Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA QUỸ XÃ HỘI

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA QUỸ XÃ HỘI

Tải bản đầy đủ - 0trang

Qua khảo sát các cơng trình nghiên cứu trên thế giới, đều dễ nhận thấy là cho tới

thời điểm này chưa có một cơng trình nghiên cứu nào bàn về vấn đề quản lý hoạt động

tín dụng của các tổ chức tài chính vi mơ Việt Nam

Ở Việt Nam quản lý hoạt động tín dụng đối với người nghèo cũng đã được nghiên

cứu: Bài viết của tác giả ĐàoVăn Hùng (2000) “Các giải pháp tín dụng đối với người

nghèo ở Việt Nam hiện nay” đã phân tích cụ thể về tín dụng cho người nghèo ở Việt

Nam; nghiên cứu sự tiếp cận của hộ gia đình đối với các dịch vụ tài chính chính thức ở

Việt Nam, phân tích sâu hơn về sự tiếp cận tài chính vi mơ của người nghèo ở Việt

Nam, sử dụng các số liệu sơ cấp như số liệu điều tra về mức tiếp cận của dự án mở

rộng tiếp cận Canada năm 2001.

Đồng tác giả Nguyễn Kim Anh, Nguyễn Thanh Tâm (2013) sách chuyên khảo

“Mức độ bền vững của các tổ chức tài chính vi mô Việt Nam: Thực trạng và một số

khuyến nghị” đã nghiên cứu về các mức độ bền vững của các tổ chức tài chính vi mơ

hướng tới phục vụ người nghèo, người thu nhập thấp và các đối tượng khách hàng tài

chính vi mơ khác.

Đồng tác giả Nguyễn Kim Anh, Ngô Văn Thứ, Lê Thanh Tâm, Nguyễn Thị Tuyết

Mai (2011) “Tài chính vi mơ với giảm nghèo tại Việt Nam: Kiểm định và so sánh” đã phân

tích mối liên hệ giữa tài chính vi mơ và giảm nghèo tại Việt Nam. Tuy nhiên, điều này khó

thực hiện được vì vấn đề giảm nghèo phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố trong đó, tài chính vi

mơ chỉ là một trong các cơng cụ giúp người nghèo có thu nhập và nâng cao vị thế xã hội.

Ngân hàng thế giới (2006) nghiên cứu “Việt Nam: Phát triển một chiến lược

toàn diện để mở rộng tiếp cận (của hộ nghèo) đối với các dịch vụ tài chính vi mơ. Tăng

cường tiếp cận hiệu quả và bền vững” đã thực hiện khảo sát và đánh giá về bức tranh

chung tài chính vi mơ Việt Nam và đưa ra một số khuyến nghị về chính sách, đặc biệt

việc thực hiện nghị định 28/2005 ngày 09 tháng 03 năm 2005 của Chính phủ đối với

các tổ chức tài chính quy mơ nhỏ.

6



Bên cạnh đó, cũng có một số nghiên cứu phân tích về các khía cạnh hoạt động

của từng tổ chức tài chính vi mơ riêng rẽ.

Một số nghiên cứu về hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân, tác giả Lê Minh Hồng

(2000) “Giải pháp hồn thiện và phát triển hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân trong khu

vực kinh tế nông thôn Việt Nam” và tác giả Bùi Chính Hưng (2004) “Giải pháp phát

triển Quỹ tín dụng nhân dân ở Việt Nam” năm 2004 đã phân tích về hoạt động và các

khuyến nghị phát triển hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân. Một số khuyến nghị của hai

nghiên cứu trên đã được ngân hàng nhà nước áp dụng cho quá trình cơ cấu lại hệ thống

Quỹ tín dụng nhân dân giai đoạn 2000 – 2005.

Một số nghiên cứu về ngân hàng chính sách xã hội cũng đã được thực hiện. Tác

giả Hà Thị Hạnh (2003) “Giải pháp hồn thiện mơ hình tổ chức và cơ chế hoạt động

của NHCSXH” tập trung vào các vấn đề tổ chức hồn thiện hoạt động của Ngân hàng

chính sách xã hội. Tác giả A.Seward (2004) “Nghiên cứu chính sách khu vực tài chính:

Ngân hàng chính sách xã hội” cũng thực hiện phân tích về các vấn đề khó khăn của

Ngân hàng chính sách xã hội, cũng như hướng phát triển cho ngân hàng này trong

trung hạn. Còn tác giả Trương Thị Hoài Linh (2004) “Mở rộng cho vay đối với hộ

nghèo của Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam” tập trung vào hoạt động tín dụng

của Ngân hàng chính sách xã hội đối với người nghèo. Nghiên cứu của tác giả Lê Huy

Du (2004) “Giải pháp đẩy mạnh công tác huy động vốn của NHCSXH” tập trung vào

hoạt động huy động vốn, chủ yếu là tiết kiệm đối với ngân hàng.

Qua việc nghiên cứu các cơng trình trên, có thể thấy vấn đề phân tích sự phát

triển hoạt động của các tổ chức tài chính vi mơ Việt Nam theo các chuẩn mực quốc tế

chưa được đề cập một cách tồn diện và có hệ thống. Các chỉ tiêu đánh giá phát triển

hoạt động cũng như mô hình về mối quan hệ giữa các biến đánh giá đã được tổng kết.

Những kinh nghiệm quốc tế cho sự phát triển các tổ chức tài chính vi mơ nói chung đã

có, nhưng khả năng áp dụng đối với từng tổ chức tài chính vi mơ tại Việt Nam hiện nay



7



vẫn chưa được phân tích kỹ lưỡng dựa trên đặc điểm của từng tổ chức. Thời điểm phân

tích dừng lại ở số liệu 2010. Vì vậy, tác giả đã chọn đề tài “Quản lý hoạt động tín dụng

Quỹ hỗ trợ phụ nữ nghèo“ đề phân tíc nhằm góp phần bổ sung, luận giải thêm một số

nội dung về lý luận và thực tiễn quản lý hoạt động tín dụng chưa được hệ thống hóa,

giải quyết. Đặc biệt, sẽ hệ thống hố và phân tích chun sâu về lý luận và thực tiễn

quản lý hoạt động tín dụng tại Quỹ hỗ trợ Phụ nữ nghèo. Do đó, đây là một cơng trình

nghiên cứu độc lập, khơng trùng lặp với các cơng trình đã cơng bố.

1.2 Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động tín dụng

1.2.1 Khái niệm quản lý hoạt động tín dụng

1.2.1.1. Tín dụng

Lịch sử phát triển cho thấy, tín dụng là một phạm trù kinh tế và cũng là một sản

phẩm của nền sản xuất hàng hố. Nó tồn tại song song và phát triển cùng với nền kinh

tế hàng hoá và là động lực quan trọng thúc đẩy nền kinh tế hàng hoá phát triển lên

những giai đoạn cao hơn. Quan hệ tín dụng đã hình thành và ra đời từ rất lâu, thậm chí

mối quan hệ tín dụng thơ sơ nhất được phát sinh ngay từ sau khi chế độ cộng sản

nguyên thuỷ tan rã. Quan hệ tín dụng đã phát triển qua nhiều hình thức từ thấp đến cao,

từ đơn giản đến phức tạp. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, qua từng

thời kỳ, từng giai đoạn phát triển mà dần hình thành nên các hình thức tín dụng mới có

trình độ cao hơn, đã có các hình thức tín dụng sau: tín dụng nặng lãi, tín dụng thương

mại, tín dụng ngân hàng, tín dụng nhà nước và tín dụng tiêu dùng. Tín dụng tồn tại và

phát triển qua nhiều hình thái kinh tế - xã hội, đã có nhiều khái niệm khác nhau về tín

dụng được đưa ra.

Tín dụng là quan hệ vay mượn dựa trên nguyên tắc hoàn trả kèm theo lợi tức, nó

để thoả mãn nhu cầu của cả 2 bên, do đó nó là một quan hệ bình đẳng, cả 2 bên cùng

có lợi và mang tính thoả thuận lớn.



8



Danh từ tín dụng để chỉ một số hành vi kinh tế rất phức tạp như bán chịu hàng

hóa, cho vay, bảo lãnh. Trong mỗi hành vi tín dụng như như trên, hai bên sẽ cam kết

với nhau một số điều kiện:

- Một bên trao ngay số hàng hóa hay tiền bạc.

- Bên kia cam kết sẽ hồn lại những tài sản đó trong một thời gian nhất định và

thực hiện một số điều kiện nhất định nào đó mà hai bên đã thỏa thuận trước.

Ở Việt Nam, Tín dụng là hình thức vận động nguồn tiền tệ nhàn rỗi trong nước

để hình thành nguồn vốn tín dụng của Ngân hàng Nhà nước và các Ngân hàng khác,

đồng thời sử dụng nó để cho vay phục vụ sự phát triển kinh tế

Song khái quát lại có thể hiểu tín dụng theo khái niệm cơ bản sau:

“ Tín dụng là một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ giao dịch giữa hai chủ

thể, trong đó một bên chuyển giao một lượng giá trị sang cho bên kia được sử dụng

trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận được phải cam kết hoàn trả theo thời

hạn đã thoả thuận.”

Mối quan hệ giao dịch này thể hiện các nội dung sau:

- Người cho vay chuyển giao cho người đi vay một lượng giá trị nhất định. Giá

trị này có thể dưới hình thái tiền tệ hoặc dưới hình thái hiện vật như: hàng hố, máy

móc, thiết bị, bất động sản.

- Người đi vay chỉ được sử dụng tạm thời trong một thời gian nhất định, sau khi

hết thời hạn sử dụng theo thoả thuận, người đi vay phải hoàn trả cho người cho vay.

- Giá trị hoàn trả thông thường lớn hơn giá trị lúc cho vay ban đầu hay nói cách

khác người đi vay phải trả thêm phần lợi tức (lãi vay).

Tóm lại, tín dụng là phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ sử dụng vốn lẫn

nhau giữa các chủ thể trong nền kinh tế trên nguyên tắc hoàn trả cả vốn lẫn lãi.



9



1.2.1.2. Hoạt động tín dụng

Theo điều 20 Luật các tổ chức tín dụng Số: 47/2010/QH12 ngày 16 tháng 06

năm 2010 hoạt động tín dụng được định nghĩa là “việc tổ chức tín dụng sử dụng nguồn

vốn tự có, nguồn vốn huy động để thỏa thuận cấp tín dụng cho khách hàng với ngun

tắc có hồn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh

ngân hàng và các nghiệp vụ khác”.

Hoạt động tín dụng của các Quỹ xã hội bao gồm: tín dụng vi mơ (các món vay

nhỏ), nhận tiết kiệm bắt buộc, tiền gửi tự nguyện và thực hiện một số dịch vụ thanh

toán cho các hộ gia đình, cá nhân có thu nhập thấp, hộ gia đình nghèo và các doanh

nghiệp siêu nhỏ khơng cần tài sản thế chấp.

1.2.1.3. Quản lý hoạt động tín dụng của các Quỹ xã hội

Khái niệm quản lý hoạt động tín dụng là q trình xây dựng và thực thi các

chiến lược, các chính sách quản lý và kinh doanh tín dụng nhằm đạt mục tiêu an tồn,

phát triển bền vững tăng cường các biện pháp phòng ngừa, hạn chế và giảm nợ xấu, nợ

quá hạn trong kinh doanh tín dụng từ đó tăng doanh thu, giảm chi phí và nâng cao chất

lượng và hiệu quả hoạt động kinh doamh của các Quỹ hỗ trợ

Muốn hoạt động tín dụng đạt hiệu quả tốt, phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa

những con người trong một tổ chức, giữa các tổ chức với nhau trên cơ sở sử dụng hợp

lý, có hiệu quả nguồn lực hiện có của các Quỹ hỗ trợ. Vì vậy, quản lý hoạt động tín

dụng ln được các Quỹ xã hội coi trọng hàng đầu trong cơng tác quản lý của mình.

Áp dụng các biện pháp quản lý phù hợp sẽ có các tác dụng giúp các Quỹ xã hội:

Lựa chọn đối tượng hỗ trợ trên cơ sở đánh giá năng lực thực tế của khách hàng

Xác định đúng vị thế của các Quỹ xã hội và khách hàng để lựa chọn phương

pháp quản lý phù hợp đảm bảo an toàn vốn đầu tư của các Quỹ xã hội.



10



1.2.2 Đặc điểm hoạt động tín dụng của các Quỹ xã hội

Về chủ thể, một bên tham gia giao dịch bao giờ cũng là các Quỹ xã hội có đủ

điều kiện hoạt động tín dụng theo quy định của pháp luật. Chủ thể này tham giá với tư

cách là người đầu tư (người cho vay) và có quyền thu tiền của người nhận đầu tư

(người vay) khi hợp đồng đáo hạn. Muốn hoạt động thành cơng thì các Quỹ xã hội phải

vận dụng linh hoạt các hình thức pháp lý. Trong khi các tổ chức Quỹ xã hội chủ yếu

cho vay dựa vào tín chấp mà khơng có thế chấp tài sản đảm bảo của khách hàng. Vì

dân chúng hầu như khơng có tài sản để thế chấp trừ đất đai đã được cấp sổ. Do vậy các

hình thức bảo đảm như hệ thống nhà cửa, tài sản khác cũng kém hiệu lực hơn mà chủ

yếu cho vay dựa vào uy tín của khách hàng, khả năng hồn trả của khách hàng và sự

hiệu quả của phương án sản xuất kinh doanh của khách hàng.

Về nguồn vốn, các Quỹ xã hội khi cấp tín dụng cho khách hàng chủ dựa vào vào

nguồn vốn huy động từ các chương trình tài trợ vốn của Chính phủ, các cá nhân, hoặc

thơng qua các hình thức nhận, nguồn tiền gửi từ khách hàng.

Cơ chế kinh doanh của các Quỹ xã hội thường gắn liền giữa mục tiêu kinh

doanh và mục tiêu xã hội để hướng tới phát triển bền vững. Tuy nhiên, hoạt động tín

dụng của các Quỹ xã hội thường gắn với nguyên tắc tự chủ về tài chính và bảo tồn

vốn.

Tuy nhiên hoạt động tín dụng của các Quỹ xã hội này thường có độ rủi ro cao

(trước hết là rủi ro mất vốn) do đối tượng khách hàng đặc biệt (đối tượng nghèo, cận

nghèo, vùng sâu, vùng xa, có địa bàn khó khăn nên việc chậm trả xảy ra nhiều). Mặt

khác các giao dịch của tổ chức Quỹ hỗ trợ thường tập trung ở địa bàn khó khăn có mật

độ dân số phân tán, cơ cơ hạ tầng (đường sá, dịch vụ viễn thơng, giáo dục) có chất

lượng thấp nên các khách hàng có khả năng tiếp cận với thông tin dịch vụ thấp nên ảnh

hưởng tới khả năng phát triển của tổ chức. Để phát triển tổ chức cần giảm chi phí dối

với khách hàng. Ngồi ra, các tổ chức Quỹ xã hội còn phải đối mặt với rủi ro cao do thị



11



trường và hàng hóa tại các khu vực mà Quỹ xã hội hoạt động thường bị chia cắt do vậy

giá cả bị biến động mạnh nếu có sự thay đổi về cung cầu. Thu nhập của khách hàng

chủ yếu là từ nông nghiệp, thu nhập từ phi nơng nghiệp chiếm rất nhỏ nên nếu có rủi ro

về nơng nghiệp thì sẽ ảnh hưởng rất lớn đến khả năng chi trả của khách hàng. Mặt

khác, các hoạt động sản xuất kinh doanh tại khu vực này đều mang tính tự cung tự cấp

nên dòng tiền mặt tính theo đầu người thường thấp và kém đa dạng. Do đó ảnh hưởng

đến tần suất lưu chuyển dòng tiền và khả năng hoàn trả của thành viên.

Khách hàng của các Quỹ xã hội thường có khả năng chịu đựng rủi ro thấp và

tính dễ bị tổn thương cao. Các nhóm khách hàng này thường khơng có tài sản thế chấp.

Sự biến động trong nơng nghiệp thường dẫn các nhóm khách hàng này dẫn đến nghèo

đói. Ngồi ra, do trình độ dân trí, nhận thức của khách hàng thấp nên khách hàng

thường không năng động trong các phương án kinh doanh và họ thường phải chịu rủi

ro rất cao do biến động của thiên tai lũ lụt, hạn hán, dịch bệnh… và sự thay đổi nhanh

chóng của nhu cầu của thị trường.

Các Quỹ xã hội phải đối mặt với vấn đề cầu về các dịch vụ tài chính nơng thơn

có tính thời vụ cao. Do nền kinh tế tại các khu vực của các Quỹ xã hội chủ yếu là ở

vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa, hải đảo nên các hoạt động kinh tế chủ yếu dựa vào

nông nghiệp, còn cơng nghiệp dịch vụ thì kém phát triển. Do đó các khách hàng

thường có nhu cầu cao trong những thời gian sản xuất nơng nghiệp, còn trong khoảng

thời gian nhàn rỗi khơng vào mùa vụ thì khách hàng thường có ít nhu cầu hơn và họ

thường trả vốn vay trước hạn khi có khẳ năng. Chính những thói quen của khách hàng

và đặc tính của nền kinh tế tại các khu vực trên đã ảnh hưởng rất lớn đến các hoạt động

tín dụng của các Quỹ xã hội và đòi hỏi các Quỹ xã hội cần phải có các chính sách tín

dụng cũng như các sản phẩm phù hợp với nhu cầu thực tế của khách hàng và thị trường

biến động.

1.2.3 Vai trò của các Quỹ xã hội trong nền kinh tế và xã hội



12



Các Quỹ xã hội là thành tố giữ vai trò quan trọng trong q trình phát triển kinh

tế xã hội khu vực nông thôn, vùng sâu, xùng xa địa bàn khó khăn. Đó là một cơng cụ

hữu hiệu của chính phủ nhằm giúp phân bổ nguồn lực cho phát triển, xóa đói giảm

nghèo. Về bản chất, các tổ chức Quỹ xã hội có vai trò “đơi” cả về kinh tế và xã hội.

Về khía cạnh tài chính, các Quỹ xã hội cung cấp nguồn vốn để mua các vật tư

cần thiết đầu tư cho sản xuất nông nghiệp như: máy cày, thiết bị tưới tiêu, nhà xưởng...

và các khoản đầu tư khác như phân bón, hạt giống, nhiên liệu. Bản chất của các nông

dân Việt Nam là rất cần cù tiết kiệm, nhưng vẫn nghèo đói do khơng có vốn để tổ chức

sản xuất, kinh doanh. Vì vậy nguồn vốn đối với họ rất quan trọng, giúp họ vượt qua

khó khăn để thốt khỏi nghèo đói. Và khi có nguồn vốn trong tay cộng thêm bản chất

cần cù làm việc của chính bản thân họ và gia đình sẽ tổ chức sản xuất tạo ra năng suất

và sản phẩm cao hơn, tăng thu nhập và cải thiện cuộc sống gia đình.

Thứ hai, các Quỹ xã hội giúp góp phần vào việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế nơng

thơn, giúp đẩy mạnh q trình nơng thơn hóa, thực hiện phân cơng lại lao động xã hội.

Để phát triển nơng nghiệp, nơng thơn thì cần phải áp dụng các biện pháp khoa học kỹ

thuật mới vào sản xuất. Đó là việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi đưa các loại

giống mới vào sản xuất hàng loạt và áp dụng khoa học kỹ thuật hàng loạt, thực hiện

khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư.... Để đáp ứng được những nhu cầu trên thì

người nghèo cần được đầu tư vốn thì mới có thể thực hiện được. Như vây, đầu tư vốn

cho người nghèo đã góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế khu vực nông thôn qua áp

dụng các tiến bộ trong khoa học kỹ thuật vào sản xuất và tạo ra các ngành nghề dịch vụ

mới trong nơng nghiệp góp phần vào phân cơng lại lao động trong xã hội.

Nguồn vốn của các Quỹ xã hội cung cấp tín dụng nhằm phá vỡ vòng luẩn quẩn:

thu nhập thấp– tiết kiệm ít – sản lượng thấp. Đặc biệt, tại khu vực nơng thơn có nhiều

người có thu nhập thấp nên tiết kiệm cũng ít và khơng đủ nguồn vốn cho đầu tư sản

xuất dẫn đến năng suất không cao và kết quả thu nhập thấp. Thông qua các sản phẩm



13



đặc biệt nhằm mục đích tạo việc làm và tăng thu nhập của người nghèo ở khu vực nông

thôn. Nguồn vốn sẽ giúp cho người nghèo tăng đầu tư vào sản xuất, tăng thêm thu

nhập, và tăng thu nhập thì cũng giúp cho phần tiết kiệm để tăng đầu tư cũng cao hơn.

Nguồn vốn của các Quỹ hỗ trợ cũng góp phần giúp ổn định chính trị tại khu vực

nông thôn làm thay đổi cuộc sống, an ninh, trật tự an toàn xã hội phát triển tốt. Bên

cạnh đó cũng góp phần hạn chế được các tiêu cực của xã hội tạo ra bộ mặt mới trong

đời sống nơng thơn. Ngồi ra các hình thức sinh hoạt của các tổ vay vốn cũng như sản

phẩm tương trợ vốn vay cũng giúp tăng cường sự đồn kết gắn bó của các hội viên

đồn thể của mình. Thơng qua việc hỗ trợ kỹ thuật sản xuất, chia sẻ kinh nghiệm quản

lý tài chính của gia đình nêu cao tính hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau tăng cường tình làng

nghĩa xóm, tạo niềm tin ở dân đối với Đảng và Nhà nước.

Tham gia hoạt động tài chính của các Quỹ xã hội cũng giúp cho người nghèo

nâng cao kiến thức tiếp cận với hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị

trường. Vốn tín dụng được cung cấp gắn với trách nhiệm hoàn trả và lãi đã bắt buộc

những người vay phải tính tốn đầu tư sản xuất có hiệu quả kinh tế cao để có khả năng

hồn trả cho Quỹ xã hội. Để làm được điều đó, họ phải học hỏi, tìm hiểu kỹ thuật sản

xuất, các biện pháp quản lý hiệu quả trong tiếp cận với thị trường kinh tế ln biến

động... từ đó tạo cho người vay tính năng động trong sáng tạo, sản xuất tích lũy kinh

nghiệm để sản xuất tốt trong nền kinh tế thị trường ln vận động khơng ngừng.

Thơng qua q trình cung cấp các dịch vụ tài chính, các Quỹ xã hội thực hiện

các chức năng quan trọng là: huy động tiết kiệm; phân bổ vốn cho đầu tư, và tạo diều

kiện thuận lợi cho trao đổi thương mại hàng hóa và dịch vụ, trở thành một công cụ đắc

lực để giảm nghèo đói và tăng thu nhập.

Về khía cạnh xã hội, tổ Quỹ xã hội tạo ra cơ hội cho người dân ở nông thôn –

nhất là phụ nữ nghèo – tiếp cận được với dịch vụ tài chính, giúp cho phụ nữ có điều

kiện tham gia vào kinh tế, làm chủ gia đình, cũng như tăng cường sự tham gia của họ

14



vào cuộc sống cộng đồng nói chung; tăng cường năng lực xã hội và nâng cao vị thế của

họ và góp phần bình đẳng giới.

1.2.4 Nội dung quản lý hoạt động các Quỹ xã hội

- Quản lý hoạt động huy động vốn từ Chính phủ, các tổ chức, cá nhân và các

thành viên vay vốn.

- Quản lý hoạt động cho vay và kiểm tra giám sát việc thực hiện cho vay, thu hồi

nợ.

Các chỉ tiêu kiểm soát hoạt động tín dụng trong của Quỹ xã hội

- Kiểm sốt việc xét duyệt tín dụng

- Kiểm sốt giai đoạn giải ngân

- Kiểm sốt q trình thu hồi vốn vay

- Kiểm sốt rủi ro tín dụng

- Kiểm sốt việc chấp hành các nguyên tắc trong thực hiện nghiệp vụ

Các tổ chức tín dụng khi quyết định cho vay cần phải tuân thủ “Quy chế cho vay

của tổ chức tín dụng đối với khách hàng” do Thống đốc Ngân hàng nhà nước ban hành

theo Quyết định số 1627/QĐ-NHNN ngày 31 tháng 12 năm 2001.

1.2.5 Sự cần thiết của quản lý hoạt động tín dụng

Đặc trưng hoạt động tín dụng của các Quỹ xã hội trên ba giác độ: nhóm khách

hàng mục tiêu cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp; quy mô khoản vay và tiền gửi

tương đối nhỏ; sử dụng cơ chế cho vay và thu hồi theo nhóm những người tương tự

nhau, nhằm đảm bảo tỷ lệ hoàn trả nợ cao.

Các phương pháp đặc thù đảm bảo cho tỷ lệ hoàn trả nợ vay cao và cơ chế sàng

lọc khách hàng hiệu quả, bao gồm: cơ chế cho vay theo nhóm để người vay cùng giám

sát và hỗ trợ lẫn nhau, lịch trình hồn trả nợ vay thường xun và cơ chế tiết kiệm bắt

15



buộc, thay thế biện pháp đảm bảo bằng tài sản. Đây là những yếu tố quan trọng đảm

bảo khả năng thu hồi vốn, sự an tồn và bền vững về tài chính của hoạt động này.

1.2.6 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả quản lý hoạt động tín dụng của

các Quỹ xã hội

1.2.6.1 Các chỉ số đánh giá rủi ro cho vay

Tỷ lệ nợ quá hạn (PAR)

Dư nợ cho vay chậm trả trên 30 ngày

PAR>30 ngày = ------------------------------------------------Tổng vốn đầu tư cho vay



Chỉ tiêu này cho thấy khẳ năng thu hồi nợ của tổ chức tín dụng và tổ chức tài

chính vi mơ (Quỹ xã hội) đối với các khoản vay của mình. Đây là chỉ tiêu đánh giá chất

lượng cho vay cũng như rủi ro cho vay. Nếu chỉ số PAR tăng cao thể hiện chất lượng

dư nợ cho vay càng kém và hiệu quả quản lý hoạt động tín dụng yếu và tiềm ẩn rủi ro

có khả năng xảy ra nợ xấu cao.

Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ cho vay

Nợ xấu là những khoản nợ quá hạn trên 90 ngày, mà khơng đòi được và khơng

được tái cơ cấu. Tại Việt Nam nợ xấu bao gồm những khoản nợ quá hạn có hoặc khơng

thể thu hồi, nợ liên quan đến các vụ án chờ xử lý và những khoản nợ q hạn khơng

được chính phủ xử lý rủi ro.

1.2.6.2 Một số chỉ số tài chính sử dụng đánh giá hiệu quả hoạt động tín

dụng của các Quỹ hỗ xã hội

Các chỉ số tài chính đánh giá hiệu quả hoạt động tín dụng dưới đây cũng là các

tiêu chỉ để đo lường sự bền vững của các Quỹ xã hội.

16



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA QUỸ XÃ HỘI

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×