Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THU HÚT VÀ SỬ DỤNG NGUỒN HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC (ODA)

Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THU HÚT VÀ SỬ DỤNG NGUỒN HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC (ODA)

Tải bản đầy đủ - 0trang

hiện thơng qua việc cung cấp từ phía các nhà tài trợ các khoản viện trợ khơng

hồn lại, vay ưu đãi về lãi suất và thời hạn thanh toán.

Theo chương trình phát triển của Liên Hợp Quốc: ODA là viện trợ khơng

hồn lại hoặc là cho vay ưu đãi của các tổ chức nước ngồi, với phần viện trợ

khơng hồn lại chiếm ít nhất 25% giá trị của khoản vốn vay.

Một cách khái quát, ODA là các khoản viện trợ khơng hồn lại, có hồn

lại hoặc tín dụng có ưu đãi (về lãi suất thời gian ân hạn và trả nợ) của các cơ

quan chính thức thuộc các nước và các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính

phủ (NGO) cho các nước đang phát triển hoặc chậm phát triển. Một khoản tài

trợ được coi là ODA nếu đáp ứng đầy đủ 3 điều kiện:

Một là: Được các tổ chức chính thức hoặc đại diện của các tổ chức chính

thức cung cấp. Tổ chức chính thức bao gồm các nhà nước mà đại diện là Chính

phủ, các tổ chức liên chính phủ hoặc liên quốc gia, và các tổ chức phi chính phủ

hoạt động khơng vì mục tiêu lợi nhuận.

Hai là: Mục tiêu chính là giúp các nước đang phát triển (ĐPT) phát triển

kinh tế, nâng cao phúc lợi xã hội. Các lĩnh vực được ưu tiên sử dụng vốn ODA

bao gồm: Xố đói, giảm nghèo, nơng nghiệp và phát triển nông thôn; cơ sở hạ

tầng kinh tế kỹ thuật như giao thông vận tải, thông tin liên lạc, năng lượng; cơ

sở hạ tầng xã hội như giáo dục, y tế, bảo vệ môi trường; các vấn đề xã hội như

tạo việc làm, phòng chống dịch bệnh, phòng chống các tệ nạn xã hội; cải cách

hành chính, tư pháp, tăng cường năng lực của cơ quan quản lý nhà nước, cải

cách thể chế…

Ba là: Thành tố hỗ trợ (Grant element - GE) phải đạt ít nhất 25%. Thành

tố hỗ trợ, còn được gọi là yếu tố khơng hồn lại là một chỉ số biểu hiện tính “ưu

đãi” của ODA so với các khoản vay thương mại theo điều kiện thị trường.

1.1.3. Các hình thức

 Hỗ trợ cán cân thanh tốn: Thường là tài trợ trực tiếp thơng qua chuyển

giao tiền tệ. Nhưng đôi khi lại là hiện vật (hỗ trợ hàng hoá) như hỗ trợ nhập



8



khẩu bằng hàng hoặc vận chuyển hàng hố vào trong nước qua hình thức hỗ trợ

cán cân thanh tốn hoặc có thể chuyển hố thành hỗ trợ ngân sách.

 Tín dụng thương mại: Với các điều khoản "mềm" (lãi suất thấp, hạn trả

dài) trên thực tế là một dạng hỗ trợ hàng hố có ràng buộc.

 Viện trợ chương trình (gọi tắt là viện trợ phi dự án): là viện trợ khi đạt

được một hiệp định với đối tác viện trợ nhằm cung cấp một khối lượng ODA

cho một mục đích tổng quát với thời hạn nhất định, mà khơng xác định một cách

chính xác nó sẽ được sử dụng như thế nào.

 Hỗ trợ cơ bản: chủ yếu là về xây dựng cơ sở hạ tầng. Thơng thường, các

dự án này có kèm theo một bộ phận không viện trợ kỹ thuật dưới dạng thuê

chuyên gia nước ngoài để kiểm tra những hoạt động nhất định nào đó hoặc để

soạn thảo, xác nhận các báo cáo cho đối tác viện trợ.

 Hỗ trợ kỹ thuật: chủ yếu tập trung vào chuyển giao tri thức hoặc tăng

cường cơ sở lập kế hoạch, cố vấn nghiên cứu tình hình cơ bản, nghiên cứu khi

đầu tư. Chuyển giao tri thức có thể là chuyển giao cơng nghệ như thường lệ

nhưng quan trọng hơn là đào tạo về kỹ thuật, phân tích kinh tế, quản lý, thống

kê, thương mại, hành chính nhà nước, các vấn đề xã hội.

1.1.4. Phân loại

1.1.4.1. Phân theo phương thức hoàn trả: ODA có 3 loại.





Viện trợ khơng hồn lại: bên nước ngồi cung cấp viện trợ (mà bên nhận



khơng phải hồn lại) để bên nhận thực hiện các chương trình, dự án theo sự thoả

thuận trước giữa các bên.

Viện trợ khơng hồn lại thường được thực hiện dưới các dạng:

+ Hỗ trợ kỹ thuật.

+ Viện trợ nhân đạo bằng hiện vật.





Viện trợ có hồn lại: nhà tài trợ cho nước cần vốn vay một khoản tiền (tuỳ



theo một quy mô và mục đích đầu tư) với mức lãi suất ưu đãi và thời gian trả nợ

thích hợp.

9



Những điều kiện ưu đãi thường là:

+ Lãi suất thấp (tuỳ thuộc vào mục tiêu vay và nước vay).

+ Thời hạn vay nợ dài (từ 20 - 30 năm)

+ Có thời gian ân hạn (từ 10 - 12 năm)





ODA cho vay hỗn hợp: là các khoản ODA kết hợp một phần ODA khơng



hồn lại và một phần tín dụng thương mại theo các điều kiện của tổ chức Hợp

tác kinh tế và phát triển.

1.1.4.2. Nếu phân loại theo nguồn cung cấp





ODA song phương: Là các khoản viện trợ trực tiếp từ nước này đến nước



kia thông qua hiệp định được ký kết giữa hai Chính phủ.

+ Các nước thành viên Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV, CMEA). Trước đây là

Liên Xô cũ, và các nước Đông Âu

+ Các nước thuộc tổ chức OECD: gồm 24 nước thành viên, là những nước công

nghiệp phát triển, những nước xuất khẩu tư bản: Anh, Áo, Bỉ, Bồ Đào Nha,

Canada, Đan Mạch, Đức, Hà Lan, Mỹ, Nhật Bản, Newzealand, Na Uy, Pháp,

Phần Lan, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Thụy Sĩ…

+ Các nước đang phát triển: Ấn Độ, Trung Quốc, Đài Loan, Thái Lan,





ODA đa phương: là viện trợ chính thức của các tổ chức thuộc hệ thống



Liên Hợp Quốc, Liên minh Châu Âu, các tổ chức phi chính phủ (NGOs) và các

tổ chức tài chính quốc tế.

+ Các tổ chức thuộc Liên Hợp Quốc (UN):

Hầu hết viện trợ của các tổ chức thuộc hệ thống Liên Hợp Quốc (UNDP,

UNESCO, UNICEF, WEP,...) đều được thực hiện dưới hình thức viện trợ khơng

hồn lại, ưu tiên cho các nước đang phát triển có thu nhập thấp và khơng ràng

buộc về các điều kiện chính trị nặng nề. Viện trợ thường tập trung cho các nhu

cầu có tính chất xã hội như xố đói giảm nghèo, y tế, giáo dục, văn hố- xã hội,

sức khoẻ- dân số, bảo vệ môi trường...

+ Liên minh Châu Âu (EU):

10



Liên minh Châu Âu là tổ chức có tính chất kinh tế xã hội của 15 nước cơng

nghiệp phát triển ở Châu Âu, EU có quỹ lớn, song chủ yếu ưu tiên viện trợ cho

các thuộc địa cũ ở Châu Phi, Nam Thái Bình Dương. Những lĩnh vực mà EU coi

trọng là dân số, bảo vệ môi trường, phát triển dịch vụ, phát triển nguồn nhân lực,

xoá đói giảm nghèo.

+ Các tổ chức phi chính phủ (NGOs - Non Governmental Organizations):

Trên thế giới hiện có hàng trăm tổ chức NGOs hoạt động theo các tơn chỉ,

mục đích khác nhau: nhân đạo, tri thức, y tế, tôn giáo. Các tổ chức phi chính phủ

thường có số vốn nhỏ, chủ yếu dựa vào nguồn quyên góp hoặc nhờ sự tài trợ của

các chính phủ, thường muốn hoạt động giữa các cá nhân với cá nhân của nước

viện trợ và các nước nhận viện trợ. Quy mô viện trợ thường nhỏ, khả năng cung

cấp viện trợ và thực hiện viện trợ thay đổi tuỳ từng thời kỳ nhưng thủ tục viện

trợ thường đơn giản, thực hiện lại nhanh.

+ Các tổ chức tài chính quốc tế: Ngân hàng thế giới (WB - World Bank),

Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB - Asian Development Bank), Quỹ tiền tệ

quốc tế (IMF- International Monetary Fund).

1.1.4.3. Phân loại theo điều kiện





ODA không ràng buộc: Là việc sử dụng nguồn tài trợ không bị ràng buộc



bởi nguồn sử dụng hay mục đích sử dụng.





ODA có ràng buộc:



+ Ràng buộc bởi nguồn sử dụng: Có nghĩa là nguồn ODA được cung cấp dành

để mua sắm hàng hoá, trang thiết bị hay dịch vụ chỉ giới hạn cho một số công ty

do nước tài trợ sở hữu hoặc kiểm sốt (đối với viện trợ song phương), hoặc cơng

ty của các nước thành viên (đối với viện trợ đa phương).

+ Ràng buộc bởi mục đích sử dụng: Nghĩa là nước nhận viện trợ chỉ được cung

cấp nguồn vốn ODA với điều kiện là phải sử dụng nguồn vốn này cho những

lĩnh vực nhất định hay những dự án cụ thể.



11







ODA ràng buộc một phần: Nước nhận viện trợ phải dành một phần ODA



chi ở nước viện trợ (như mua sắm hàng hoá hay sử dụng các dịch vụ của nước

cung cấp ODA), phần còn lại có thể chi ở bất cứ đâu.

1.1.5 Đặc điểm của ODA

1.1.5.1. Tính ưu đãi của nguồn vốn ODA:

- Vốn ODA có thời gian cho vay (hoàn trả vốn), thời gian ân hạn dài.

Chẳng hạn, vốn ODA của WB, ADB, JBIC có thời gian hồn trả là 40 năm và

thời gian ân hạn là 10 năm.

- Thơng thường, trong ODA có thành tố viện trợ khơng hồn lại (cho

khơng), đây cũng chính là điểm phân biệt giữa viện trợ và cho vay thương

mại. Thành tố cho không được xác định dựa vào thời gian cho vay, thời gian

ân hạn và so sánh lãi suất viện trợ với mức lãi suất tín dụng thương mại

- Sự ưu đãi còn thể hiện ở chỗ vốn ODA chỉ dành riêng cho các nước

đang và chậm phát triển, vì mục tiêu phát triển. Có hai điều kiện cơ bản nhất

để các nước đang và chậm phát triển có thể nhận được ODA là:

+ Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) bình qn đầu người thấp. Nước có

GDP bình qn đầu người càng thấp thì thường được tỷ lệ viện trợ khơng

hồn lại của ODA càng lớn và khả năng vay với lãi suất thấp và thời hạn ưu

đãi càng lớn.

+ Mục tiêu sử dụng vốn ODA của các nước này phải phù hợp với chính

sách và phương hướng ưu tiên xem xét trong mối quan hệ giữa bên cấp và

bên nhận ODA. Thông thường các nước cung cấp ODA đều có những chính

sách và ưu tiên riêng của mình, tập trung vào một số lĩnh vực mà họ quan

tâm hay có khả năng kỹ thuật và tư vấn. Đồng thời, đối tượng ưu tiên của

các nước cung cấp ODA cũng có thể thay đổi theo từng giai đoạn cụ thể.

Về thực chất, ODA là sự chuyển giao có hồn lại hoặc khơng hồn lại

trong những điều kiện nhất định một phần tổng sản phẩm quốc dân từ các

nước phát triển sang các nước đang phát triển. Do vậy, ODA rất nhạy cảm về

mặt xã hội và chịu sự điều chỉnh của dư luận xã hội từ phía nước cung cấp

12



cũng như từ phía nước tiếp nhận ODA.

1.1.5.2. Tính ràng buộc của nguồn vốn ODA:

ODA có thể ràng buộc (hoặc ràng buộc một phần hoặc không ràng

buộc) nước nhận về địa điểm chi tiêu. Ngoài ra mỗi nước cung cấp viện trợ

cũng đều có những ràng buộc khác và nhiều khi các ràng buộc này rất chặt

chẽ đối với nước nhận. Tính ràng buộc này được thể hiện cụ thể như sau:

- ODA gắn liền với yếu tố chính trị: Mục tiêu thứ nhất của các nước phát

triển đó là: sử dụng ODA như một cơng cụ chính trị xác định vị trí ảnh hưởng

của mình tại nước hoặc khu vực tiếp nhận ODA. Một số nước, tiêu biểu là Mỹ

đã dùng ODA làm công cụ thực hiện ý đồ “Gây ảnh hưởng chính trị trong thời

gian ngắn”. Các nước này một mặt dùng viện trợ để bày tỏ sự gần gũi tiến đến

thân thiết về mặt chính trị, mặt khác tiếp cận với các quan chức cao cấp của các

nước đang phát triển mở đường cho hoạt động ngoại giao trong tương lai. Qua

đó, họ “lái” các nước này chấp nhận một lập trường nào đó trong ngoại giao,

đồng thời can thiệp vào sự phát triển chính trị của nước đang phát triển. Viện trợ

kinh tế cũng là thủ đoạn chính trong việc tiến hành thâm nhập văn hố, tư tưởng

đối với nước nhận viện trợ.

- ODA gắn với điều kiện kinh tế: Bên cạnh yếu tố chính trị, các nhà tài

trợ còn sử dụng ODA để mưu cầu kinh tế. Bỉ và Đan Mạch yêu cầu khoảng 50%

viện trợ phải mua hàng hóa dịch vụ của mình, Canada u cầu cao nhất tới 65%;

Thụy Sĩ 1,7%; Hà Lan 2,2%. Nhìn chung 22% viện trợ của DAC phải được sử

dụng để mua hàng hoá của các quốc gia viện trợ. Bản thân các nước phát triển

nhìn thấy lợi ích của mình trong việc hỗ trợ, giúp đỡ các nước đang phát triển để

mở mang thị trường tiêu thụ sản phẩm và thị trường đầu tư. Nhật Bản là một

minh chứng đầy đủ về việc sử dụng ODA như là một công cụ ngoại giao lợi hại.

Nhật Bản là một quốc gia nghèo về tài nguyên thiên nhiên, họ lựa chọn con

đường phát triển kinh tế bằng việc đẩy mạnh xuất khẩu. Do vậy, Nhật Bản rất

cần mở rộng thị trường ra nước ngoài để thúc đẩy sản xuất trong nước. Các

nước Châu Á, đặc biệt là khu vực Đông Nam Á đã thực sự hấp dẫn Nhật Bản về

thị trường tiêu thụ hàng hoá sản phẩm và thị trường đầu tư. Khu vực này có vị

13



trí địa lý thuận lợi, nguồn lao động dồi dào và rẻ mạt, tài nguyên thiên nhiên

phong phú, không quá xa Nhật Bản, về văn hố có nhiều nét tương đồng. Thơng

qua bồi thường chiến tranh, Nhật Bản đã bình thường hố quan hệ ngoại giao

với các nước Đông Nam Á. Thời kỳ này, viện trợ của Nhật Bản chủ yếu là hàng

hóa, đây là cách tốt nhất để giới thiệu hàng hoá, dịch vụ của Nhật ra nước ngoài.

Từng bước Nhật Bản đã biến Đông Nam Á thành thị trường tiêu thụ sản phẩm

hết sức an tồn cho mình. Đồng thời thơng qua ODA và các điều kiện ràng buộc,

các công ty của Nhật có được những hợp đồng béo bở, có được những cơ hội

đầu tư ưu đãi. Trong cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ năm 1997, Nhật Bản đã

có một quyết định quan trọng trong việc trợ giúp các nước Đông Nam Á, là nơi

chiếm tỷ lệ tương đối về mậu dịch và đầu tư của Nhật. Nhật Bản đã nhận gánh

vác một phần cuộc khủng hoảng kinh tế Châu Á bằng kế hoạch trợ giúp do Bộ

trưởng tài chính Nhật Kiichi Miyazawa đề xuất vào tháng 10 năm 1998. Theo

đó, Nhật Bản sẽ dành 15 tỷ USD tiền mặt cho các nhu cầu vốn ngắn hạn, chủ

yếu là lãi suất thấp và tính bằng đồng Yên và dành 15 tỷ USD cho mậu dịch và

đầu tư có nhân nhượng trong vòng 3 năm. Tính đến đầu năm 1999, những nước

được Nhật công bố dành cho sự trợ giúp này gồm có: Indonesia, Malaysia, Thái

Lan, Philipines và Hàn Quốc. Các khoản viện trợ nói trên được thực hiện vì lợi

ích của hai bên, cứu nền kinh tế khu vực để làm sống lại nền kinh tế Nhật Bản.

Các khoản vay này được tính bằng đồng Yên và gắn với các dự án do Công ty

Nhật tham gia.

Như vậy viện trợ của các nước phát triển không chỉ đơn thuần là sự trợ

giúp vơ tư, mà còn là một cơng cụ lợi hại để kiếm lời cả về kinh tế và tài chính

cho nước tài trợ. Những nước cấp viện trợ gò ép các nước nhận phải thay đổi

chính sách phát triển cho phù hợp với lợi ích của bên viện trợ. Khi nhận viện trợ

các nước cần cân nhắc kỹ lưỡng các điều kiện của các nhà tài trợ. Khơng vì lợi

ích trước mắt mà đánh mất những quyền lợi lâu dài. Quan hệ hỗ trợ phát triển

chính thức phải đảm bảo tơn trọng tồn vẹn lãnh thổ của nhau, bình đẳng cùng

có lợi, chung sống hồ bình.

1.1.5.3. ODA là nguồn vốn có khả năng gây nợ

14



Khi tiếp nhận và sử dụng nguồn vốn ODA do tính chất ưu đãi nên

gánh nặng nợ thường chưa xuất hiện. Một số nước do khơng sử dụng hiệu

quả ODA có thể tạo nên sự tăng trưởng nhất thời nhưng sau một thời gian lại

lâm vào vòng nợ nần do khơng có khả năng trả nợ. Vấn đề là ở chỗ vốn

ODA khơng có khả năng đầu tư trực tiếp cho sản xuất, nhất là cho xuất khẩu

trong khi việc trả nợ lại dựa vào xuất khẩu thu ngoại tệ. Do đó, trong khi

hoạch định chính sách sử dụng ODA phải phối hợp với các nguồn vốn để tăng

cường sức mạnh kinh tế và khả năng xuất khẩu.

1.1.6. Vai trò của ODA

ODA thể hiện mối quan hệ đối ngoại giữa hai bên cung cấp và bên tiếp

nhận. Tuy vậy, đối với mỗi bên nó sẽ mang một ý nghĩa khác nhau, bao gồm cả

mặt thuận lợi và bất lợi.

1.1.6.1. Đối với nhà tài trợ

Viện trợ song phương tạo điều kiện cho các công ty của bên cung cấp hoạt

động thuận lợi hơn tại các nước nhận viện trợ một cách gián tiếp. Cùng với sự

gia tăng của vốn ODA, các dự án đầu tư của những nước viện trợ cũng tăng theo

với những điều kiện thuận lợi, đồng thời kéo theo sự gia tăng về bn bán giữa

hai quốc gia. Ngồi ra, nước viện trợ còn đạt được những mục đích về chính trị,

ảnh hưởng của họ về mặt kinh tế và văn hoá đối với nước nhận cũng sẽ tăng lên.

Nguồn ODA đa phương mặc dù cũng có ưu điểm giúp các nước tiếp nhận

khơi phục và phát triển kinh tế, nhưng nó cũng có mặt tiêu cực ở chỗ dễ tạo ra

nạn tham nhũng trong các quan chức Chính phủ hoặc phân phối giàu nghèo

trong các tầng lớp dân chúng nếu khơng có những chính sách kiểm sốt và quản

lý chặt chẽ việc sử dụng nguồn vốn này trong nước. Điều nguy hiểm nhất có thể

xảy ra của viện trợ ODA là các nước cung cấp không nhằm cải tạo nền kinh tế xã hội của nước đang phát triển mà nhằm vào các mục đích chính trị.



1.1.6.2. Đối với các nước tiếp nhận





Tác động tích cực

15



Tầm quan trọng của ODA đối với các nước đang và kém phát triển là điều

không thể phủ nhận. Điều này được thể hiện rõ qua những thành công mà các

nước tiếp nhận ODA đã đạt được.

Đầu tiên, trong khi các nước đang phát triển đa phần là trong tình trạng

thiếu vốn trầm trọng nên thơng qua ODA song phương có thêm vốn để phục vụ

cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội. ODA mang lại nguồn lực cho đất nước.

ODA là nguồn vốn bổ sung giúp cho các nước nghèo đảm bảo chi đầu tư phát

triển, giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước. Vốn ODA với đặc tính ưu việt là

thời hạn cho vay dài thường là 10 - 30 năm, lãi suất thấp khoảng từ 0,25% đến

2%/năm. Chỉ có nguồn vốn lớn với điều kiện cho vay ưu đãi như vậy Chính phủ

các nước ĐPT mới có thể tập trung đầu tư cho các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng

kinh tế như đường sá, điện, nước, thuỷ lợi và các hạ tầng xã hội như giáo dục, y

tế. Những cơ sở hạ tầng KTXH được xây dựng mới hoặc cải tạo nhờ nguồn vốn

ODA là điều kiện quan trọng thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế của các nước

nghèo.

Thứ nữa, theo các nhà kinh tế, việc sử dụng viện trợ ở các nước đang phát

triển nhằm loại bỏ sự thiếu vốn và ngoại tệ, tăng đầu tư vốn.

Tạo điều kiện để các nước tiếp nhận có thể vay thêm vốn của các tổ chức

quốc tế, thực hiện việc thanh toán nợ tới hạn qua sự giúp đỡ của ODA.

ODA là nguồn bổ sung ngoại tệ và làm lành mạnh cán cân thanh toán quốc

tế của các nước ĐPT. Đa phần các nước ĐPT rơi vào tình trạng thâm hụt cán cân

vãng lai, gây bất lợi cho cán cân thanh toán quốc tế của các quốc gia này. ODA,

đặc biệt các khoản trợ giúp của IMF có chức năng làm lành mạnh hoá cán cân

vãng lai cho các nước tiếp nhận, từ đó ổn định đồng bản tệ.

ODA còn có thể giúp các nước đang lâm vào tình trạng phá giá đồng nội tệ

có thể phục hồi đồng tiền của nước mình thơng qua những khoản hỗ trợ lớn của

các tổ chức tài chính quốc tế mang lại.



16



ODA giúp các nước nhận hỗ trợ tạo ra những tiền đề đầu tiên, đặt nền

móng cho sự phát triển về lâu dài thơng qua lĩnh vực đầu tư chính của nó là nâng

cấp cơ sở hạ tầng về kinh tế.

ODA tác động tích cực đến phát triển kinh tế xã hội của các địa phương và

vùng lãnh thổ, đặc biệt là ở các thành phố lớn: nguồn vốn này trực tiếp giúp cải

thiện điều kiện về vệ sinh y tế, cung cấp nước sạch, bảo vệ mơi trường. Đồng

thời nguồn ODA cũng góp phần tích cực trong việc phát triển cơ sở hạ tầng nơng

thơn, phát triển nơng nghiệp, xố đói giảm nghèo...

ODA giúp các doanh nghiệp nhỏ trong nước có thêm vốn, tạo điều kiện

nâng cao hiệu quả đầu tư cho sản xuất kinh doanh, dần dần mở rộng qui mơ

doanh nghiệp.

Ngồi ra ODA còn giúp các nước nhận viện trợ có cơ hội để nhập khẩu

máy móc thiết bị cần thiết cho q trình cơng nghiệp hố - hiện đại hố đất

nước, từ các nước phát triển. Thông qua nước cung cấp ODA nước nhận viện trợ

có thêm nhiều cơ hội mới để tham gia vào các tổ chức tài chính thế giới, đạt

được sự giúp đỡ lớn hơn về vốn từ các tổ chức này.

ODA giúp các nước ĐPT tăng cường năng lực và thể chế thơng qua các

chương trình, dự án hỗ trợ công cuộc cải cách pháp luật, cải cách hành chính và

xây dựng chính sách quản lý kinh tế phù hợp với thông lệ quốc tế.

ODA giúp các nước ĐPT phát triển nguồn nhân lực, bảo vệ môi trường.

Một lượng ODA lớn được các nhà tài trợ và các nước tiếp nhận ưu tiên dành cho

đầu tư phát triển giáo dục, đào tạo, nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của

lĩnh vực này, tăng cường một bước cơ sở vật chất kỹ thuật cho việc dạy và học

của các nước ĐPT. Bên cạnh đó, một lượng ODA khá lớn cũng được dành cho

các chương trình hỗ trợ lĩnh vực y tế, đảm bảo sức khoẻ cộng đồng. Nhờ có sự

tài trợ của cộng đồng quốc tế, các nước ĐPT đã gia tăng đáng kể chỉ số phát

triển con người của quốc gia mình.





Tác động tiêu cực



17



Bên cạnh những mặt tích cực, ODA cũng có khơng ít những mặt hạn chế.

Hạn chế rõ nhất của viện trợ phát triển chính thức ODA là các nước nếu muốn

nhận được nguồn vốn này phải đáp ứng các yêu cầu của bên cấp viện trợ. Mức

độ đáp ứng càng cao thì viện trợ tăng lên càng nhiều.

Ngay ở trong một nước, tình trạng tập trung ODA vào các thành phố trọng

điểm cũng tạo nên sự mất cân đối trong cơ cấu kinh tế-xã hội của quốc gia đó,

làm cho hố ngăn cách giàu nghèo thành thị và nông thôn càng trở nên cách biệt.

Cho đến nay, mặc dù bối cảnh quốc tế đã có nhiều biến đổi, song mục tiêu

và lợi ích của các nước cấp vốn theo đuổi hầu như không thay đổi so với trước

đây: tập trung cho an ninh của hệ thống TBCN, tuyên truyền dân chủ kiểu

phương Tây, trói buộc sự phát triển kinh tế của các quốc gia phụ thuộc thế giới

thứ ba vào trong một trật tự tự do mà các trung tâm tự bản đã sắp đặt khuyến

khích tự do hố kinh tế để mở đường cho tư bản nước ngoài tràn vào...

1.2. Cơ sở lý luận về thu hút, quản lý và sử dụng ODA

1.2.1. Nguyên tắc thu hút, quản lý và sử dụng ODA

- ODA và vốn vay ưu đãi là nguồn vốn thuộc ngân sách nhà nước được sử

dụng để thực hiện các mục tiêu ưu tiên phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

và được phản ánh trong ngân sách Nhà nước theo quy định của pháp luật.

- Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về ODA và vốn vay ưu đãi trên

cơ sở phân cấp gắn với trách nhiệm, quyền hạn, năng lực quản lý và tính chủ

động của các ngành, các cấp; bảo đảm sự phối hợp quản lý, kiểm tra và giám sát

chặt chẽ của các cơ quan liên quan.

- Việc thu hút, quản lý và sử dụng ODA và vốn vay ưu đãi phải được xem

xét, cân đối và lựa chọn trong tổng thể các nguồn vốn đầu tư phát triển nhằm đạt

hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất, bền vững, bảo đảm ngun tắc bình đẳng,

cơng bằng, khả năng hấp thụ vốn, khả năng trả nợ và an toàn nợ cơng, trong đó

ưu tiên sử dụng nguồn vốn vay ưu đãi cho các chương trình, dự án có khả năng

thu hồi vốn trực tiếp.



18



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THU HÚT VÀ SỬ DỤNG NGUỒN HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC (ODA)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×