Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 3.6: Chỉ số cạnh tranh cấp tỉnh năm 2014

Bảng 3.6: Chỉ số cạnh tranh cấp tỉnh năm 2014

Tải bản đầy đủ - 0trang

Ngoài ra, hiện nay mức thu nhập của cán bộ nhân viên làm cho các cơ

quan nhà nước của Việt Nam chưa cao, hơn nữa việc quản lý thu nhập của họ

rất khó, do nước ta chưa có chính sách bắt buộc khai báo thu nhập. Vì vậy nếu

chỉ dựa vào mức thu nhập từ lương thì các CBCNV Nhà nước rất khó có thể

vay và trả với hạn mức 200 triệu chỉ trong thời gian từ 3-5 năm, cán bộ tín

dụng của ngân hàng rất ngại cho vay các đối tượng này do phải đi kiểm tra và

xác minh thu nhập của họ, các cơ quan quản lý của khách hàng vay vốn

không trả lương cho họ vào tài khoản mở tại NHNT do đó nếu họ khơng đến

trả nợ ngân hàng khơng thể tự động trích tài khoản của họ được.

Hơn nữa, thông tin về các khoản cho vay tiêu dùng của ngân hàng chưa

được thông dụng với người dân. Mặc dù trình độ dân trí của dân chúng hiện

nay đã cao hơn trước rất nhiều việc cập nhật thơng tin hàng ngày khơng mấy

khó khăn, song những thơng tin về tín dụng tiêu dùng của ngân hàng vẫn còn

xa lạ với người dân. Bên cạnh đó, người dân chưa thực sự hiểu rõ những lợi

ích mà cho vay tiêu dùng mang lại cũng như quyền và nghĩa vụ khi sử dụng

dịch vụ để có thể sử dụng các dịch vụ này một cách hiệu quả.

Khi có nhu cầu mua sắm hay sử dụng một dịch vụ nào đó người dân

ln có thói quen vay mượn bàn bè, người thân, thậm chí đến cửa hiệu cầm

đồ hay vay nặng lãi chứ khơng tìm đến ngân hàng. Từ trước đến nay người

dân ln có quan niệm, ngân hàng là nơi nhận gửi tiền tiết kiệm, giao dịch và

thanh toán qua ngân hàng chứ không được biết đến là nơi có thể cung cấp các

dịch vụ làm thoả mãn mọi nhu cầu tiêu dùng của khách hàng.

Bên cạnh đó, các phương thức mua trả góp hiện nay mới chỉ xuất hiện

ở hình thức mua ơtơ, mua nhà ở còn các hàng hố có giá trị cao khác lại chưa

được biết đến, có thể do các nhà cung cấp chưa liên kết với ngân hàng để bán

các sản phẩm của mình.



83



Người dân có tâm lý e ngại đi vay để tiêu dùng, ngại mắc nợ, khơng

có thói quen sử dụng các dịch vủa của ngân hàng. Người ta rất ngại đi vay

ngân hàng và cho đây là một việc làm bất đắc dĩ. Chính những thói quen này

đã ảnh hưởng rất lớn đến việc phát triển hoạt động tín dụng tiêu dùng của

ngân hàng.

- Cạnh tranh của các ngân hàng trên cùng địa bàn:

Hiện nay các ngân hàng thương mại cổ phần và các chi nhánh của ngân

hàng nước ngoài cũng đồng loạt cung cấp các sản phẩm, dịch vụ về tín dụng

tiêu dùng.Các sản phẩm của họ còn mang tính cạnh tranh cao hơn rất nhiều so

với các dịch vụ cho vay tiêu dùng của NHNT Việt Trì.Hơn nữa, các Ngân

hàng này đều có kinh nghiệm trong hoạt động cho vay tiêu dùng. Vì vậy tuy

là một ngân hàng có ưu thế về lãi suất so với các ngân hàng khác nhưng

những dịch vụ nghèo nàn, cán bộ tín dụng khơng nhiệt tình trong các khoản

vay tiêu dùng khiến cho dư nợ tín dụng tiêu dùng của NHNT Việt Trì ln ở

mức thấp.

b. Ngun nhân chủ quan từ phía ngân hàng

Trước tiên là do ngân hàng chưa có sự quan tâm đúng mức đến hoạt

động tín dụng tiêu dùng, chưa chú ý đến tầm quan trong của thị trường đầy

tiềm năng này. Ngân hàng vẫn chưa sẵn sàng cả về cơ sở vật chất lẫn nguồn

nhân lực để tiến hành cho vay tiêu dùng. Nguyên nhân này xuất phát từ tình

hình thực tế tại NHNT Việt Trì, hầu hết đều cho rằng các khoản tín dụng này

có trị giá q nhỏ, chi phí cũng như cơng sức bỏ ra cho một bộ vay tiêu dùng

còn cao hơn một bộ vay kinh doanh thương mại của các doanh nghiệp trị giá

hàng tỷ đồng. Hơn nữa, mọi người đều cho rằng việc cho vay tiêu dùng có

nhiều rủi ro bởi khả năng trả nợ chịu ảnh hưởng rất nhiều bởi tình trạng cơng

việc, thu nhập và cả tính mạng của khách hàng. Trên thực tế hiện nay tại

NHNT Việt Trì chưa có một kế hoạch cụ thể để phát triển hoạt động tín dụng

84



tiêu dùng, chưa nhận thấy được nhu cầu to lớn của thị trường đầy tiềm năng

này. Từ đó đưa ra một quy trình hoạt động thống nhất, tổ chức một tổ hay một

phòng riêng bố trí cán bộ chun quản lý cơng tác tín dụng tiêu dùng để đảm

bảo hoạt động tín dụng tiêu dùng vừa an tồn vừa có hiệu quả cao.

Thứ hai, hiện nay việc khách hàng mở tài khoản tại ngân hàng là khá

nhiều song có rất nhiều cơ quan không thực hiện chuyển lương vào tài khoản

cho CBCNV do đó nếu khách hàng muốn vay tiêu dùng họ phải đến ngân hàng

trả nợ gốc và lãi tại mỗi kỳ vì vậy rất bất tiện và rất mất thời gian. Hơn nữa

việc điền vào các form của ngân hàng không phải ai cũng thông thạo, nhiều

khách hàng rất ngại điền vào các form như uỷ nhiệm chi hay phiếu nộp tiền, do

ngân hàng yêu cầu họ không được viết sai hay sửa bất kỳ một chi tiết nào.

Thứ ba, hiện tại các loại hình tín dụng tiêu dùng tại ngân hàng còn rất

ít, chỉ bao gồm những món vay thơng thường, vay có tài sản bảo đảm là các

chứng từ có giá và khơng có tài sản bảo đảm đối với CBCNV ngoài ra việc

thực hiện cho vay thấu chi, vay mua nhà trả góp, vay du học, vay để đi xuất

khẩu lao động chưa được thực hiện, mặc dù nhu cầu về các dịch vụ này rất

cao và được dự báo sẽ tăng trưởng mạnh trong tương lai. Như vậy những hạn

chế về danh mục các loại hình tín dụng tiêu dùng sẽ khiến cho ngân hàng

không đáp ứng được nhu cầu vay tiêu dùng đa dạng của khách hàng.

Thứ tư, NHNT Việt Trì chưa có chế độ khuyến khích khen thưởng kịp

thời đối với các cán bộ tín dụng làm việc có chất lượng, chưa gắn được quyền

lợi với trách nhiệm của mỗi cán bộ tín dụng trong hoạt động cho vay, từ đó

dẫn đến tình trạng một số cán bộ tín dụng sợ trách nhiệm, chưa tâm huyết với

công việc, ngại cho vay nhất là cho vay đối với khách hàng là thể nhân.

Tóm lại, hoạt động tín dụng tiêu dùng tại NHNT Việt Trì trong thời

gian qua đã đóng góp một phần không nhỏ vào kết quả chung trong hoạt động



85



sử dụng vốn của Ngân hàng. Tuy nhiên do có những nguyên nhân chủ quan

và nguyên nhân khách quan mà hoạt động tín dụng tiêu dùng tại Chi nhánh

còn nhiều hạn chế, việc phát triển dịch vụ này chưa tương xứng với tiềm năng

phát triển của ngân hàng. Trên cơ sở phát huy những thế mạnh trong hoạt

động bán lẻ của ngân hàng, sự cần thiết phát triển hoạt động tín dụng tiêu

dùng cùng với những vấn đề mang tính lý thuyết về hoạt động tín dụng tiêu

dùng luận văn xin đưa ra một số giải pháp nhằm phát triển hoạt động tín dụng

tiêu dùng tại NHNT Việt Trì như sau:



86



CHƯƠNG 4

GIẢI PHÁP NHẰM HỒN THIỆN QUẢN LÝ TÍN DỤNG TIÊU DÙNG

TẠI NHNT VIỆT TRÌ

4.1.Định hướng quản lý tín dụng tiêu dùng tại NHNT Việt Trì

4.1.1. Nhu cầu vay tiêu dùng của khách hàng là thể nhân

Cùng với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế hiện nay, mức

sống dân cư ngày càng được cải thiện, nhu cầu mua sắm và nhu cầu tiêu dùng

tăng đáng kể. Người dân có nhu cầu mua sắm những đồ dùng tiện nghi hơn

trước để phục vụ đời sống của mình, quan tâm đến chỗ ở, phương tiện đi lại,

tương lai của con cái ngay khi họ có điều kiện về tài chính. Bên cạnh những

nguồn tài chính từ lương từ các nguồn thu nhập ngồi lương, từ vay mượn

bạn bè, họ cũng đã tìm đến các dịch vụ tín dụng tiêu dùng của ngân hàng để

thoả mãn nhu cầu tiêu dùng của mình. Với mức sống ổn định như hiện nay

người ta kỳ vọng có đủ tài chính trong tương lai đủ để trang trải cho các

khoản vay vì mục đích tiêu dùng.

Hơn nữa với xu thế hiện nay các công ty kinh doanh nhà đang xây

dựng hàng loạt các khu chung cư với mức giá của các căn hộ hấp dẫn các

đôi vợ chồng trẻ. Những người tuy có một lượng nhỏ tiền nhưng với một

cơng việc làm ổn định họ hồn tồn có thể kỳ vọng vào tương lai sẽ tích luỹ

đủ tiền để mua căn hộ. Ví dụ với trình độ đại học của mình và được làm việc

tại một doanh nghiệp có thu nhập ổn định như các cơng ty liên doanh, cơng

ty nước ngồi hoặc những cơng ty có mức thu nhập tương đối cao, một đôi

vợ chồng trẻ hồn tồn có thể kỳ vọng họ sẽ tích luỹ đủ số tiền cần thiết để

mua một ngôi nhà chung cư trong vòng 10 năm tới và nhu cầu vay trả góp

của họ là rất lớn.

Nếu người dân hiện nay chỉ chờ đợi tới khi có đủ tiền mới phát sinh các

nhu cầu mua sắm thì các hàng hố, dịch vụ sẽ trở nền tồn đọng, vòng quay

87



hàng tồn kho của các doanh nghiệp sẽ giảm đi.Vì với nhu cầu phát triển của

xã hội hiện nay, hàng hoá tràn ngập thị trường, khơng chỉ hàng hố sản xuất

trong nước mà còn hàng hố nhập khẩu.

Với vai trò là nhà cung cấp vốn chủ yếu cho nền kinh tế, nhằm khơi

thông và góp phần ln chuyển hàng hố dịch vụ, các ngân hàng thương mại

nói chung và NHNT Việt Trì đã dần dần nhận ra tầm quan trọng của hoạt

động tín dụng tiêu dùng. Tuy các món vay tiêu dùng có giá trị không cao song

số lượng giao dịch sẽ rất lớn vì nhu cầu của thị trường này mới được khai thác

trong vài năm gần đây.

4.1.2. Định hướng hoạt động tín dụng tiêu dùng của NHNT Việt Trì

Nhận thức rõ được tiềm năng của thị trường tín dụng tiêu dùng hiện

nay đang rất dồi dào, cùng với lợi thế về các sản phẩm dịch vụ phát triển nhất

trong số các ngân hàng trên địa bàn. Ban giám đốc NHNT Việt Trì đã đưa ra

chiến lược phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ trong ngân hàng trong đó có

phát triển mảng tín dụng tiêu dùng như sau:

Thứ nhất, đa dạng hố các loại hình tín dụng, bên cạnh việc phát triển

các khách hàng là doanh nghiệp còn đặc biệt quan tâm đến hoạt động tín dụng

tiêu dùng. Tập trung phát triển bộ phận này bằng cách thành lập một tổ cho

vay tiêu dùng chuyên trách để dần dần thành lập một phòng cho vay tiêu dùng

hay phòng cho vay trả góp như Sở giao dịch NHNT Việt Nam đang thực hiện

khác thành công.

Thứ hai, công tác quản trị rủi ro phải đặc biệt được chú ý và theo định

hướng của một ngân hàng hiện đại, tiếp tục chương trình quy chế hố và quy

trình hố hoạt động tín dụng. Tăng cường hiệu quả hoạt động của tổ chức

kiểm tra, kiểm soát rủi ro như: tổ kiểm tra nội bộ để phát hiện ra những rủi ro

nhằm có biện pháp phòng tránh kịp thời.

Thứ ba, các qui chế tín dụng cần phải được củng cố và hồn thiện, một

số cơng cụ mới được đưa vào áp dụng như quy trình cho vay cụ thể đối với

88



từng loại hình tín dụng tiêu dùng sao cho phù hợp với hoạt động thực tế của

ngân hàng, các chỉ tiêu đánh giá một khách hàng thể nhân tốt.

Thứ tư, có sự phối kết hợp với các công ty kinh doanh nhà chung cư,

công ty bán ơtơ, các văn phòng tư vấn du học,..để ta có thể thuận tiện hơn

trong việc kiểm tra nguồn vốn cho vay đồng thời cũng qua họ để tìm hiểu các

thơng tin về khách hàng, nhờ họ giới thiệu các dịch vụ cho vay tiêu dùng của

ngân hàng.

Thứ năm, mở rộng mạng lưới chi nhánh, nâng cao chất lượng của đội

ngũ làm công tác cho vay thông qua việc tuyển dụng, đào tạo lại, tập huấn…

để từ đó nâng cao hơn nữa chất lượng hoạt động cho vay của Ngân hàng.

Hiện nay, mỗi cán bộ tín dụng phải đảm trách khoảng 97 tỷ đồng dư nợ là quá

cao.( 21 Cán bộ tín dụng/ 2039 tỷ dư nợ ). Thực tế cho thấy hiện nay cơng

việc của cán bộ tín dụng là q căng thẳng, tình trạng làm việc ngồi giờ và

làm thêm giờ diễn ra liên tục dẫn đến việc kiểm soát trước và sau khi cho vay,

tiếp xúc với khách hàng ngày càng ít và rất nguy hiểm dễ dẫn đến nguy cơ rủi

ro cao.

Thứ sáu, cân đối khả năng huy động vốn đặc biệt là nguồn vốn trung

và dài hạn để tăng trưởng tín dụng một cách phù hợp đảm bảo an toàn và hiệu

quả cao. Nhu cầu vay vốn trung dài hạn là rất lớn tuy nhiên, việc huy động

vốn trung dài hạn của ngân hàng lại có hạn, do vậy công tác cân đối vốn và

quản trị rủi ro thanh khoản cần phải làm rất tốt.

Thứ bảy, mở rộng khách hàng thể nhân ( cho vay cá nhân ) theo hướng

cung cấp các dịch vụ trọn gói cho khách hàng: mở tài khoản cá nhân, trả

lương qua tài khoản cho CBCNV, gửi tiết kiệm, phát hành thẻ tín dụng, cho

vay tiêu dùng,... Ngân hàng tiến tới khơng ngừng hồn thiện các sản phẩm

của mình để phục vụ cho khách hàng một cách tốt nhất.



89



Trong tiến trình hội nhập để theo kịp được sự phát triển của các ngân

hàng trong nước nói chung và các ngân hàng nước ngồi nói riêng, để thực

hiện các hoạt động giao dịch, thanh tốn và quản lý một cách có hiệu quả

nhằm thu hút khách hàng, Việc quản lý các thông tin khách hàng chưa được

cập nhật thường xuyên và đôi khi còn bỏ qua một số thơng tin quan trọng như

số điện thoại khách hàng, địa chỉ của khách hàng hầu hết ghi theo địa chỉ cũ

do vậy khi cần liên lạc với khách hàng rất khó. Ngồi ra, ngân hàng nên thực

hiện việc chuẩn hố “thơng tin khách hàng” để thuận lợi hơn cho việc tra cứu

thông tin khách hàng khi cần thiết. Hiện tại trên giấy đề nghị vay vốn của

khách hàng thiếu một số thông tin về cá nhân khách hàng mà trên cơ sở thơng

tin đó cán bộ tín dụng có thể chấm điểm theo hệ thống tính điểm tín dụng tiêu

dùng để làm căn cứ thẩm định bộ vay. Do đó, Ngân hàng nên có quy định cụ

thể và yêu cầu các cán bộ tín dụng hoặc những cán bộ mở tài khoản cá nhân

nên nhập đầy đủ và chính xác các thơng tin cần thiết về khách hàng giao dịch

với Ngân hàng để tiện cho việc theo dõi về sau.

Ngoài ra, Ngân hàng cũng xây dựng một cơ sở dữ liệu về việc quản lý

các khách hàng đã từng có quan hệ tín dụng với Ngân hàng, trên cơ sở đó

Ngân hàng có thể theo dõi q trình vay và trả của khách hàng có uy tín hay

khơng từ đó có thơng tin để thẩm định cho những lần vay sau. Đồng thời có

sự liên hệ với các ngân hàng trên cùng địa bàn và Trung tâm thơng tin tín

dụng ngân hàng Nhà Nước để nắm bắt thông tin về khách hàng vay vốn.

4.2. Một số giải pháp nhằm phát triển TDTD tại NHNT Việt Trì

4.2.1. Lập kế hoạch phát triển tín dụng tiêu dùng

Ngân hàng cần phải quy định trách nhiệm cũng như công việc cụ thể của

mỗi bộ phận, mỗi cán bộ, thời gian thực hiện, quy mô phát triển trên cơ sở đó

90



sẽ xác định nguồn lực và có kế hoạch phát triển nguồn nhân lực. Việc tuân thủ

quy trình và thực hiện một cách nghiêm túc sẽ đảm bảo việc quản lý hoạt

động tín dụng tiêu dùng thành cơng:

4.2.1.1.Thành lập một bộ phận cho vay tiêu dùng chuyên trách

Do hiện nay bộ phận cho vay tiêu dùng vẫn thuộc phòng cho vay kinh

doanh đảm trách, và giao cho một số cán bộ vừa cho vay kinh doanh vừa

cho vay tiêu dùng phụ trách nên hiệu quả cơng việc chưa cao. Ngồi ra, việc

cho vay phát hành thẻ tín dụng vẫn nằm ở bộ phận phát hành thẻ tín dụng

thuộc Phòng dịch vụ ngân hàng và tại các Phòng giao dịch. Như vậy, việc

quản lý hoạt động này là rất khó, do khơng tập trung tại một bộ phận và có

người quản lý chuyên trách nên chưa có chiến lược cụ thể để phát triển loại

hình dịch vụ này. Hơn nữa, khi có một tổ cho vay tiêu dùng hoạt động độc

lập Ban giám đốc ngân hàng có thể nhìn thấy ngay kết quả hoạt động của bộ

phận này qua các số liệu báo cáo thường xuyên. Đồng thời dễ dàng đưa ra

các biện pháp xử lý khi cần có sự thay đổi hay có sự cố trong hoạt động.

Việc phân cơng một số cán bộ chuyên cho vay tiêu dùng sẽ tạo điều kiện cho

họ có thể thẩm định khách hàng kỹ lưỡng hơn, họ có thời gian nghiên cứu

văn bản, chế độ về cho vay tiêu dùng đồng thời tập trung phát triển các loại

hình tín dụng tiêu dùng mới, cũng như việc tích luỹ kinh nghiệm trong hoạt

động cho vay này.

Trong quy trình tín dụng tiêu dùng cũng cần có những thay đổi về

phương án vay vốn cũng như trình tự thẩm định bộ vay khác với cho vay kinh

doanh, do việc cho vay tiêu dùng có những đặc điểm riêng, nếu ta áp dụng các

phương án vay kinh doanh hay vay sản xuất thì khách hàng rất khó thực hiện,

hơn nữa các thông tin trong việc thẩm định bộ vay tiêu dùng cũng khác với

việc thẩm định bộ vay sản xuất kinh doanh.

91



Bộ phận cho vay tiêu dùng sẽ hoạt động một cách độc lập, đồng thời từ

hoạt động cụ thể của bộ phận này Ban lãnh đạo ngân hàng sẽ đưa ra chiến

lược phát triển và triển khai hoạt động một cách nhanh chóng.

4.2.1.2. Xây dựng hệ thống tính điểm với tín dụng tiêu dùng

Hiện nay, việc thẩm định một bộ vay tiêu dùng tại NHNT Việt Trì vẫn

được thực hiện theo phương thức truyền thống, tốn nhiều chi phí mà việc thẩm

định đơi khi thiếu chính xác. Để có thể tiết kiệm chi phí trong q trình thẩm

định bộ vay ngân hàng nên áp dụng một phương thức tính điểm cho vay tiêu

dùng. Hiện nay, hệ thống NHNT cũng đã tiến hành áp dụng hệ thống chấm

điểm và xếp hạng doanh nghiệp. Vì vậy chúng ta nên mạnh dạn vận dụng hệ

thống tính điểm nói trên như một phương pháp tốt để lựa chọn khách hàng.

Ưu điểm của hệ thống tính điểm: loại bỏ hồn tồn những đánh giá mang

tính cá nhân và là cách đánh giá có hiệu quả thay vì chỉ dựa vào những cảm

nhận và đánh giá thiếu cơ sở của cán bộ trong quá trình thẩm định. Qua việc

sử dụng hệ thống tính điểm nói trên đã làm giảm thiểu chi phí và thời gian

thẩm định món vay một tuần xuống còn vài ngày, giúp ngân hàng có thể giải

quyết cơng việc nhanh chóng mà vẫn đảm bảo chất lượng khoản vay.

Để quản lý tín dụng tiêu dùng tại NHNT Việt Trì có hiệu quả chúng ta

nên kết hợp cả việc vận dụng hệ thống tính điểm nói trên và cách truyền

thống để có thể tận dụng được những ưu điểm của hai phương thức này.

4.2.2. Hồn thiện các sản phẩm tín dụng tiêu dùng của NHNT Việt

Trì

Hoạt động cho vay tiêu dùng của NHNT Việt Trì là tương đối mới mẻ do

đó các sản phẩm cho vay tiêu dùng còn chưa hồn thiện gây nên những khó

khăn trở ngại trong q trình thực hiện. Vậy để quản lý tốt hoạt động tín dụng



92



tiêu dùng tại NHNT Việt Trì thì việc hồn thiện các sản phẩm của ngân hàng là

một tất yếu:

4.2.2.1. Hồn thiện cho vay khơng có tài sản bảo đảm đối với CBCNV

thông qua phương thức người đại diện

Trong quá trình thực hiện cho vay khơng có tài sản bảo đảm đối với

CBCNV (vay tín chấp CBCNV) đã gặp phải một số vướng mắc sau:

Một là, số lượng món vay nhiều nhưng giá trị món vay nhỏ khiến cho

Ngân hàng mất rất nhiều thời gian cũng như chi phí trong q trình thẩm định

cho vay.

Hai là, ngồi những rủi ro khách quan từ phía khách hàng như thiên tai,

bệnh tật, bị giảm biên chế, mất việc làm ....thì Ngân hàng cũng gặp phải một

số rủi ro do người vay cố tình lợi dụng sự quản lý lỏng lẻo trong việc xác

nhận vay nhiều lần để vay tại các Ngân hàng khác nhau hoặc sử dụng vốn vay

khơng đúng mục đích, khiến Ngân hàng mất nhiều chi phí trong việc thu hồi

nợ vay.

Ba là, trong thời gian giao dịch của Ngân hàng thường trong giờ hành

chính như vậy, nếu các CBCNV, người lao động muốn vay hoặc trả gốc, lãi

cho Ngân hàng hàng tháng thì họ phải đến Ngân hàng trong giờ làm việc hoặc

xin nghỉ, chính điều này đã hạn chế nhu cầu vay đồng thời ảnh hưởng đến

việc phát triển tín dụng tiêu dùng.

Vì những khó khăn nói trên mà NHNT Việt Trì khơng muốn phát triển

loại hình cho vay này, do một phần không tin tưởng vào sự xác nhận của các

cơ quan quản lý lao động. Đối với những doanh nghiệp này rất có thể dựa vào

quen biết và nể nhau, xác nhận cho các CBCNV đi vay nhiều Ngân hàng khác

nhau. Hơn nữa, hiện tại số lượng cán bộ tín dụng còn mỏng, một cán bộ phải

kiêm nhiều việc, dư nợ lớn do đó khơng có đủ thời gian để theo dõi các món

nợ nên rất có thể xảy ra tình trạng q hạn.

93



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 3.6: Chỉ số cạnh tranh cấp tỉnh năm 2014

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×