Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN

Tải bản đầy đủ - 0trang

năm 2018. Đối với các hiệp định khác như ASEAN – Nhật Bản, ASEAN - Ấn Độ,

mức thuế suất nhập khẩu của Việt Nam đến năm 2016 sẽ giảm chỉ còn 6-8%. Tùy

thuộc vào cam kết đối với mỗi đối tác mà mức thuế đối với mỗi ngành hàng, mỗi

khu vực có khác nhau, song nhìn chung các FTA này có độ mở cửa thị trường cao

hơn nhiều so với các cam kết thuế quan trong khuôn khổ WTO, thể hiện ở mức thuế

xuất nhập khẩu cam kết thấp hơn nhiều, chỉ còn 0-8% vào cuối lộ trình (so với mức

trung bình 11,4% của cam kết WTO). Đáng chú ý là các đối tác FTA cũng chính là

các đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam, vì thế tác động của các FTA này là

rất lớn.

Ngược lại, thuế nhập khẩu mà các nước dành cho Việt Nam với hàng hóa

xuất phát từ Việt Nam cũng giảm đáng kể. Năm 2016, cộng đồng kinh tế ASEAN

AEC sẽ chính thức hình thành, thuế suất nội khối đối với hàng công nghiệp sẽ giảm

về 0% với hầu hết các dòng thuế, mở ra thị trường xuất khẩu bao trùm toàn bộ khu

vực ASEAN. Theo FTA Việt Nam-Nhật Bản, Nhật Bản đã cắt giảm về 0% thuế

nhập khẩu đối với 95% dòng thuế đối với hàng cơng nghiệp từ Việt Nam, số dòng

thuế được cắt giảm sẽ tiếp tục tăng lên trong thời gian từ nay đến năm 2018.

Bên cạnh các cam kết thuế quan, Việt Nam còn cam kết mở cửa thị trường

đối với các ngành vốn hạn chế đầu tư nước ngồi như thương mại, dịch vụ, trong đó

có dịch vụ tài chính-ngân hàng, bảo hiểm, logistic. Lộ trình mở cửa các ngành này

sẽ cho phép các cơng ty nước ngồi thâm nhập sâu hơn vào thị trường Việt Nam,

được nắm nhiều cổ phần hơn sẽ trực tiếp điều hành kinh doanh trên lãnh thổ Việt

Nam. Vì thế, cuộc chiến cạnh tranh sẽ trở nên quyết liệt hơn trên tất cả các ngành.

Các cam kết thuế quan như trên là điều kiện rất thuận lợi cho các doanh

nghiệp sản xuất xuất khẩu hoạt động trong KKT. Các điều kiện sản xuất tại đây cho

phép họ hạ giá thành sản xuất xuống mức thấp, nâng cao tính cạnh tranh của sản

phẩm và gia tăng lợi nhuận, đồng thời có điều kiện xuất khẩu ngay tại chỗ nếu bán

hàng hóa bằng phương thức FOB. Điều kiện thuế quan như trên cũng tạo điều kiện

rất thuận lợi để KKT triển khai các chương trình xúc tiến đầu tư, thu hút đầu tư.

Tình hình như trên cũng là điều kiện thuận lợi để KKT thu hút đầu tư phát triển các

ngành công nghiệp quan trọng như: chế biến hợp kim phục vụ chế tạo máy, công



80



nghiệp chế tạo máy, sản xuất động cơ, linh kiện, phụ tùng ô tô các loại, sản xuất

thiết bị điện, linh kiện điện tử, thiết bị điện tử các loại, cơng nghiệp lọc hóa dầu,

dụng cụ, máy móc đo đạc các loại.

b. Điều kiện kinh tế vĩ mô

Kinh tế vĩ mô của Việt Nam từ 2012 đến nay đang trên đà hồi phục. Tốc độ

tăng trưởng kinh tế chung tăng từ mức 5,42% năm 2013 lên 5,98% năm 2014, WB

dự báo tăng trưởng kinh tế của Việt Nam năm 2015 có thể đạt mức 6,2%. Sản xuất

cơng nghiệp cũng tăng trưởng khá hơn theo từng năm, tăng trưởng công nghiệp đã

tăng 5,8% năm 2012, 5,9% năm 2013 lên 7,6% năm 2014. Riêng nhóm ngành cơng

nghiệp chế biến chế tạo phục hồi khá nhanh, từ 5,5% năm 2012 lên 7,6% năm 2013,

lên 8,7% năm 2014. Các nhà đầu tư nước ngoài đang tiếp tục đầu tư mạnh vào Việt

Nam. Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng liên tục trong 4 năm trở lại đây, từ

mức 15,62 tỷ USD năm 2011, 16,3 tỷ USD năm 2012 và 20,23 tỷ USD năm 2014,

trong đó, đầu tư vào cơng nghiệp chế biến, chế tạo vẫn dẫn đầu về giá trị đầu tư vào

Việt Nam. Những năm gần đây, dòng vốn đầu tư vào công nghiệp điện tử vào Việt

Nam tăng lên khá mạnh với hàng loạt các dự án công nghiệp điện tử trị giá hàng tỷ

đô la từ Hàn Quốc, Hồng Kơng, Mỹ, Nhật Bản.



a)



b)



Hình 4.1:

a) Chỉ số tăng trưởng GDP; chỉ số tăng trưởng công nghiệp, công nghiệp chế biến chế tạo

và tỷ lệ lạm phát chung của nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 2011-2014; b) Khối lượng vốn

đăng ký đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam giai đoạn 2011-2014



Nhờ điều hành vĩ mô tương đối tốt, các yếu tố tác động trực tiếp đến đầu tư

và kinh doanh tại Việt Nam như lạm phát, lãi suất và tỷ giá hối đoái đều được giữ



81



ổn định. Tỷ lệ lạm phát chung được kiềm chế và dần hạ về mức thấp còn 4%, dự trữ

ngoại hối tăng, tỷ giá hối đoái ổn định là cơ sở để đồng tiền Việt Nam ổn định, tạo

niềm tin trong các nhà đầu tư và giới kinh doanh. Trong lĩnh vực ngân hàng, khả

năng thanh khoản của hệ thống ngân hàng được nâng cao, cho phép hệ thống ngân

hàng phục vụ tốt cho các nhu cầu về tài chính từ hoạt động sản xuất kinh doanh,

thanh toán của doanh nghiệp.

Việt Nam cũng đang duy trì chính sách lương tối thiểu thấp, thuế thu nhập

doanh nghiệp cũng ở mức tương đối thấp so với nhiều nước trong khu vực. Đồng

thời, giá nhân công lao động tại Việt Nam vẫn đang ở mức thấp so với các nước

trong khu vực.



a)



b)



Hình 4.2:

a) Tỷ lệ thuế TNDN các nước Đông Nam Á và Đông Á (%); b) Lương trung bình của lao

động ở các nước Đơng Nam Á và Đông Á (USD/tháng)



Đối với môi trường kinh tế địa phương: những năm qua kinh tế Hải Phòng đã

duy trì được nhịp độ tăng trưởng khá cao ở mức 7,2-11,5%/năm, trong đó cơng

nghiệp tăng trưởng ở mức 7,1-14%/năm, nơng nghiệp 4-5,2%/năm, dịch vụ 9,113,2%/năm. Chính quyền thành phố Hải Phòng cũng rất quan tâm và dành sự chú ý

đặc biệt đối với sự phát triển của KKT Đình Vũ-Cát Hải. Lãnh đạo thành phố luôn

đặt sự phát triển của KKT là ưu tiên cao trong điều hành kinh tế và xây dựng chính

sách phát triển. Bên cạnh vốn đầu tư từ trung ương dành cho KKT, UBND thành

phố đã ưu tiên bố trí một tỷ lệ khá lớn vốn đầu tư phát triển của thành phố cho phát

triển cơ sở hạ tầng trên địa bàn KKT. Các vấn đề về đất đai, giải phóng mặt bằng



82



được quan tâm chỉ đạo sát, thủ tục hành chính trên các lĩnh vực của KKT được

thành phố giải quyết kịp thời.

Như vậy, môi trường kinh tế vĩ mô đang rất thuận lợi cho sự phát triển của

KKT. Trên kênh xuất nhập khẩu, thuế nhập khẩu vào các thị trường đối với các mặt

hàng công nghiệp đều đang hạ thấp: đối với AEC mức thuế đang về 0%; các thị

trường Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản đã có các FTA; thị trường các nước quanh

Thái Bình Dương, bao gồm Mỹ đang hứa hẹn có TPP với rào cản thuế quan cực

thấp. Ở kênh các yếu tố sản xuất, lao động tại chỗ dồi dào, giá lao động thấp cũng là

yếu tố hấp dẫn các nhà đầu tư. Tất cả các yếu tố trên đang tạo nên một môi trường

kinh tế rất thuận lợi cho BQLKKT Hải Phòng triển khai chính sách thu hút đầu tư

và các giải pháp thúc đẩy sự phát triển của KKT.

4.1.2. Một số định hướng phát triển khu kinh tế

Là một khu kinh tế ven biển có vị trí địa kinh tế thuận lợi, ngay từ khi thành

lập, Đình Vũ – Cát Hải đã được định hướng phát triển như sau:

“Xây dựng và phát triển Khu kinh tế Đình Vũ - Cát Hải để trở thành khu

kinh tế tổng hợp, năng động, đa ngành, đa lĩnh vực với lĩnh vực chủ yếu là phát

triển kinh tế hàng hải mà trọng tâm là phát triển dịch vụ cảng, một trong những

trung tâm kinh tế biển của vùng biển Bắc Bộ và cả nước, giao thương quốc tế hiện

đại ở Bắc Bộ là động lực lơi kéo, thúc đẩy Hải Phòng phát triển, trở thành hạt nhân

tạo sự chuyển biến cơ bản cho thành phố theo hướng cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa;

đồng thời là trung tâm cơng nghiệp, dịch vụ tài chính, ngân hàng, du lịch, thương

mại, của Vùng và cả nước.”

Trên cơ sở điều kiện về vị trí địa kinh tế và vị thế của KKT Đình Vũ-Cát Hải

hiện nay và những phân tích của các chương trước, học viên đề xuất hướng phát

triển cụ thể hơn cho KKT Đình Vũ-Cát Hải như sau:

Các ngành được tập trung phát triển bao gồm: dịch vụ cảng biển gắn với

chuỗi giá trị logistic, cơng nghiệp hóa dầu, cơng nghiệp gắn với lợi thế biển (bao

gồm: luyện kim màu, sản xuất kim loại chất lượng cao phục vụ cho công nghiệp chế

tạo; chế tạo thiết bị, máy móc cho ngành hàng hải, đóng tàu; cơng nghiệp ơ tơ; chế

tạo máy các loại), định hướng phát triển công nghiệp công nghệ cao.



83



Phát triển KKT trở thành đầu mối gắn kết chuỗi giá trị trong nước với thị

trường nước ngồi (thơng qua phát triển cảng biển, logistic, thu hút các dự án động

lực ở mỗi ngành).

Gây dựng các ngành có phụ trợ phục vụ cho sự phát triển của KKT bao gồm:

phát triển đô thị, tài chính biển

Trên cơ sở mục tiêu, nhiệm vụ của KKT, những vấn đề đang đặt ra với KKT

như trên, trong điều kiện kinh tế vĩ mô đã nêu, học viên đề xuất các các giải pháp

như sau để phát triển KKT Đình Vũ-Cát Hải.

4.2. Giải pháp chung

Qua nghiên cứu tình hình phát triển của KKT Đình Vũ – Cát Hải, dựa trên

kinh nghiệm xây dựng và phát triển khu kinh tế ven biển của các nước, kinh nghiệm

phát triển khu kinh tế ven biển trong nước thời gian qua, để góp phần thúc đẩy KKT

Đình Vũ-Cát Hải phát triển nhanh hơn nữa trong thời kỳ sắp tới, học viên đưa ra các

đề xuất giải pháp như sau:

(1) Hoàn thiện hệ thống quy định pháp lý về khu kinh tế.

Hiện nay hệ thống quy định pháp lý về KKT đang nằm rải rác ở nhiều văn

bản pháp luật do nhiều Bộ ban hành. Các văn bản ban hành trước và sau tuy đã có

sự kế thừa nhau nhưng vẫn có những quy định khác nhau về cùng một vấn đề dẫn

đến nhiều khó khăn, lúng túng cho những người thực thi chính sách cả từ giới quản

lý (cụ thể là UBND các tỉnh có KKT và trực tiếp là Ban Quản lý khu kinh tế) và cả

từ phía các nhà đầu tư, doanh nghiệp. Vì vậy, điều cần thiết đặt ra hiện nay là cần

ban hành một luật riêng về khu kinh tế, trong đó tập hợp một cách có hệ thống các

quy định pháp lý về vấn đề khu kinh tế. Theo đó, các quy định này phải bao trùm

được đầy đủ các mặt hoạt động của KKT, tháo gỡ được các chồng chéo, vướng mắc

hiện nay nhằm tạo thuận lợi cho sự phát triển của khu kinh tế.



84



(2) Thiết kế chính sách để gây dựng một số ngành kinh tế trụ cột mới, hướng

đến phát triển các ngành kinh tế biển, công nghiệp chế tạo.

Hiện nay, trên địa bàn KKT đang có sự tập trung doanh nghiệp ở một số

ngành kinh tế như điện, điện tử tiêu dùng, dịch vụ cảng, kho bãi, vận tải, hóa dầu.

Riêng đối với cơng nghiệp điện tử có dấu hiệu hình thành một cụm liên kết ngành

(trong đó có doanh nghiệp dẫn đầu, doanh nghiệp làm công nghiệp phụ trợ và dịch

vụ). Ngoài lĩnh vực điện tử, các ngành khác hiện chưa thấy dấu hiệu rõ ràng của

cụm liên kết ngành. Và điều đáng lưu ý là trong danh sách các doanh nghiệp đầu tư

và KKT hiện nay thiếu vắng các lĩnh vực rất được mong đợi đối với một KKT biển

như: cơng nghiệp đóng tàu, chế tạo máy, ơ tơ... là những ngành kinh tế trụ cột có thể

khai thác ưu thế từ vận tải biển. Thực trạng này cho thấy sự cần thiết phải thiết kế

chính sách để thu hút đầu tư và gây dựng các ngành này.

(3) Đa dạng hóa nguồn lực đầu tư, vận dụng các phương thức mới để thu

hút nguồn lực nhằm đẩy nhanh tiến trình xây dựng kết cấu hạ tầng KKT.

Hiện nay, nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng của KKT Đình Vũ - Cát

Hải vẫn là nguồn vốn từ ngân sách trung ương và thành phố, trong đó vốn từ trung

ương là chính, vốn từ nguồn ngân sách thành phố chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ. Theo kế

hoạch đầu tư phát triển KKT Đình Vũ-Cát Hải của thành phố Hải Phòng và

BQLKKT từ nay đến năm 2020, mỗi năm KKT cần khoảng 1.300 tỷ đồng để đầu tư

xây dựng các cơng trình. Trong 3 năm trở lại đây, mặc dù nguồn vốn từ trung ương

đã được tập trung nhưng hiện mỗi năm cũng chỉ đáp ứng được 200-250 tỷ đồng,

bằng khoảng 15% tổng nhu cầu. Vì thế, nếu chỉ sử dụng vốn đầu tư từ trung ương

thì tốc độ xây dựng cơ sở hạ tầng sẽ chậm làm giảm sức hấp dẫn của KKT. Vì vậy,

KKT cần đa dạng hóa các nguồn lực trong đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng bằng

cách vận dụng các phương thức mới trong huy động vốn đầu tư. Đến nay, Chính

phủ đã ban hành Luật Đầu tư mới, Nghị định 15/2015/NĐ-CP có hiệu lực từ

10/4/2015 đã tạo lập thêm các phương thức thu hút, hợp tác đầu tư mới cho phép

các địa phương linh hoạt hơn trong huy động các nguồn lực để phát triển. Một số

giải pháp chính sách có thể là: thực hiện đổi đất lấy hạ tầng giao thông sử dụng hình

thức BT, doanh nghiệp đầu tư cho BQLKKT thuê lại hạ tầng theo hình thức BTL...



85



(4) Giải quyết các trở ngại về giao thông để tăng cường năng lực kết nối.

KKT hiện đang phải đối mặt với các vấn đề giao thông cả trong giao thông

nội khu và giao thông kết nối KKT với các trung tâm công nghiệp và kinh tế của

vùng. Như phần thực trạng phát triển KKT đã nêu, các vấn đề về giao thông mà

KKT đang gặp phải là (1) Có những hạn chế đáng kể trong năng lực vận tải của mỗi

loại hình vận tải có mặt trong khu kinh tế, (2) Khả năng kết nối, năng lực chuyển

tiếp hàng hóa giữa các phương thức vận tải yếu, (3) Có những hạn chế về kết nối và

năng lực vận tải giữa KKT với các vùng có tiềm năng kinh tế. Các khu vực kinh tế

quan trọng, các vùng kinh tế quan trọng này bao gồm: thủ đô Hà Nội, trục đường

QL 5, vùng duyên hải của tỉnh Quảng Ninh, trục đường QL 18 và vùng duyên hải

thuộc các tỉnh Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình. Vấn đề thứ nhất ảnh hưởng đến

năng lực và khả năng phát triển ngành kinh tế cảng tại KKT; vấn đề thứ hai ảnh

hưởng đến tốc độ và hiệu quả dỡ tải, phân phối hàng hóa của hệ thống cảng, ảnh

hưởng đến khả phát triển ngành kinh tế cảng trong KKT và cả năng lực liên kết

trong phát triển công nghiệp giữa doanh nghiệp trong KKT với các vùng kinh tế.

Vấn đề thứ ba ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận các nguồn hàng của hệ thống cảng.

Để khắc phục các trở ngại này cần phải sớm đầu tư để hình thành được hệ thống

giao thơng cũng như liên kết giữa các phương thức vận tải.

(5) Mở rộng diện tích KKT Đình Vũ – Cát Hải theo hướng tăng khả năng

tiếp cận biển cho KKT.

Để phát triển các ngành công nghiệp gắn biển, điều cần thiết là phải đưa các

khu vực gần biển vào KKT để KKT có mặt bằng thu hút đầu tư các ngành kinh tế

biển và khai thác được các lợi thế từ biển. Hiện nay, trên địa bàn KKT chỉ có khu

vực bán đảo Đình Vũ là có lợi thế gắn trực tiếp với biển, các khu vực còn lại chỉ

tiếp cận biển qua các tuyến đường sông. Địa thế như hiện nay chưa thuận lợi cho

việc thu hút đầu tư các ngành kinh tế gắn biển như đóng tàu hay cơng nghiệp chế

tạo, những ngành vốn dựa vào tính kinh tế của sản xuất và vận tải quy mô lớn để tạo

ra ưu thế cạnh tranh (vận tải biển cho phép tạo ra lợi thế cạnh tranh về chi phí nhờ

khả năng sản xuất và vận tải với khối lượng lớn).



86



(6) Kiến tạo và củng cố các yếu tố hỗ trợ cho sự phát triển bền vững của

KKT.

Đến nay, tiến trình phát triển ở Đình Vũ-Cát Hải đang đặt ra những yêu cầu

cầu mới cần được giải quyết, các nhu cầu mới cần được đáp ứng để đảm bảo cho

các bước phát triển tiếp theo của KKT. Các yêu cầu này bao gồm: nguồn nhân lực

có chất lượng, đáp ứng được nhu cầu sử dụng lao động của các nhà máy sẽ được

đầu tư và hoạt động trên địa bàn, nhu cầu về nơi ở của các chuyên gia nước ngoài

làm việc trong KKT, nhu cầu nhà ở cho số lượng công nhân đang ngày càng gia

tăng ở KKT. Hiện nay, áp lực của các vấn đề này từ phía KKT lên thành phố Hải

Phòng đang ngày càng gia tăng cùng với tốc độ phát triển của KKT.

4.3. Giải pháp cụ thể

Trên cơ sở các giải pháp chung như trên, để thực hiện được những mục tiêu

đã đặt ra, cần thực hiện các giải pháp cụ thể như sau:

(1) Kiến nghị Chính phủ nghiên cứu xây dựng và trình Quốc hội ban hành

Luật Khu kinh tế nhằm tạo ra khung pháp lý đồng bộ tạo hành lang pháp lý cho các

khu kinh tế trên phạm vi cả nước có mơi trường hoạt động thuận lợi, trong đó có

khu kinh tế Đình Vũ – Cát Hải nói riêng. Trong đó, Luật mới cần có quy định đồng

bộ, toàn diện về mọi hoạt động trong KKT, giải quyết được những vướng mắc hiện

nay, tạo điều kiện để KKT hoạt động thuận lợi.



87



(2) Xây dựng chính sách để gây dựng các ngành công nghiệp trụ cột mới

thuộc nhóm ngành kinh tế biển có lợi thế của KKT bao gồm: đóng và sửa chữa tàu,

cơng nghiệp ơ tơ, cơ khí chế tạo cơng nghệ cao, và nhóm ngành dịch vụ hỗ trợ cho

sự phát triển của các ngành này bao gồm dịch vụ ngân hàng, tài chính và bảo hiểm

hàng hải. Theo đó, cần có tính đồng bộ và bao gồm các yếu tố sau: quy hoạch, dành

vị trí thuận lợi để thu hút đầu tư các dự án đóng tàu, cơng nghiệp ơ tơ (gắn với mở

rộng phạm vi KKT sang phía khu vực Đầm Nhà Mạc và đảo Hà Nam nhằm tăng

khả năng tiếp cận biển và các tuyến hàng hải); thu hút các ngân hàng, tổ chức tín

dụng sẵn sàng cho vay trong ngành chế tạo, hàng hải vào hoạt động trong KKT;

phối hợp với Sở Tài chính tạo dụng một cơ chế hải quan thuận lợi, cho phép xây

dựng cảng chuyên dùng tại các dự án, đồng thời tiếp tục duy trì chính sách thuế

thấp, tất cả hướng tới tạo ra một môi trường đầu tư và kinh doanh thuận lợi cho các

doanh nghiệp hoạt động trong các ngành công nghiệp quan trọng trên. Để xây dựng

được hệ thống chính sách đồng bộ hỗ trợ cho sự phát triển của các ngành này cần có

sự tham gia của nhiều cấp quản lý từ Chính phủ, các bộ Tài chính, bộ Kế hoạch Đầu

sự tham gia của nhiều cấp quản lý từ Chính phủ, các Bộ Tài chính, Kế hoạch và

Đầu tư, UBND thành phố Hải Phòng và của BQLKKT Hải Phòng.

(3) Tinh chỉnh chính sách đầu tư để thúc đẩy phát triển

KKT cần sự điều chỉnh để công tác xúc tiến đầu tư hướng tới các mục tiêu cụ

thể như sau:

- Xây dựng chương trình xúc tiến đầu tư hướng tới gây dựng chuỗi giá trị

ngành trong KKT tham gia vào chuỗi giá trị tồn cầu. Chính sách đầu tư hiện nay đã

được định hướng, song hoạt động của IPA cần chuyển trọng tâm vào 2 hướng lớn:

một mặt thu hút các tập đoàn lớn hoạt động trong các ngành đóng tàu, chế tạo thiết

bị, công nghiệp ô tô, công nghiệp điện tử đầu tư vào KKT nhằm hình thành các đầu

tàu dẫn dắt ngành, một mặt dành vị trí thuận lợi cho các doanh nghiệp nội địa có

khả năng liên kết, hỗ trợ, làm gia cơng, dịch vụ cho doanh nghiệp nước ngồi vào

KKT nhằm tạo dựng mối liên kết theo chuỗi giữa doanh nghiệp nội địa và doanh

nghiệp đầu tàu trong KKT.



88



- Xây dựng chương trình xúc tiến đầu tư hướng tới các đối tác tiềm năng có

thể thực hiện các dự án đơ thị bình dân và dịch vụ lưu trú cao cấp. BQLKKT Hải

Phòng tổ chức xúc tiến đầu tư hướng tới các doanh nghiệp có năng lực phát triển

các khu đơ thị, thu hút để sớm hình thành các dịch vụ tiện ích lưu trú cao cấp, ưu

đãi trong thu hút đầu tư các dự án đô thị, hướng tới 2 phân khúc lớn: (1) nhà ở cho

người có thu nhập thấp và trung bình hướng tới đội ngũ công nhân trong KKT, (2)

khách sạn, nhà ở dịch vụ, nhà cho thuê hướng tới phân khúc nhân sự quản lý, nhân

sự lãnh đạo thuộc các doanh nghiệp trong khu vực KKT. Thu hút và tạo điều kiện

cho doanh nhân nước ngoài thường trú trong khu vực.

(4) Vận dụng cơ chế đầu tư để huy động vốn cho đầu tư phát triển cơ sở hạ

tầng. UBND thành phố nghiên cứu vận dụng các cơ chế đầu tư mới theo Luật Đầu

tư sửa đổi và các Nghị định mới ban hành quy định về hợp tác công tư để tổ chức

thực hiện các dự án cơ sở hạ tầng quan trọng. Một số hình thức có thể xem xét bao

gồm: đổi đất lấy hạ tầng, dịch vụ hạ tầng BOT, doanh nghiệp làm trước, nhà nước

trả sau BT.

(5) Đưa toàn bộ phần diện tích bãi Nhà Mạc (thuộc địa phận Hải Phòng) và

tồn bộ diện tích đảo Hà Nam (bao gồm các xã Nam Hòa, Yên Hải, Liên Vị, Tiền

Phong, Phong Cốc, Liên Hòa, Phong Hải, Cẩm La) thuộc địa phận tỉnh Quảng

Ninh và khu vực ven biển phía đơng huyện Kiến Thụy vào KKT (các khu vực màu

đỏ được đánh số 2,3,4 trong Hình 4.3). Sớm quy hoạch phần diện tích này tương

thích với quy hoạch chung KKT đã có nhằm tạo ra hình thế KKT thuận tiện cho sự

phát triển và tổ chức phân khu chức năng KKT. Việc sáp nhập phần diện tích này

vào KKT là bước đi nhằm hiện thực hóa tầm nhìn phát triển cho KKT. Việc mở

rộng này có các lợi ích lâu dài sau đây đối với KKT:



89



Trước hết, các khu vực được đề nghị đưa vào KKT là những khu vực rất

thuận tiện về giao thông thủy, giáp với các tuyến giao thông hiện có, có mặt tiếp

giáp với biển, có điều kiện trở thành khu vực sản xuất tập trung quy mô lớn, thuận

lợi cho thu hút đầu tư phát triển các ngành kinh tế gắn biển quan trọng như đóng và

sửa chữa tàu biển, công nghiệp chế tạo quy mô lớn, cơng nghiệp ơ tơ, hóa dầu...

những ngành đòi hỏi mặt bằng sản xuất lớn hoặc dựa vào quy mô sản xuất để duy

trì sức cạnh tranh;

Thứ hai, các khu vực đề

xuất đưa vào KKT hiện nay có quỹ

đất khá lớn để phát triển cơng

nghiệp, chưa bị đơ thị hóa mạnh

nên có thể chuyển đổi thành đất sản

xuất với chi phí thấp (chi phí đền

bù đất nơng nghiệp thấp hơn so với

các loại đất khác). Tuy nhiên, để

tận dụng được sự thuận lợi về đất

đai này, cần sớm đưa phần lãnh thổ

này sáp nhập vào KKT và sớm lập

quy hoạch xây dựng cho khu vực

này. Bên cạnh đó, việc mở rộng



Hình 4.3: Các khu vực đề nghị được

đưa vào Khu kinh tế



diện tích đất tới khu vực có chi phí xây dựng dựng rẻ hơn sẽ có tác động làm giảm

áp lực đối với giải phóng mặt bằng tại khu vực Thủy Nguyên nơi vấn đề đền bù,

giải tỏa còn nhiều khó khăn.

Thứ ba, việc mở rộng phạm vi KKT sang phía bên kia luồng đường thủy

Sơng Cấm cho phép KKT phát triển thuận lợi hơn nhờ có thể chủ động quy hoạch

xây dựng được cả bờ Bắc và bờ Nam con sơng thay vì chỉ được phép quản lý và xây

dựng ở bờ Nam như hiện nay.



90



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×