Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
VÀ TỔNG QUAN THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN KHU KINH TẾ

VÀ TỔNG QUAN THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN KHU KINH TẾ

Tải bản đầy đủ - 0trang

hàm, ý nghĩa lại khác nhau; ví dụ ADB, FIAS cùng sử dụng cụm từ “Special

Economic Zone” (Đặc khu kinh tế) nhưng khái niệm đưa ra lại khác nhau. Bên cạnh

đó, các tổ chức cũng sử dụng nhiều khái niệm để chỉ các loại hình khu kinh tế khác

nhau, như Khu Kinh tế tự do (Free Economic Zone-FEZ), Đặc khu kinh tế (Special

Economic Zone-SEZ), Khu Thương mại tự do (Free trade zone)...

Sau đây là một số khái niệm về khu kinh tế:

(1) Theo Cơ quan tư vấn tài chính và đầu tư (FIAS), cơ quan nghiên cứu và

tư vấn thuộc Tổ chức Tài chính quốc tế (IFC) thì:

Khu kinh tế được định nghĩa là một khu vực địa lý có ranh giới rõ ràng, do

một cơ quan quản lý, các pháp nhân trong đó được cung cấp những ưu đãi nhất định

(ví dụ: các ưu đãi về thuế, nới lỏng về hải quan) khi thực hiện các hoạt động kinh tế

bên trong khu.

(2) Ngân hàng Thế giới (ADB) đưa ra khái niệm về Đặc khu kinh tế (SEZ)

như sau:

Một Đặc khu kinh tế là một vùng lãnh thổ của quốc gia nhưng được điều

hành bởi một cơ quan hành chính riêng biệt. Các nhà đầu tư khi đầu tư vào Đặc khu

kinh tế này được hưởng các ưu đãi đặc biệt về dịch vụ, các nghĩa vụ và thuế, cho

phép doanh nghiệp vận hành theo một cơ chế được nới lỏng hơn so với quy định

thông thường của quốc gia. Các nghĩa vụ về xã hội, môi trường cũng như tiêu chuẩn

lao động liên quan đến quá trình đầu tư cũng được nới lỏng hơn so với luật và quy

định của quốc gia.

(3) Nghị định 29/2008/NĐ-CP của Chính phủ quy định về khu công nghiệp,

khu chế xuất, khu kinh tế đã đưa ra khái niệm:

“Khu kinh tế là khu vực có khơng gian kinh tế riêng biệt với mơi trường đầu

tư và kinh doanh đặc biệt thuận lợi cho các nhà đầu tư, có ranh giới địa lý xác định,

được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định của chính phủ. Khu kinh

tế được tổ chức thành các khu chức năng gồm: khu phi thuế quan, khu bảo thuế, khu

chế xuất, khu công nghiệp, khu giải trí, khu du lịch, khu đơ thị, khu dân cư, khu

hành chính và các khu chức năng khác phù hợp với đặc điểm của từng khu kinh

tế.”.



5



Như vậy, ở Việt Nam hiện nay thường dùng khái niệm “Khu kinh tế” để chỉ

các khu kinh tế do Thủ tướng Chính phủ thành lập ở khu vực ven biển (khu kinh tế

ven biển) và khu kinh tế thành lập tại khu vực cửa khẩu biên giới đất liền (khu kinh

tế cửa khẩu). Như vậy khái niệm “khu kinh tế” của Việt Nam là để chỉ các khu vực

có diện tích rộng lớn (trên 10.000 ha) trong đó áp dụng các ưu đãi về thuế, cơ chế

hành chính, cho phép đầu tư và kinh doanh thuận lợi hơn so với quy định thông

thường. Đặc biệt, khác với khu công nghiệp hay khu công nghệ cao là khu vực chỉ

sản xuất hoặc nghiên cứu, các khu kinh tế cho phép dân cư sinh sống thường xuyên.

Khái niệm khu kinh tế của Việt Nam hiện nay không bao gồm khu công nghiệp, khu

chế xuất, khu công nghệ cao... và khác biệt so với khái niệm khu kinh tế theo nghĩa

rộng của FIAS.

b) Khái niệm về phát triển khu kinh tế

Theo Giáo trình Kinh tế phát triển của Đại học Kinh tế quốc dân (2005) thì

“Phát triển kinh tế được xem là quá trình biến đổi cả về lượng và về chất, nó là sự

kết hợp một cách chặt chẽ q trình hồn thiện của hai vấn đề kinh tế và xã hội”.

Nội dung của phát triển được khái quát trên ba tiêu thức: (1) sự gia tăng tổng mức

thu nhập của nền kinh tế và mức gia tăng thu nhập bình quân trên một đầu người,

(2) sự biến đổi theo đúng xu thế của cơ cấu kinh tế, (3) sự biến đổi ngày càng tốt

hơn trong các vấn đề xã hội.

Từ khái niệm về “khu kinh tế” và “phát triển kinh tế” như trên, “phát triển

khu kinh tế” có thể được hiểu là q trình biến đổi cả về lượng và chất của khu kinh

tế, nó là sự kết hợp một cách chặt chẽ quá trình hồn thiện của hai vấn đề kinh tế và

xã hội trên địa bàn KKT. Song bản thân KKT ra đời vốn xuất phát từ mục tiêu,

nhiệm vụ của nó đối với vùng lãnh thổ, địa phương, quốc gia mà KKT được đặt

trong đó, vì vậy, để đánh giá sự phát triển của khu kinh tế, ngoài việc đánh giá theo

ba tiêu thức: quy mô kinh tế, cấu trúc kinh tế, sự tiến bộ của các vấn đề xã hội còn

cần đánh giá mức độ hồn thành chức năng, nhiệm vụ của KKT đối với địa phương,

vùng, quốc gia có KKT đó. Trên cơ sở lý luận như trên, trong luận văn này, khái

niệm “phát triển khu kinh tế” có thể được hiểu như sau:



6



“Phát triển khu kinh tế” là sự gia tăng về quy mô kinh tế, sự tiến bộ về cấu

trúc kinh tế, sự cải thiện các vấn đề xã hội trong khu kinh tế và mức đóng góp của

KKT vào sự phát triển chung của địa phương, vùng và quốc gia.

Trong đó, cấu trúc kinh tế khơng chỉ được đánh giá theo cơ cấu ngành của

nền kinh tế mà còn được đánh giá theo trình độ của hoạt động kinh tế. Đối với nền

kinh tế của một quốc gia, cơ cấu ngành là một trong số các chỉ tiêu phản ánh trình

độ phát triển kinh tế, tuy nhiên, để đánh giá sự phát triển của một KKT có phạm vi

khơng gian tương đối hẹp và quy mơ kinh tế nhỏ so với tổng thể nền kinh tế quốc

gia như KKT Đình Vũ – Cát Hải thì việc đánh giá sự phát triển kinh tế còn cần đánh

giá theo cấu trúc trình độ sản xuất, ví dụ như tỷ trọng giá trị của các ngành công

nghệ cao trong tổng giá trị chung của KKT, tỷ lệ lao động kỹ thuật trong tổng số lao

động sản xuất...

c. Phân loại khu kinh tế

Có nhiều tiêu chí để phân loại khu kinh tế, song các nhà nghiên cứu thường

phân loại khu kinh tế dựa trên các tiêu chí như: theo chức năng của khu kinh tế,

theo địa điểm mà khu kinh tế được đặt. Theo đó, có thể phân loại khu kinh tế như

sau:

- Theo chức năng phát triển của khu kinh tế:

Khu thương mại tự do (Free Trade Zone, viết tắt FTZ): là khu vực có ranh

giới nhất định, được hưởng các ưu đãi về thuế theo hướng khuyến khích hoạt động

thương mại, được xây dựng các tiện ích như kho lưu trữ, bảo quản hàng hóa, cơ sở

hạ tầng, tiện ích phục vụ bán bn bán lẻ, phân phối, vận chuyển hàng hóa; là khu

vực được phép thực hiện các hoạt động phục vụ cho hoạt động thương mại như sơ

chế, lắp ráp, đóng gói hàng hóa, tạm nhập tái xuất và các dịch vụ khác phục vụ hoạt

động thương mại. Các ưu đãi thường thấy trong các khu thương mại tự do là: miễn

thuế nhập khẩu vào FTZ, hàng hóa từ nội địa vào FTZ được miễn thuế VAT (nhưng

hàng hóa từ FTZ vào nội địa phải đóng thuế), người lao động làm việc trong FTZ

được giảm thuế thu nhập cá nhân...

Cảng tự do (FreePort, viết tắt FP): thường là khu vực bao trùm một cảng

biển hoặc sân bay, ở đây các hàng hóa đến được lưu trữ, bảo quản tại chỗ mà không



7



phải nộp một số loại thuế (thuế xuất nhập khẩu, thuế VAT, thuế tiêu thụ đặc biệt...),

có thể được chế biến, đóng gói tại chỗ trước khi được nhập khẩu vào nội địa (phải

thực hiện nghĩa vụ thuế như đối với hàng nhập khẩu) hoặc tái xuất ra nước ngoài.

Tùy vào quy định của mỗi nước mà trong khu FP có thể cho phép được thực hiện

các hoạt động khác như dịch vụ, du lịch, bán lẻ và/hoặc cho phép dân định cư trong

nội khu.

- Phân loại theo địa bàn đặt khu kinh tế

Khu kinh tế ven biển: là khu kinh tế nằm ven bờ biển, thường gắn với các

cảng biển. Các khu kinh tế ven biển được thành lập với nhiều mục đích khác nhau,

trong khu kinh tế có khu thuế quan và khu phi thuế quan. Khu phi thuế quan được

gắn liền với cảng biển để thuận tiện cho hoạt động bốc dỡ hàng hóa.

Khu kinh tế cửa khẩu: là khu kinh tế nằm ở khu vực giáp biên giới, gắn liền

với cửa khẩu, được thành lập để thúc đẩy phát triển thương mại giữa hai nước có

chung biên giới. Trong khu kinh tế cửa khẩu thường có các tiện ích phục vụ cho

hoạt động thương mại, xuất nhập khẩu như: kho bãi, dịch vụ logistic, dịch vụ đóng

gói, lắp ráp, sản xuất hàng hóa; và có thể được hưởng các ưu đãi thuế.

1.1.2. Vai trò của khu kinh tế

Các khu kinh tế được thành lập đều có những mục tiêu chuyên biệt khác

nhau, như: thúc đẩy phát triển thương mại (các khu thương mại tự do như ở Trung

Quốc), thúc đẩy phát triển công nghiệp (khu kinh tế biển), hoặc đa mục tiêu vừa

phát triển công nghiệp, vừa phát triển dịch vụ... nhưng các khu kinh tế đều có mục

tiêu chung là thúc đẩy sự phát triển ở địa phương mà nó đứng chân và đóng góp vào

sự phát triển của vùng lãnh thổ lớn hơn như cấp vùng và quốc gia. Tùy thuộc vào

yêu cầu và định hướng phát triển của quốc gia, chính phủ mỗi nước thành lập và

thiết kế quy chế hoạt động của các khu kinh tế phù hợp với các mục tiêu phát triển

của mình. Trên cơ sở nghiên cứu sự hình thành và phát triển của các KKT, có thể

thấy vai trò của KKT như sau:

- Khu kinh tế có vai trò thu hút dòng vốn đầu tư cả từ trong nước và nước

ngoài để phát triển các ngành kinh tế. Cơ chế ưu đãi của khu kinh tế hứa hẹn tạo ra

lợi nhuận lớn hơn, một môi trường kinh doanh thuận lợi hơn cho doanh nghiệp và



8



nhà đầu tư, do đó các khu kinh tế có vai trò như một nam châm hút vốn đầu tư. Sức

hấp dẫn từ các ưu đãi đặc biệt của mình còn cho phép các khu kinh tế có ưu thế hơn

khu công nghiệp, khu chế xuất trong chọn lọc đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư đến

từ các quốc gia phát triển. Đối với các quốc gia đang phát triển, chính phủ thành lập

các khu kinh tế với định hướng thu hút đầu tư rõ ràng, trong đó thường hướng sự ưu

tiên vào các dự án có công nghệ cao, hoặc dự án thuộc ngành mà quốc gia đó có

nhu cầu cao nhưng năng lực sản xuất hoặc cung ứng còn thấp. Đối với các quốc gia

phát triển, các khu kinh tế được lập nên để thu hút dòng vốn đầu tư vào các dự án

thuộc các ngành mới nổi, hoặc có ưu tiên phát triển. Ở đây, khu kinh tế đóng vai trò

như một vườn ươm cho các doanh nghiệp hoạt động trong các ngành mới nổi.

- Khu kinh tế có vai trò như một trung tâm sản xuất, tạo ra giá trị gia tăng

cho nền kinh tế, thúc đẩy giao dịch thương mại và hoạt động xuất nhập khẩu. Khu

kinh tế là nơi tập trung sản xuất, tạo ra luồng hàng hóa thơng quan lớn, qua đó thúc

đẩy hoạt động xuất nhập khẩu phát triển. Các doanh nghiệp đầu tư vào KKT hoạt

động trong nhiều lĩnh vực khác nhau giúp đa dạng hóa chủng loại hàng hóa cung

cấp ra thị trường nội địa cũng như xuất khẩu. Việc đa dạng hóa sản phẩm có ý nghĩa

lớn: một mặt sự đa dạng hóa danh mục hàng hóa xuất nhập khẩu giúp nền kinh tế

quốc gia tránh bị phụ thuộc vào một số chủng loại hàng nhất định, góp phần xây

dựng một cấu trúc thương mại nội địa và ngoại thương bền vững hơn, cho phép

quốc gia chống chọi lại khi có biến động bất lợi xảy ra với từng nhóm mặt hàng;

mặt khác, xét trên bình diện rộng hơn, việc đa dạng hóa chủng loại hàng hóa giúp

cải thiện tổng cung nền kinh tế, và đến lượt nó, sự đa dạng của nguồn cung sẽ kích

thích tổng cầu.

- Đối với một nền kinh tế đang phát triển, các KKT còn có vai trò thu hút

cơng nghệ tiên tiến của nước ngoài, tạo điều kiện để khu vực kinh tế trong nước có

thể học hỏi, hấp thu công nghệ và phương thức quản lý tiên tiến của nước ngoài, kết

nối doanh nghiệp trong nước với nước ngoài. Khi thành lập các khu kinh tế, chính

phủ các nước đang phát triển thường có cơ chế chính sách ưu đãi hướng đến các dự

án có cơng nghệ cao, có khả năng tạo ra giá trị gia tăng cao. Các dự án này hoạt

động trên lãnh thổ quốc gia đang phát triển cho phép kỹ sư, công nhân nước sở tại



9



tiếp cận với các công nghệ tiên tiến và các vị trí quản lý tiếp thu được phương thức

quản lý hiện đại. Dần dần, tri thức từ các dự án này được học hỏi và lan truyền vào

nền kinh tế của quốc gia sở tại, tạo ra thế hệ doanh nghiệp bản địa mới giúp nâng

cao trình độ sản xuất và hiệu quả kinh tế của quốc gia đang phát triển. Bên cạnh đó,

các doanh nghiệp nước ngồi sản xuất kinh doanh trên địa bàn khu kinh tế cũng sử

dụng các dịch vụ phụ trợ từ doanh nghiệp nội địa, tạo điều kiện cho doanh nghiệp

trong nội địa tham gia vào chuỗi cung ứng.

- Khu kinh tế có vai trò tạo ra công việc làm, tạo ra thu nhập cho lao động tại

chỗ và lao động nhập cư, góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm, giúp ổn

định và nâng cao chất lượng sống của dân cư. Ở các khu kinh tế, thu hút được đầu

tư có nghĩa là các nhà đầu tư sẽ rót vốn vào phát triển sản xuất kinh doanh. Quá

trình này tạo ra nhiều việc làm mới và việc thu hút được số lượng lớn doanh nghiệp

sẽ cho phép giải quyết việc làm cho một số lượng lớn lao động. Đối với các quốc

gia đang phát triển, lao động hoạt động trong các ngành truyền thống chiếm tỷ lệ

lớn với hiệu quả lao động thấp và thu nhập thấp, thì sự phát triển của khu kinh tế là

cơ hội để người lao động có được cơng việc tốt hơn, đặc biệt là những lao động có

trình độ cao có thể tìm được những vị trí phù hợp với chun mơn của mình. Nguồn

thu nhập có được nhờ làm việc trong khu kinh tế của người lao động sau đó trở

thành dòng tiền chi tiêu giúp các ngành kinh tế, dịch vụ dân sinh phát triển. Và xét

trên bình diện kinh tế địa phương và tiểu vùng quốc gia, các khu kinh tế góp phần

ổn định cuộc sống và từng bước nâng cao chất lượng sống của dân cư, đặc biệt tại

địa phương có khu kinh tế.

- Khu kinh tế mang lại nguồn thu ngân sách cho quốc gia. Sự phát triển của

khu kinh tế thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu, từ đây, quốc gia sở tại có thể thu

được một nguồn thuế lớn từ hoạt động xuất nhập khẩu, bù vào những khoản mà

chính phủ khơng nhận được khi áp dụng ưu đãi ở khu kinh tế (như giảm thuế thu

nhập doanh nghiệp, giảm thuế thu nhập cá nhân hay chi phí phải bỏ ra để xây dựng

cơ sở hạ tầng cho khu kinh tế). Nhiều quốc gia đã có sự lựa chọn khôn ngoan khi

xây dựng cơ chế để các nhà đầu tư và doanh nghiệp tự đầu tư một phần cơ sở hạ

tầng trong khu kinh tế, điều này cho phép chính phủ giảm bớt gánh nặng và rủi ro từ



10



hoạt động xây dựng cơ sở hạ tầng. Do đó, trên cơ sở khu kinh tế, trong dài hạn, các

chính phủ có thể tạo ra dòng tiền về ngân sách quốc gia nhiều hơn chi phí phải bỏ ra

để xây dựng khu kinh tế. Điều này cho phép chính phủ tập trung vốn để thực hiện

các hoạt động cần thiết khác của đất nước.

- Xét từ góc độ phát triển vùng, KKT đóng vai trò như một cực tăng trưởng

cho vùng lãnh thổ hoặc địa phương mà nó đứng chân. Trên bình diện vùng, KKT là

nơi tập trung các nhà máy sản xuất có quy mơ lớn, bản thân các doanh nghiệp trong

KKT cũng có mối liên hệ kinh tế với các doanh nghiệp khác trong cả vùng, họ sử

dụng sản phẩm, dịch vụ phụ trợ từ các doanh nghiệp khác ngoài KKT. Sự tăng

trưởng của các doanh nghiệp trong KKT cũng sẽ kéo theo sự gia tăng nhu cầu sử

dụng dịch vụ, sản phẩm với các đối tác trong vùng. Vì vậy, sự phát triển của doanh

nghiệp trong KKT cũng sẽ kéo theo sự phát triển của cả vùng kinh tế.

Như vậy, xét một cách tổng thể trên bình diện quốc gia, KKT được hình

thành nhằm mục đích phát huy lợi thế địa kinh tế sẵn có của một khu vực nhằm thu

hút các kênh hàng hoá, đầu tư, thương mại, dịch vụ từ các nơi trong cả nước và từ

nước ngồi trên cơ sở các chính sách ưu đãi dành cho KKT. Trên cơ sở các ưu đãi

đặc biệt này, KKT đóng vai trò như một “máy bơm” giúp dòng ln chuyển vốn,

hàng hóa, cơng nghệ lưu thơng mạnh hơn giữa trong nước với nước ngoài, giữa các

đơn vị kinh doanh trong KKT và các đơn vị kinh doanh mà KKT có mối liên kết cả

ở trong vùng, trong nước và nước ngồi, qua đó kích thích kinh tế phát triển, lan

truyền công nghệ, phương pháp quản lý tiên tiến, thúc đẩy tính năng động của nền

kinh tế khu vực, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động kinh tế của quốc gia sở tại.

1.1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của khu kinh tế

a. Quy định pháp lý

Môi trường pháp lý là tổng thể các yếu tố tạo nên hệ thống quy tắc xã hội

bao gồm các chủ thể của môi trường pháp lý và hệ thống các quy định xã hội. Khu

kinh tế cũng ra đời và hoạt động trên cơ sở các quy định pháp lý, chịu sự điều chỉnh

của các quy định pháp lý. Để một khu kinh tế vận hành và phát triển tốt, thực hiện

được vai trò, chức năng như kỳ vọng thì các văn bản pháp lý điều chỉnh hoạt động

của nó phải tạo được hành lang pháp lý phù hợp, tạo điều kiện cho các hoạt động



11



trong khu kinh tế và có liên quan đến khu kinh tế diễn ra thuận lợi. Các quy định

pháp lý có tác động đến khu kinh tế bao gồm:

- Các Luật, nghị định, thông tư quy định chung về các lĩnh vực như: đầu tư,

doanh nghiệp, thương mại, lao động, bảo hiểm, xây dựng, sản xuất chuyên ngành...

có phạm vi áp dụng chung trên toàn quốc. Các quy định pháp lý này điều chỉnh

chung các hoạt động kinh tế diễn ra trong nền kinh tế, theo đó trong trường hợp các

văn bản pháp luật trên khơng có điều khoản quy định riêng cho khu kinh tế thì các

hoạt động trong khu kinh tế phải thực hiện như các khu vực khác ở trong nước.

- Hệ thống văn bản pháp lý quy định riêng cho khu kinh tế bao gồm: văn bản

khung về hoạt động của khu kinh tế, văn bản của chính phủ quy định trực tiếp cho

mỗi khu kinh tế (ví dụ: quyết định thành lập khu kinh tế, quyết định về chức năng

nhiệm vụ đối với mỗi khu kinh tế, các ưu đãi riêng dành cho từng khu kinh tế), các

văn bản do các bộ, ngành ban hành quy định về hoạt động thuộc ngành dọc diễn ra

trong khu kinh tế, các văn bản ban hành chính sách ưu đãi mà địa phương có khu

kinh tế dành cho khu kinh tế trên địa bàn của mình.

Cùng với hệ thống văn bản pháp lý, các quy định, chính sách điều chỉnh hoạt

động của khu kinh tế thì hệ thống cơ quan nhà nước chịu trách nhiệm thực thi các

quy định, chính sách trên đóng vai trò quan trọng để các quy định, chính sách liên

quan đến khu kinh tế đi vào cuộc sống và phát huy tác dụng. Bên cạnh đó, sự hỗ trợ

của các dịch vụ tư vấn về luật cũng có vai trò rất quan trọng hỗ trợ các doanh

nghiệp, cá nhân yên tâm hoạt động trên địa bàn khu kinh tế.

Tất cả các yếu tố trên tạo nên môi trường pháp lý cho các hoạt động của khu

kinh tế. Hành lang pháp lý khu kinh tế được xây dựng đồng bộ, rõ ràng, dễ hiểu,

khả thi sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho cả cơ quan quản lý, cơ quan thực thi pháp luật

cũng như thuận lợi cho các doanh nghiệp, cá nhân trong khu kinh tế hoạt động có

hiệu quả.

b. Mơi trường kinh tế

- Các cam kết kinh tế quốc tế của quốc gia:

Các cam kết kinh tế quốc tế của quốc gia có tác động lớn đến sự phát triển

của các khu kinh tế ở quốc gia đó. Các cam kết kinh tế của quốc gia hay việc quốc



12



gia tham gia vào liên minh kinh tế nào có tác động rất lớn đến sự phát triển của khu

kịnh tế, nó tác động trực tiếp đến sức hấp dẫn đầu tư của khu kinh tế, khả năng lưu

thơng hàng hóa của khu kinh tế với từng khu vực trên thế giới. Ví dụ, đối với các

quốc gia có ký kết các hiệp định tự do thương mại, dòng vốn đầu tư từ nước ngồi

đó đổ vào quốc gia đó có xu hướng tăng lên rõ rệt do doanh nghiệp nước ngồi có

thể đầu tư cơ sở sản xuất trong khu kinh tế của quốc gia đó để tận dụng nhân công

giá rẻ và những ưu đãi đặc biệt của khu kinh tế và xuất khẩu trở lại chính quốc hoặc

xuất bán ra các nước trong FTA với quốc gia sở tại với chi phí thuế thấp hơn nhiều

so với đầu tư tại các quốc gia khác không ký hiệp định tự do thương mại. Trong lĩnh

vực ngoại thương, việc quốc gia ký kết nhiều hiệp định tự do hơn cho phép doanh

nghiệp sản xuất ở khu kinh tế của quốc gia đó có thể bán hàng vào một thị trường

rộng lớn hơn với ít hạn chế thương mại hơn doanh nghiệp đặt nhà máy ở các quốc

gia có ít cam kết tự do thương mại. Và không chỉ là vấn đề đầu tư hay thương mại,

các cam kết sâu rộng hơn của quốc gia sở tại về lao động, thương mại dịch vụ và

nhiều lĩnh vực kinh tế khác cũng có tác động mạnh mẽ đến sức cạnh tranh trong thu

hút đầu tư và hoạt động của khu kinh tế, qua đó ảnh hưởng đến sự phát triển lâu dài

của khu kinh tế.

- Hoạt động của các công ty đa quốc gia và doanh nghiệp sở tại:

Tồn cầu hóa và các cam kết quốc tế đã thúc đẩy các công ty đa quốc gia

phát triển mạnh mẽ. Dưới sự đảm bảo của các hiệp định kinh tế, các cơng ty, tập

đồn khổng lồ này đã có được tầm hoạt động trên tồn cầu. Trong q trình đầu tư,

hoạt động để tìm kiếm lợi nhuận, các cơng ty đa quốc gia đã tạo nên dòng lưu thơng

vốn, dòng ln chuyển thương mại khổng lồ, đưa cơng nghệ hiện đại và phương

thức quản lý tiên tiến vào những quốc gia họ đầu tư. Sự có mặt của các tập đoàn đa

quốc gia ở các nước đang phát triển sẽ góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển. Dòng

vốn và sản phẩm từ hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh của các tập đoàn này

giúp tạo đà cho kinh tế tăng trưởng, thúc đẩy nâng cấp, cải tiến công nghệ trong

nước và lan tỏa phương thức quản lý tiên tiến vào nền kinh tế, giúp quốc gia tiếp

nhận hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu.



13



Đối với khu kinh tế, việc thu hút các công ty đa quốc gia vào hoạt động trên

địa bàn là hướng đi thích hợp để thúc đẩy sự phát triển của KKT. Sự hình thành các

nhà máy sản xuất có quy mơ của các tập đồn đa quốc gia lớn là đòn bẩy cho sự

phát triển kinh tế không chỉ trên địa bàn KKT mà thông qua các mối liên kết kinh tế

trên tồn cầu, các tập đồn này còn trở thành cầu nối giữa kinh tế trong nước với

nước ngoài, giúp KKT trở thành động lực tăng trưởng cho vùng lãnh thổ, thúc đẩy

tiến trình hội nhập và phát triển của quốc gia.

Cùng với các công ty đa quốc gia, các doanh nghiệp đã hoạt động trên thị

trường nội địa cũng có vai trò lớn trong sự phát triển của KKT. Nguồn đầu tư từ nội

địa là một nguồn vốn quan trọng đối với KKT, các dự án của doanh nghiệp nội địa

vào KKT góp phần vào sự phát triển của khu. Doanh nghiệp nội địa cũng là những

đơn vị cung cấp hàng hóa, dịch vụ, tài chính cho các doanh nghiệp và dự án hoạt

động trong KKT, hỗ trợ cho sự phát triển của KKT. Doanh nghiệp nội địa đồng thời

cũng là những đối tác tiềm năng của các tập đoàn, công ty đa quốc gia, mối liên kết

giữa các đối tác mang lại lợi ích cho cả đơi bên. Sự hợp tác giữa các đối tác trong

nước và nước ngoài tại KKT cũng cho phép doanh nghiệp nội địa tham gia vào

chuỗi giá trị tồn cầu, có tác dụng thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế của quốc gia sở

tại.

- Môi trường kinh tế vĩ mô quốc gia và địa phương:

Kinh tế vĩ mô của quốc gia tác động đến sự phát triển của khu kinh tế thông

qua các yếu tố như tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế, thu nhập của người

dân, các yếu tố như giá cả, lạm phát, lãi suất, tỷ giá, các tiện ích của thị trường và

hoạt động điều hành kinh tế vĩ mơ của chính phủ. Các chính sách của chính phủ về

thu hút đầu tư, chính sách phát triển các ngành kinh tế, chính sách tiền tệ, kiểm sốt

giá cả, lãi suất, tỷ giá, điều tiết xuất nhập khẩu, chính sách đảm bảo quyền lợi của

các nhà đầu tư, chính sách về lao động, tiền lương…, tất cả đều có tác động đến

hoạt động của khu kinh tế. Các yếu tố vĩ mô này tác động đến sự phát triển của khu

kinh tế theo các hướng như sau:

+ Thu nhập của dân cư là yếu tố quyết định sức mua của thị trường nội địa,

qua đó ảnh hưởng đến doanh số tiêu thụ nội địa của doanh nghiệp trong khu kinh tế.



14



+ Tỷ giá ảnh hưởng đến hoạt động thanh tốn hàng hóa xuất nhập khẩu của

doanh nghiệp. Vì các doanh nghiệp đều có tài khoản tiền gửi/ tiền vay ở ngân hàng

và thường giao dịch qua kênh dịch vụ của các ngân hàng nên mặt bằng lãi suất sẽ có

tác động đến dòng tiền và sẽ ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh cuối cùng của

doanh nghiệp. Có thể nói tỷ giá và lãi suất tác động đến hoạt động sản xuất kinh

doanh của doanh nghiệp trong ngắn hạn và tác động đến khả năng tích lũy và đầu tư

của doanh nghiệp trong dài hạn.

+ Tốc độ tăng trưởng kinh tế tốt là yếu tố tạo nên sức hấp dẫn, tạo thuận lợi

cho thu hút đầu tư của cơ quan quản lý KKT, là yếu tố thúc đẩy tốc độ tăng trưởng

của khu kinh tế.

+ Năng lực điều hành kinh tế vĩ mơ của chính phủ tác động lên tình hình

kinh tế vĩ mơ, từ đó có ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp trong KKT. Các

chính sách vĩ mô đúng đắn, kịp thời và hoạt động điều hành vĩ mô tốt là yếu tố tạo

nên môi trường ổn định cho doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, cho phép doanh

nghiệp ít phải quan tâm đối phó với các rủi ro trong ngắn hạn và tập trung hơn cho

các mục tiêu phát triển trung và dài hạn.

+ Tiện ích của thị trường sở tại là những dịch vụ hay hỗ trợ mà thị trường

nước nước sở tại có thể cung cấp cho doanh nghiệp đầu tư vào KKT. Ví dụ, các tiện

ích của thị trường vốn cho phép doanh nghiệp huy động vốn nhanh để kịp thời đón

bắt cơ hội kinh doanh, hệ thống các doanh nghiệp phụ trợ giúp doanh nghiệp trong

các tác vụ như thủ tục xuất nhập khẩu hay khâu logistic, vận tải. Các dịch vụ này

cho phép doanh nghiệp thực hiện hoạt động kinh doanh nhanh chóng hiệu quả, giúp

doanh nghiệp tập trung hơn trong chun ngành kinh doanh của mình.

Tóm lại, mơi trường vĩ mô tác động lên sự phát triển của khu kinh tế qua

nhiều kênh dẫn truyền khác nhau, có tác động đến khả năng tăng trưởng của doanh

nghiệp, qua đó ảnh hưởng đến sự phát triển chung của khu kinh tế. Một môi trường

vĩ mô tốt sẽ cho phép doanh nghiệp trong khu kinh tế cũng như cả khu kinh tế phát

triển nhanh hơn.

c. Vị trí địa lý và cơ sở hạ tầng

- Vị trí địa lý



15



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

VÀ TỔNG QUAN THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN KHU KINH TẾ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×