

(ADF) tài trợ 74 triệu USD cho Dự án hỗ trợ nông nghiệp phát thải khí cácbon

thấp, tập trung vào cơ sở hạ tầng để quản lý chất thải nông nghiệp, tạo thuận lợi

cho chuyển giao công nghệ quản lý chất thải nông nghiệp. Mục tiêu của Dự án

nhằm giảm ô nhiễm từ nơng nghiệp và góp phần tạo mơi trường trong sạch hơn

tại 10 tỉnh của Việt Nam. Trong giai đoạn 2014 - 2018, Hàn Quốc sẽ hỗ trợ 25

triệu USD (vốn ODA khơng hồn lại) để thực hiện dự án cơ giới hóa nơng

nghiệp tại ĐBSCL. Theo đó, dự án sẽ trang bị cho ĐBSCL các loại máy gặt đập

38



liên hợp, máy phun thuốc, máy gieo hạt... được sản xuất theo công nghệ hiện đại

nhất của Hàn Quốc

b) Năng lượng và cơng nghiệp

Ngành năng lượng và cơng nghiệp có tổng vốn ODA được ký kết trong

thời kỳ 1993-2012 đạt khoảng 10 tỷ USD, trong đó viện trợ khơng hồn lại

khơng đáng kể, khoảng 0,1%. Tổng số nhà tài trợ là 32, trong đó có 26 nhà tài

trợ song phương và 6 nhà tài trợ đa phương.

Hiện nay, vốn ODA ký kết cho ngành năng lượng và công nghiệp đạt

khoảng chiếm khoảng 29% tổng vốn ODA và phần lớn để tập trung hỗ trợ phát

triển nguồn điện (xây dựng các nhà máy nhiệt điện, thủy điện); phát triển mạng

lưới truyền tải và phân phối điện, đặc biệt ở khu vực nông thôn, miền núi, vùng

sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc; phát triển năng lượng tái tạo, năng lượng

xanh (điện mặt trời, điện gió) và sử dụng năng lượng tiết kiệm và có hiệu quả.

Nguồn vốn ODA đã góp phần tăng sản lượng và chất lượng cung cấp điện

năng cho sản xuất và đời sống, xây dựng ngành điện theo định hướng thị trường

và tăng cường năng lực quản lý ngành.

Các dự án năng lượng đang triển khai: Dự án Thuỷ điện Trung Sơn năm

2011-2017 trị giá tài trợ 7.774 tỷ VND, Dự án Phát triển lưới điện nông thôn

QN-ĐN giai đoạn II trị giá 164 tỷ VNĐ

c) Giao thông vận tải, bưu chính viễn thơng và cấp thốt nước đô thị

Tổng số vốn ODA được ký kết để hỗ trợ phát triển ngành giao thơng vận

tải, bưu chính viễn thơng và cấp thốt nước đơ thị chiếm tỷ trọng cao nhất (hơn

40%) trong cơ cấu nguồn vốn ODA thời kỳ này.

Trong ngành giao thông vận tải, vốn ODA đã được tập trung đầu tư phát

triển và nâng cấp hệ thống đường quốc lộ, xây dựng một số cảng biển, củng cố

và tăng cường cơ sở hạ tầng ngành đường sắt, cảng hàng không quốc tế, xây

dựng giao thông nội đô ở một số thành phố lớn và phát triển giao thơng nơng

thơn. Ngồi ra, ODA đã hỗ trợ tăng cường công tác quy hoạch phát triển giao



39



thông, tăng cường năng lực quản lý ngành cũng như nâng cao nhận thức, giáo

dục pháp luật và an tồn giao thơng trong xã hội.

Trong ngành bưu chính viễn thơng, vốn ODA tập trung đầu tư, phát triển

một số cơ sở hạ tầng kỹ thuật bưu chính viễn thơng hiện đại có ý nghĩa quốc gia,

phục vụ nhu cầu khai thác chung của mọi thành phần kinh tế, phát triển điện

thoại nông thôn, phát triển Internet cộng đồng, áp dụng công nghệ thông tin góp

phần thực hiện chương trình cải cách hành chính quốc gia, xây dựng Chính phủ

điện tử.

Vốn ODA đã được sử dụng cho việc phát triển đơ thị, cấp thốt nước và

vệ sinh môi trường, cải thiện điều kiện môi trường sống cho những khu vực

người nghèo ở nhiều thành phố, thị xã trên cả nước.

d) Y tế, giáo dục và đào tạo, môi trường, khoa học công nghệ và các

ngành khác

Vốn ODA ký kết trong các lĩnh vực này giảm hơn các giai đoạn trước

chiếm 17% tổng giá trị ODA ký kết của cả nước.

Trong ngành y tế, vốn ODA đã được sử dụng để tăng cường trang thiết bị

y tế cho một số bệnh viện tuyến tỉnh và khu vực nhằm giảm tải cho tuyến Trung

ương; phát triển mạng lưới y tế chăm sóc sức khỏe nhân dân ở các vùng, nhất là

các vùng nghèo ở nông thôn, miền núi có nhiều khó khăn; hỗ trợ thực hiện các

mục tiêu thiên niên kỷ (MDGs) trong lĩnh vực y tế như đẩy mạnh công tác dân

số và kế hoạch hóa gia đình, giảm tỷ lệ tử vong và suy dinh dưỡng trẻ em, phòng

chống HIV/AIDS; hỗ trợ xây dựng chính sách và nâng cao năng lực quản lý

ngành.

Trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, vốn ODA được sử dụng để hỗ trợ cải

cách các cấp học từ giáo dục tiểu học tới giáo dục đại học nhằm nâng cao chất

lượng và tiếp cận với nền giáo dục và đào tạo tiên tiến trên thế giới, cung cấp

các học bổng đào tạo ở nước ngồi… Vốn vay ODA còn được huy động để đầu



40



tư xây dựng một số trường đại học đạt chuẩn quốc tế nhằm phát triển nguồn

nhân lực có trình độ cao.

Trong lĩnh vực mơi trường, nguồn vốn ODA đã được sử dụng cho công

tác quản lý tài nguyên thiên nhiên, quản lý rủi ro thiên tai, trồng rừng và quản lý

nguồn nước, cải thiện môi trường ở các thành phố và các khu dân cư tập trung,

các khu công nghiệp. Đặc biệt, đứng trước thách thức của biến đổi khí hậu tồn

cầu, nguồn vốn ODA đã được huy động để hỗ trợ thực hiện Chương trình mục

tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu.

Trong quá trình thực hiện các chương trình, dự án ODA, nhiều kinh

nghiệm quản lý tiên tiến, các tiến bộ về khoa học công nghệ được chuyển giao,

phổ biến và áp dụng rộng rãi, đặc biệt trong các ngành xây dựng, giao thông,

thủy lợi, công nghiệp, năng lượng điện, phát triển công nghiệp và nông thôn, y

tế, giáo dục, cải cách hành chính cơng, tăng cường năng lực cạnh tranh và hội

nhập quốc tế,…

Ngoài ra, nguồn vốn ODA cũng đã được sử dụng trực tiếp hoặc lồng ghép

trong các chương trình, dự án để hỗ trợ giải quyết các vấn đề có tính chất xun

suốt như bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ, các chính sách an sinh xã

hội,…

Thứ tư, Nguồn vốn ODA hỗ trợ phát triển các địa phương

Các chương trình và dự án ODA đã hỗ trợ phát triển nhiều cơ sở hạ tầng

thiết yếu cho các tỉnh, thành phố trên các lĩnh vực như giao thơng, cấp thốt

nước và vệ sinh mơi trường đơ thị, trường học, bệnh viện, phát triển nông

nghiệp và nông thơn kết hợp với xóa đói, giảm nghèo, tăng cường năng lực cho

chính quyền địa phương. Trong điều kiện ngân sách hạn hẹp, nguồn vốn ODA

đã thực sự là nguồn bổ sung quan trọng cho việc thực hiện các mục tiêu phát

triển của các địa phương .

Vốn ODA thu hút vào các tỉnh nghèo, khó khăn về kinh tế, thường gánh

chịu hậu quả của thiên tai đã được cải thiện đáng kể nhờ có việc tăng cường

41



cơng tác điều phối viện trợ của Chính phủ cũng như sự nỗ lực của các Bộ, ngành

và địa phương.

Trong giai đoạn mới ODA đã tiếp cận được tới các vùng xâu, vùng xa các

vùng khó khăn để hỗ trự địa phương phát triển kinh tế, năng lực cạnh tranh, đời

sống...

Thứ năm, Nguồn vốn ODA góp phần phát triển và tăng cường năng lực

con người

Thơng qua các chương trình và dự án ODA, nhất là các dự án hỗ trợ kỹ

thuật, đội ngũ cán bộ, công chức ở các ngành, các cấp trên nhiều lĩnh vực (quản

lý kinh tế, quản lý đô thị, tài chính, ngân hàng, hải quan, mơi trường, nơng

nghiệp và phát triển nông thôn,…) đã được đào tạo và đào tạo lại để thích ứng

với những yêu cầu của thời kỳ chuyển tiếp sang nền kinh tế thị trường. Thông

qua việc tiếp nhận và thực hiện nguồn vốn ODA, Việt Nam đã hình thành một

đội ngũ cán bộ có kinh nghiệm về kinh tế đối ngoại, hiểu biết sâu sắc các thông

lệ quốc tế tại các cơ quan quản lý nhà nước về ODA và các Bộ, tỉnh, thành phố

lớn. Một đội ngũ đông đảo cán bộ ở nhiều ngành, địa phương, các đơn vị tư vấn,

các đơn vị thụ hưởng đã được đào tạo, tích lũy kinh nghiệm và thơng lệ quốc tế

trong nhiều lĩnh vực như lĩnh vực quản lý dự án, đấu thầu, phát triển cộng đồng,



Thứ sáu, Nguồn vốn ODA góp phần phát triển thương mại và đầu tư, tăng

cường năng lực cạnh tranh quốc gia

Trong thời kỳ chuẩn bị gia nhập WTO, cũng như hậu WTO, ODA đã hỗ

trợ các cơ quan hữu quan Việt Nam chuẩn bị và đàm phán với các đối tác về

việc gia nhập tổ chức này, cũng như triển khai thực hiện các hoạt động hội nhập

quốc tế sâu rộng trong bối cảnh là nước thành viên của WTO.

Những cơng trình hạ tầng kinh tế đầu tư bằng nguồn vốn ODA như các

đường quốc lộ, cảng biển, cầu, sân bay,… đã có tác động lan tỏa, kéo theo sự

phát triển các khu công nghiệp, gia tăng trao đổi thương mại giữa các vùng

42



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương 2. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THU HÚT VÀ SỬ DỤNG NGUỒN VỐN ODA CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2010 - 2015

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×