Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Tải bản đầy đủ - 0trang

DANH MỤC CÁC BẢNG



Bảng 2.1. Tình hình cam kết, ký kết, giải ngân ODA giai đoạn 1993 -2012

33

Bảng 2.2. Tình hình ký kết các hiệp định ODA tính đến tháng 11/2014............35

Bảng 2.3. Điều kiện vay vốn của một số nhà tài trợ chủ yếu...................................44



DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1. Cam kết của các nhà tài trợ từ năm 2010 – 2012................................32

Hình 2.2. Cơ cấu ODA ký kết theo ngành, lĩnh vực năm 2014...........................34

Hình 2.3. Cam kết, ký kết và giải ngân vốn ODA thời kỳ 2010 - 2014...............36



ii



MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, vốn đầu tư cho phát triển là một

trong những yếu tố quyết định đến sự thành công hay thất bại của mỗi quốc gia.

Đối với Việt Nam, một quốc gia có nền kinh tế chịu ảnh hưởng nặng nề bởi

chiến tranh, các nguồn lực trong nước hạn chế, tích lũy chưa cao, việc thu hút

các nguồn vốn đầu tư để thực hiện q trình cơng nghiệp hóa - hiện đại hóa trở

thành chiến lược quan trọng của nền kinh tế. Bên cạnh các nguồn vốn đầu tư

trực tiếp trong, ngồi nước thì vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) của các tổ

chức quốc tế, các nước phát triển là một kênh cấp vốn quan trọng cho sự nghiệp

phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam.

Việt Nam chính thức được nhận nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức

của của rất nhiều nhà tài trợ song phương, đa phương, các tổ chức phi chính

phủ, các quốc gia từ năm 1993. Sau hơn 20 năm thực hiện ODA đã phần nào

đáp ứng được nhu cầu bức thiết về vốn trong cơng cuộc Cơng nghiệp hóa – hiện

đại hóa đất nước, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phát triển bền vững và

xóa đói giảm nghèo. Việt Nam ln được các nhà tài trợ đánh giá là điểm sáng

trong thu hút, sử dụng ODA và nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ của cộng đồng

các nhà tài trợ trên thế giới.

Tuy nhiên, trong nhiều năm gần đây, do ảnh hưởng của suy thối kinh tế

tồn cầu, sự đóng góp của các nhà tài trợ có sự giảm sút so với thời gian trước.

Việc quản lý và sử dụng ODA phát sinh nhiều bất cập như thời gian giải ngân

chậm, lãng phí, sử dụng sai mục đích, tham nhũng gây mất lòng tin đối với nhà

tài trợ. Bên cạnh đó, năm 2010, Việt Nam trở thành nước có thu nhập trung bình

vì vậy một số nhà tài trợ sẽ cắt giảm nguồn tài trợ này hoặc cắt giảm các điều

kiện ưu tiên đối với Việt Nam. Ngoài ra, việc sử dụng ODA nhiều ưu đãi ln có

các điều kiện ràng buộc đi kèm, đó là sự chi phối về kinh tế, chính trị và xã hội.

Câu hỏi đặt ra là: “Thực trạng thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA của Việt Nam

thời gian qua như thế nào? Việt Nam sẽ làm gì để tiếp tục có được nguồn vốn

này trong thời gian tới?”

1



Xuất phát từ yêu cầu trên, đề tài “Thu hút và sử dụng ODA ở Việt Nam

giai đoạn 2010 -2015. Thực trạng và giải pháp” được lựa chọn nghiên cứu làm

luận văn tốt nghiệp.

2. Tình hình nghiên cứu

Hiện nay có rất nhiều đề tài nghiên cứu, bài tham luận, bài viết trên các

tạp chí về nguồn vốn Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA). Các nghiên cứu tập

trung nêu lên các vấn đề về tình hình của thu hút và quản lý sử dụng ODA, các

giải pháp để nâng cao hiệu quả của ODA. Cụ thế:

Tác giả Lê Đăng Doanh (2014) đã nêu lê sự cần thiết phải thay đổi nhận

thức về ODA trong bài nghiên cứu “Đổi mới nhận thức về ODA”. Theo nhà

nghiên cứu “Vốn ODA chủ yếu là vốn tín dụng, hồn tồn khơng phải là viện trợ

khơng hồn lại” hay “tiền chùa” như vẫn bị cố ý hiểu lầm trong một bộ phận

không nhỏ cán bộ và dân chúng. Sau khi Việt Nam gia nhập nhóm thấp nhất

trong những nước có thu nhập trung bình thì điều kiện ưu đãi giảm đi, điều kiện

vay và trả nợ cũng khắc nghiệt hơn. Những hệ lụy này của ODA còn chưa được

làm rõ trong cơng luận, trong khi căn bệnh “nghiện ODA” gắn liền với lợi ích

nhóm, tư duy nhiệm kỳ thành tích chủ nghĩa đã và đang khiến số cơng trình sử

dụng vốn ODA xuất hiện quá nhiều và liên tục nối nhau dẫn tới tình trạng giải

phóng mặt bằng khơng triển khai kịp, vốn đối ứng khơng có đủ, khiến các cơng

trình chậm hoàn thành, kém hiệu quả.

Tác giả Hoàng Xuân Trung đã chỉ ra kinh nghiệm thu hút và quản lý ODA

của EU tại các nước Châu Á trong bài viết “Kinh nghiệm thu hút sử dụng vốn

ODA EU tại các nước Châu Á” đăng tải trên tạp chí Nghiên cứu Châu Âu số 6

(93) năm 2008. Trong quản lý ODA, Trung Quốc đặc biệt đề cao vai trò quản lý

và giám sát của Bộ Tài Chính và Ủy ban Cải cách và Phát triển Quốc gia dựa

trên nguyên tắc “ai hưởng lợi, người đó trả nợ”. Các quốc gia Châu Á khác như

Thái Lan, Myanmar, Philipines... sử dụng ODA dựa trên quan điểm tận dụng

nguồn vốn huy động từ bên ngoài phát triển kinh tế - xã hội quốc gia, đảm bảo

phát triển bền vững mà không gây tác động xấu tới an ninh tài chính quốc gia.

2



Các quốc gia này đã đạt được những thành công nhất định trong việc sử dụng

nguồn vốn ODA.

Bên cạnh việc nghiên cứu các cách thức giải pháp sử dụng ODA hiệu quả,

các nhà khoa học còn chỉ rõ bản chất của ODA giúp cho các nước nhận viện trợ

hiểu rõ được bên cạnh những lợi ích kinh tế trước mắt còn là những ràng buộc về

chính trị, kinh tế, phát triển bền vững... Mới đây, tờ The Economist đã có một

bài viết dẫn chứng một số kết quả đánh giá tích cực về dòng vốn viện trợ. Theo

đó, nghiên cứu gần đây của hai nhóm nhà kinh tế Sebastian Galiani và Ben Zou

(Đại học Maryland) và Stephen Knack và Colin Xu (Ngân hàng thế giới) sau khi

nghiên cứu dữ liệu của 35 quốc gia đã ước tính rằng cứ mỗi 1% thu nhập của

một quốc gia có được từ vốn viện trợ, tốc độ tăng trưởng kinh tế hằng năm sẽ

tăng thêm khoảng 1/3 điểm phần trăm trong ngắn hạn. Trước đó, vào năm 2011,

nhà kinh tế Markus Brückner thuộc Đại học Adelaide (Úc), ước tính rằng 1%

mức tăng trong vốn viện trợ sẽ nâng tăng trưởng thu nhập bình quân theo đầu

người cũng bằng một con số dương nhưng nhỏ hơn kết quả trên: 0,1 điểm phần

trăm.

Giáo sư Sumi Kazuo, Giáo sư Đại học Yokohama đã nêu rõ vấn đề này

trong cuốn “Sự thật viện trợ ODA”. Theo Giáo sư Sumi Kazuo, nhà tài trợ tạo ra

và duy trì một “nhu cầu viện trợ giả tạo”, hướng đến “lợi nhuận cho doanh

nghiệp Nhật Bản” và “đưa ô nhiễm của Nhật Bản ra nước ngoài”. Hội Điều tra

Nghiên cứu về ODA của Nhật Bản đã đưa ra nhiều phân tích trong cuốn “ODA

– vì cuộc sống của người Nhật Bản”. Cuốn sách đã “vạch trần” bản chất ODA

của Nhật, giúp chúng ta hiểu rằng đằng sau những lời lẽ ngoại giao mỹ miều là

một vũ khí kinh tế đặc biệt mà như các tác giả khẳng định ở mục cuối của cuốn

sách: “Ngày xưa chúng ta dùng chiến tranh, ngày nay chúng ta dùng ODA”. Đã

có một số nghiên cứu khác chứng minh tác đơng tiêu cực của ODA đó là nghiên

cứu của chun gia kinh tế Simeon Djankov (Bulgaria) cho rằng các dòng viện

trợ này tương tự như nguồn tài nguyên trời cho và làm giảm chất lượng của thể

chế nội địa thông qua việc khuyến khích hành vi trục lợi. Thậm chí, một nhà

kinh tế khác người Zambia, bà Dambisa Moyo, sau khi chứng kiến bi kịch của

3



các quốc gia châu Phi khi nhận vốn ODA đã xuất bản một cuốn sách mang tên

“Dead Aid” (tạm dịch: Sự viện trợ chết chóc). Trong đó, cho rằng viện trợ chỉ

khiến các nước nghèo càng nghèo hơn và tăng trưởng chậm hơn vì nó khuyến

khích hành vi tham nhũng, giảm tiết kiệm và đầu tư, gây lạm phát, giảm xuất

khẩu (vì làm tăng giá trị đồng nội tệ) và thậm chí còn dẫn đến nội chiến.

Một phân tích của hai nhà kinh tế Chris Doucouliagos (Đại học Deakin)

và Martin Paldam (Đại học Aarhus) cho thấy hiệu quả ước tính trung bình của

vốn viện trợ đối với tăng trưởng là dương, nhưng quá nhỏ để có thể xem là mang

lại một điều gì đó thực sự có ý nghĩa đáng kể. Thậm chí, có ý kiến cho rằng, các

chính sách thương mại hay cho phép nhập cư tự do hơn còn mang lại kết quả

tích cực hơn nhiều so với vốn viện trợ.

Ở một khía cạnh khác, các kết quả nghiên cứu về vốn ODA cũng có khả

năng thay đổi khi nguồn dữ liệu được mở rộng hơn. Chẳng hạn, vào năm 2000,

một nghiên cứu có nhiều ảnh hưởng để thúc đẩy dòng vốn viện trợ này là nghiên

cứu của hai nhà kinh tế Burnside và Dollar (Ngân hàng Thế giới). Nghiên cứu

này đưa ra kết luận rằng viện trợ chỉ hiệu quả khi nước nhận áp dụng chính sách

tốt.

Chính sách tốt ở đây là chính sách về thặng dự ngân sách, tỉ lệ lạm phát và

độ mở thương mại. Nếu điều kiện này được thỏa mãn, viện trợ sẽ có quan hệ tích

cực và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Không chỉ dừng ở việc nghiên cứu ODA nói chúng, các nhà nghiên cứu

còn đi sâu phân tích ODA trong nhiều lĩnh vực. Nhóm nghiên cứu DFID Bộ Phát

triển Quốc tế Anh, (2004) đã tiến hành Báo cáo về ODA cho nông nghiệp, nông

thôn. Theo nhóm nghiên cứu các dự án trong lĩnh vực này chưa hiệu quả thậm

chí là khơng thành cơng do cơ chế quản lý, điều phối yếu kém. Báo cáo nhận

định trong thời gian tới các nhà tài trợ sẽ chỉ quan tâm đến tính bền vững, chất

lượng và năng suất của các dự án nông nghiệp.

- “Thu hút và sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức : Trường hợp

ngành đường sắt Việt Nam ” của Bùi Thanh Hương – Trường Đại học Kinh Tế 4



Đại Học Quốc Gia Hà Nội (2008), luận văn đã tổng hợp và phân tích chính sách

thu hút ODA ở Việt Nam nói chung và ngành đường sắt nói riêng, làm rõ thực

trạng việc thu hút, quản lý và sử dụng ODA trong ngành đường sắt Việt Nam

trong thời gian từ năm 1995 – 2008, trên cơ sở đó tác giả đưa ra được những giải

pháp khả thi để thu hút và sử dụng có hiệu quả hơn nữa vốn ODA trong ngành

đường sắt Việt Nam trong giai đoạn sau khi Việt Nam ra nhập WTO.

- “ODA của ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) trong ngành Lâm

Nghiệp (nghiên cứu trường hợp 4 tỉnh Thanh Hóa, Quảng Trị, Gia Lai, Phú Yên

giai đoạn 2001 -2005 ” của Nguyễn Ngọc Hải – Trường Đại học kinh tế - Đại

Học Quốc Gia Hà Nội (2008), luận văn đã nêu bật những thành công và hạn chế

trong sử dụng ODA của ADB tại dự án vay đầu tiên của ngành Lâm Nghiệp, trên

cơ sở đó tác giả đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm khắc phục các mặt

hạn chế và rút kinh nghiệm cho các dự án vốn vay ODA từ ADB trong Lâm

nghiệp sau này.

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở tập trung phân tích, đánh giá thực trạng thu hút và sử dụng

nguồn vốn ODA ở Việt Nam từ năm 2010-2015. Chỉ ra những thành công, hạn

chế và nguyên nhân của những hạn chế trong thu hút và sử dụng ODA. Luận văn

đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường thu hút, sử dụng vốn ODA từ

các nhà tài trợ.

Từ mục đích nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu của đề tài là: Việt Nam đã

thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA trong giai đoạn 2010 -2015 như thế nào?

Thực trạng thu hút, sử dụng vốn ODA ở Việt Nam thời gian qua diễn ra như thế

nào, đạt được những kết quả và có những hạn chế gì, ngun nhân tồn tại hạn

chế đó là gì? Việt Nam phải làm gì để tăng cường thu hút sử, dụng nguồn vốn

này trong thời gian tới.

Việt Nam cần phải làm gì để thu hút, sử dụng nguồn vốn ODA có hiệu quả

nhằm phát triển kinh tế xã hội theo đúng mục tiêu của Đảng và Nhà nước đã đề

5



ra?

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

-



Hệ thống hóa những vấn đề lý luận, thực tiễn về ODA và ý nghĩa của nguồn



vốn này đối với việc phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam.

- Phân tích, đánh giá thực trạng việc thu hút và sử dụng vốn ODA của Việt

Nam giai đoạn 2010-2015, từ đó nêu lên những thành tựu và những tồn tại và

một số nguyên nhân.

- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường thu hút và sử dụng nguồn

vốn ODA trong thời gian tới.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

- Đối tượng: Đối tượng nghiên cứu là Hoạt động thu hút, sử dụng nguồn vốn

ODA của Việt Nam.

- Phạm vi: Nghiên cứu hoạt động thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA ở Việt

Nam trong giai đoạn từ năm 2010 tới năm 2015.

5. Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu tại bàn gồm có phương pháp

phân tích tổng hợp, hệ thống hóa phương pháp so sánh, thống kê...

Nguồn số liệu được sử dụng kế thừa từ các báo cáo số liệu của Bộ Kế

hoạch và Đầu tư, các báo cáo hàng năm của JICA, các Tạp chí thương mại, Niên

giám thống kê, các nghiên cứu, báo kinh tế Việt Nam và thông tin từ mạng

Internet.

6. Kết cấu đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo đề

tài gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở khoa học về Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA).

Chương 2: Thực trạng hoạt động thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA của Việt

Nam giai đoạn 2010 -2015

Chương 3: Những giải pháp chủ yếu nhằm thu hút, sử dụng nguồn vốn ODA

6



Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THU HÚT VÀ SỬ DỤNG NGUỒN HỖ

TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC (ODA)

1.1. Cơ sở lý luận về ODA

1.1.1. Nguồn gốc

ODA ra đời sau chiến tranh thế giới thứ II cùng với kế hoạch Marshall, để

giúp các nước Châu Âu phục hồi các ngành công nghiệp bị chiến tranh tàn phá.

Lúc này, các nước công nghiệp phát triển đã có sự thoả thuận trợ giúp các nước

thế giới thứ 3 dưới dạng viện trợ không hoàn lại hoặc cho vay với điều kiện ưu

đãi. Ngày 14-2-1960, tại Paris các nước đã ký thoả thuận thành lập tổ chức hợp

tác kinh tế và phát triển (Organization for Economic and Development-OECD),

tổ chức này bao gồm 20 nước thành viên ban đầu đã đóng góp phần quan trọng

nhất trong việc cung cấp ODA song phương và đa phương. Trong khuôn khổ

hợp tác phát triển, các nước OECD đã lập ra các ủy ban chun mơn, trong đó có

Ủy ban Hỗ trợ Hợp tác Phát triển (Development Assistance Committee - DAC),

nhằm giúp các nước đang phát triển phát triển kinh tế và nâng cao hiệu quả đầu

tư. Thành viên ban đầu của DAC gồm 18 nước. Thường kỳ các nước thành viên

của DAC thông báo cho ủy ban các khoản đóng góp của họ cho các chương trình

viện trợ phát triển và trao đổi với nhau các vấn đề liên quan đến chính sách viện

trợ phát triển. Thành viên của DAC hiện nay gồm có: Áo, Bỉ, Canada, Đan

Mạch, Pháp, Đức, Ailen, Italia, Hà Lan, Nauy, Bồ Đào Nha, Thụy Điển, Thụy Sĩ,

Vương quốc Anh, Mỹ, Ôtrâylia, Niudilân, Nhật Bản, Luxămbua, Tây Ban Nha

và Liên minh Châu Âu - EC.

1.1.2. Khái niệm

Vốn ODA là một phần của nguồn tài chính chính thức mà Chính phủ các

nước phát triển và các tổ chức đa phương dành cho các nước đang phát triển

nhằm hỗ trợ phát triển kinh tế và nâng cao phúc lợi xã hội các quốc gia này.

Theo cách hiểu chung nhất, ODA là tất cả các khoản hỗ trợ khơng hồn lại và

các khoản tín dụng ưu đãi dành cho các nước nhận viện trợ. ODA được thực



7



hiện thơng qua việc cung cấp từ phía các nhà tài trợ các khoản viện trợ khơng

hồn lại, vay ưu đãi về lãi suất và thời hạn thanh tốn.

Theo chương trình phát triển của Liên Hợp Quốc: ODA là viện trợ khơng

hồn lại hoặc là cho vay ưu đãi của các tổ chức nước ngồi, với phần viện trợ

khơng hồn lại chiếm ít nhất 25% giá trị của khoản vốn vay.

Một cách khái quát, ODA là các khoản viện trợ không hồn lại, có hồn

lại hoặc tín dụng có ưu đãi (về lãi suất thời gian ân hạn và trả nợ) của các cơ

quan chính thức thuộc các nước và các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính

phủ (NGO) cho các nước đang phát triển hoặc chậm phát triển. Một khoản tài

trợ được coi là ODA nếu đáp ứng đầy đủ 3 điều kiện:

Một là: Được các tổ chức chính thức hoặc đại diện của các tổ chức chính

thức cung cấp. Tổ chức chính thức bao gồm các nhà nước mà đại diện là Chính

phủ, các tổ chức liên chính phủ hoặc liên quốc gia, và các tổ chức phi chính phủ

hoạt động khơng vì mục tiêu lợi nhuận.

Hai là: Mục tiêu chính là giúp các nước đang phát triển (ĐPT) phát triển

kinh tế, nâng cao phúc lợi xã hội. Các lĩnh vực được ưu tiên sử dụng vốn ODA

bao gồm: Xố đói, giảm nghèo, nơng nghiệp và phát triển nông thôn; cơ sở hạ

tầng kinh tế kỹ thuật như giao thông vận tải, thông tin liên lạc, năng lượng; cơ

sở hạ tầng xã hội như giáo dục, y tế, bảo vệ môi trường; các vấn đề xã hội như

tạo việc làm, phòng chống dịch bệnh, phòng chống các tệ nạn xã hội; cải cách

hành chính, tư pháp, tăng cường năng lực của cơ quan quản lý nhà nước, cải

cách thể chế…

Ba là: Thành tố hỗ trợ (Grant element - GE) phải đạt ít nhất 25%. Thành

tố hỗ trợ, còn được gọi là yếu tố khơng hồn lại là một chỉ số biểu hiện tính “ưu

đãi” của ODA so với các khoản vay thương mại theo điều kiện thị trường.

1.1.3. Các hình thức

 Hỗ trợ cán cân thanh tốn: Thường là tài trợ trực tiếp thông qua chuyển

giao tiền tệ. Nhưng đôi khi lại là hiện vật (hỗ trợ hàng hoá) như hỗ trợ nhập



8



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×