Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hình 1.2: Sơ đồ Cho vay tiêu dùng trực tiếp

Hình 1.2: Sơ đồ Cho vay tiêu dùng trực tiếp

Tải bản đầy đủ - 0trang

-



Tiền vay được chuyển vào tài khoản tiền gửi của khách hàng



Phương thức này thương áp dụng trong trường hợp khách hàng có tài

khoản tại ngân hàng và chưa sử dụng ngay số tiền vay, họ có thể để tiền trong

tài khoản để tiện rút ra khi có nhu cầu chi tiêu.

1.4. Nghiệp vụ tín dụng tiêu dùng và quản lý tín dụng tiêu dùng của

ngân hàng thương mại

1.4.1. Khái niệm quản lý tín dụng tiêu dùng

Tín dụng là yếu tố quyết định quá trình hoạt động kinh doanh của

NHTM. Trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, tín dụng là yếu tố đầu ra,

là sản phẩm đầu ra quan trọng mà ngân hàng cung cấp cho nền kinh tế. Việc

huy động và cho vay phải được tiến hành như thế nào cho phù hợp, thoả mãn

tối đa nhu cầu của nền kinh tế, cũng như tối đa lợi nhuận của ngân hàng trên

cơ sở chi phí thấp nhất. Tín dụng và tín dụng tiêu dùng cùng nằm trong một

phương thức quản lý, một trong những công tác cơ bản và đặc biệt quan trọng

trong hoạt động kinh doanh của NHTM.

Việc quản lý tín dụng tiêu dùng là sự tác động của các nhà quản lý tới

các hoạt động tín dụng tiêu dùng, nó được thực hiện thơng qua hệ thống các

chính sách, quy định các hình thức và cơng cụ được vận dụng để quản lý tín

dụng của ngân hàng trong những điều kiện cụ thể nhằm đạt được những mục

tiêu nhất định.

Hệ thống các loại công việc và hoạt động cụ thể của các nhà quản lý,

được tiến hành thường xuyên, liên tục, nhất quán như: lập kế hoạch về cho

vay tiêu dùng, xây dựng mạng lưới, xác định biên chế nhân viên trực tiếp

tham gia vào hoạt động tín dụng, xây dựng cơ chế nghiệp vụ, chính sách

khách hàng, chỉ đạo và kiểm tra..



21



1.4.2. Mục đích cơng tác quản lý tín dụng tiêu dùng

Quản lý tín dụng tiêu dùng trong hoạt động kinh doanh chính là

những phương thức quản lý để đạt được những mục tiêu nhất định và phải

thông qua việc đạt được các mục tiêu đó, ngân hàng mới có thể đạt được

mục tiêu cuối cùng của mình là phát triển tín dụng, thu lợi nhuận tối đa,

trên cơ sở thoả mãn tối ưu nhu cầu của khách hàng và tối thiểu hố mọi

chi phí hoạt động. Những mục tiêu đó chính là mục đích để các ngân hàng

hướng tới trong kế hoạch hoạt động kinh doanh từng thời kỳ.

Thứ nhất: Cơng tác tín dụng tiêu dùng phải đảm bảo cân đối các hình

thức tín dụng khác trong ngân hàng.

Thứ hai: Cơng tác tín dụng tiêu dùng phải đảm bảo cân đối giữa dư nợ

và tín dụng trong mọi thời điểm.

Thứ ba: Cơng tác tín dụng tiêu dùng phải đảm bảo các chỉ tiêu về hoạt

động, đặc biệt là các chỉ tiêu về an toàn theo quy định trong hoạt động kinh

doanh của ngân hàng.

Thứ tư: Mục tiêu và cũng là mục đích hoạt động cao nhất mà mọi

thành viên trong ban giám đốc cũng như mọi nhân viên ngân hàng hướng tới

là lợi nhuận.

Đặc điểm riêng của kinh doanh ngân hàng là giữa các chu kỳ hoạt động

khơng có sự phân định rõ ràng như trong các doanh nghiệp sản xuất hay

doanh nghiệp thương mại, hoạt động kinh doanh ngân hàng mang tính chất

liên tục, với sự đan xen của nhiều hoạt động liên quan đến cả yếu tố đầu vào

cũng như yếu tố đầu ra. Chỉ khi các hoạt động ở đầu ra ( cho vay) tạo ra thu

nhập cao hơn chi phí của các hoạt động đầu vào ( dư nợ) thì đó là lúc ngân

hàng có lãi.



22



1.4.3. Hiệu quả cơng tác quản lý tín dụng tiêu dùng tại ngân hàng

thương mại

1.4.3.1. Khái niệm về hiệu quả cơng tác quản lý tín dụng tiêu dùng tại

ngân hàng thương mại

Mục tiêu của quản lý tín dụng tiêu dùng tại NHTM là nâng cao hiệu

quả nhằm tối đa hoá lợi nhuận, tối đa hoá giá trị tài sản cho chủ sở hữu ngân

hàng. Do đó, khi đánh giá về cơng tác tín dụng tiêu dùng thực chất là đánh giá

hiệu quả công tác quản lý vốn của ngân hàng. Hiệu quả của huy động vốn

được đo lường bởi nhiều chỉ tiêu và cuối cùng được thể hiện ở thước đo lợi

nhuận và rủi ro ngân hàng.

Trong kinh doanh ngân hàng, lợi nhuận luôn song hành với rủi ro, sự

đánh đổi giữa lợi nhuận và rủi ro luôn là thách thức dành cho các nhà quản lý

NHTM. Nếu lợi nhuận càng cao thì mức độ rủi ro sẽ càng lớn và ngược lại,

độ rủi ro thấp luôn đi liền với lợi nhuận thấp. Hoạt động tín dụng ln phải

xem xét mức độ chấp nhận rủi ro là bao nhiêu để tăng lợi nhuận, với mỗi loại

rủi ro thì chấp nhận ở mức độ nào?

Do đó, để cơng tác quản lý tín dụng tiêu dùng có hiệu quả nghĩa là phải

đạt được chỉ tiêu lợi nhuận cao với độ rủi ro ở mức chấp nhận được.

Hiệu quả cơng tác quản lý tín dụng tiêu dùng tại NHTM là phạm trù

phản ánh trình độ, khả năng đảm bảo thực hiện cơng tác quản lý tín dụng

tiêu dùng có kết quả cao, đảm bảo an toàn trong hoạt động, với chi phí nhỏ

nhất, rủi ro thấp nhất và đáp ứng nhu cầu tín dụng cho hoạt động tiêu dùng,

cho vay tiêu dùng của ngân hàng một cách có hiệu quả nhất.

1.4.3.2. Sự cần thiết phải hồn thiện cơng tác quản lý tín dụng tiêu dùng tại

NHTM

Tín dụng nói chung và tín dụng tiêu dùng nói riêng là nội dung quản lý

hết sức quan trọng ở các NHTM. Chất lượng của cơng tác tín dụng quyết

định sự thành cơng hay thất bại của một NHTM nói chung, bởi lẽ:

23



- Do sự phát triển của khoa học kỹ thuật (trình độ cơng nghệ thơng tin)

và thị trường đã đòi hỏi các NHTM phải khơng ngừng tăng cường tiềm lực tài

chính, mở rộng quy mô hoạt động, nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ

để tăng khả năng cạnh tranh của mình. Muốn vậy, các NHTM cần phải khơng

ngừng tìm mọi biện pháp nâng cao cơng tác quản lý tín dụng cũng như ln

đổi mới bằng cách hiện đại hố trong nghiệp vụ tín dụng.

- Do những thay đổi trong môi trường kinh doanh trong nước và quốc

tế nên công tác quản lý tín dụng tiêu dùng của NHTM cần thay đổi sao cho

phù hợp và thích ứng với những thay đổi của mơi trường. Do đó, để tồn tại,

phát triển, đứng vững trong cạnh tranh đòi hỏi các NHTM phải liên tục nâng

cao cơng tác quản lý tín dụng tiêu dùng của mình.

1.4.4. Sự cần thiết tín dụng tiêu dùng của Ngân hàng thương mại

1.4.4.1 Ngân hàng thương mại có khả năng đáp ứng tốt nhất nhu cầu vay

tiêu dùng của cá nhân

Với sự dồi dào về cả nguồn vốn và nguồn nhân lực thì các NHTM là

tổ chức có thể đáp ứng tốt nhất nhu cầu vay tiêu dùng đối với các cá

nhân.Nhu cầu vay tiêu dùng của các cá nhân là rất lớn, nhu cầu cũng như

mong muốn của mỗi người là vô hạn song khả năng thanh tốn của mỗi

người lại hữu hạn.Chính vì vậy nhu cầu có khả năng thanh tốn của mỗi

người là rất nhỏ so với những mong muốn của họ.

Bên cạnh đó, một số người có thu nhập ổn định muốn đáp ứng ngay

những nhu cầu của mình trước khi có đủ tiền để thanh toán. Giả sử một số

trường hợp người tiêu dùng khơng có đủ tiền để thanh tốn cho những khoản

chi tiêu của mình chỉ diễn ra tạm thời, trong khi nhu cầu chi tiêu của họ lại

mang tính cấp thiết như viện phí, cơ hội mua một số tài sản trong gia đình…Vì

vậy, nhu cầu vay tiêu dùng luôn diễn ra trong mọi nền kinh tế, để đáp ứng các

nhu cầu này NHTM thực hiện cho vay tiêu dùng là hết sức cần thiết.



24



Khi có nhu cầu vay tiêu dùng người ta có thể vay bạn bè, người thân

hoặc vay từ các tổ chức ngoài ngân hàng, như hội phụ nữ, hội hưu trí, cơng ty

tài chính,..thậm chí các tổ chức cho vay nặng lãi. Tuy nhiên, việc đi vay người

thân hay bạn bè một số tiền lớn là rất khó vì nếu có tiền họ sẽ đầu tư vào kinh

doanh hoặc gửi tiền tiết kiệm để lĩnh lãi. Trong trường hợp người có tiền cho

vay cũng rất băn khoăn về độ tin cậy cũng như uy tín của người vay, nếu có

thế chấp tài sản cũng rất khó có được một hợp đồng làm thoả mãn cả hai bên

với các điều kiện ràng buộc về mặt pháp lý.

So với các tổ chức tín dụng tiêu dùng khác thì các NHTM có lợi thế

hơn nhiều do: NHTM có nguồn vốn lớn, khả năng thẩm định tín dụng tốt, hệ

thống thanh toán tốt, mạng lưới chi nhánh rộng khắp. Đối với hầu hết các

khách hàng hiện nay họ rất trung thành với một số ít ngân hàng mà họ đang

giao dịch đặc biệt các ngân hàng gần nơi họ sinh sống.Với những điều kiện

thuận lợi nói trên NHTM có thể thực hiện tốt hoạt động tín dụng tiêu dùng

đối với các khách hàng là cá nhân.

Bên cạnh việc tài trợ cho các khách hàng là cá nhân ngân hàng còn đa

dạng hố các loại hình cho vay góp phần làm phong phú các sản phẩm kinh

doanh tiền tệ đồng thời giảm thiểu rủi ro.

1.4.4.2. Lợi ích của Ngân hàng thương mại khi phát triển tín dụng tiêu

dùng

Thơng qua hoạt động tín dụng tiêu dùng các NHTM góp phần lưu

thơng hàng hóa dịch vụ, tác động tích cực đến q trình sản xuất kinh doanh,

đồng thời kích thích mở rộng sản xuất.Tín dụng tiêu dùng sẽ từng bước giải

quyết mâu thuẫn giữa nhu cầu tiêu dùng và khả năng thanh tốn tức thời,

nhằm tạo điều kiện cho việc lưu thơng hàng hố tiêu dùng. Nhờ một phần vào

hoạt động tín dụng tiêu dùng phát triển NHTM có điều kiện mở rộng và phát

triển hoạt động cho vay, đồng thời thông qua hoạt động tín dụng tiêu dùng sẽ

25



góp phần quảng bá hình ảnh NHTM sâu rộng hơn trong đời sống xã hội, đưa

hoạt động ngân hàng đến với từng người dân và hộ gia đình.

Ngồi ra, đối với người vay tiêu dùng, khi họ được sử dụng tài sản mà

lâu nay mơ ước họ sẽ có ý thức tiết kiệm hơn, làm việc có hiệu quả cao

hơn.Hơn nữa, ý thức trách nhiệm trả nợ ngân hàng cũng khiến cho người vay

có động lực cố gắng làm việc.Như vậy, thơng qua việc cho vay tiêu dùng

không chỉ người tiêu dùng được hưởng lợi mà còn có nhiều người khác được

hưởng lợi từ việc tiêu dùng đó.

Việc tài trợ cho hoạt động tiêu dùng góp phần gián tiếp tài trợ cho hoạt

động sản xuất của nền kinh tế, cũng nhờ đó hoạt động tín dụng nói riêng và

các hoạt động của ngân hàng nói chung có cơ hội phát triển.

Đối với các công ty là doanh nghiệp kinh doanh các sản phẩm mà ngân

hàng đang cho vay tiêu dùng, thông qua hoạt động cho vay tiêu dùng ngân

hàng đã rút ngắn thời gian cho vay kinh doanh và thời gian cho vay sản xuất,

dễ dàng thu nợ các công ty này.

Nhiều người cho rằng tín dụng tiêu dùng có độ rủi ro cao song đây lại

là hoạt động có tỷ suất lợi nhuận tương đối cao và được coi là khoản mục có

khả năng sinh lời cao nhất trong danh mục tài sản của NHTM. Tuy nhiên, tỷ

trọng doanh số cho vay tiêu dùng so với tổng doanh số cho vay, cũng như dư

nợ cho vay tiêu dùng so với tổng dư nợ cho vay là rất nhỏ do vậy, tỷ lệ nợ quá

hạn TDTD trên tổng dư nợ của ngân hàng là rất nhỏ và hầu hết các khoản vay

tiêu dùng đều có tài sản bảo đảm do vậy nguy cơ mất trắng là rất ít. Nếu ngân

hàng có những biện pháp quản lý khoản vay một cách hiệu quả hơn và đưa ra

những quy định chặt chẽ nhằm kiểm soát và hạn chế rủi ro xảy ra.

1.4.5. Nhu cầu vay tiêu dùng và các nguồn tài trợ

Thông qua hoạt động tín dụng tiêu dùng (hay hoạt động cho vay tiêu

dùng) của ngân hàng mà các khách hàng là các cá nhân hay hộ gia đình có

26



điều kiện tiêu dùng hay sử dụng các hàng hoá dịch vụ trước khi họ có khả

năng chi trả.

Trong cuộc sống nhu cầu của con người là vô hạn, con người không chỉ

thoả mãn với những nhu cầu tối thiểu là “đủ ăn, đủ mặc” mà còn có nhu cầu

ăn ngon, mặc đẹp, ln có mong muốn thoả mãn những nhu cầu mới, ngoài

khả năng chi trả của mình.

Trên thực tế nhu cầu của con người không dừng lại ở mức độ đủ khả

năng thanh tốn mà họ có xu hướng vươn tới những nhu cầu tiêu dùng cao

hơn, những nhu cầu ngoài khả năng thanh tốn của họ. Phần lớn dân cư khơng

thể có một lượng tiền lớn hay những khoản thu nhập lớn mà chủ yếu là có

được từ tích luỹ nhiều năm. Trong khi đó nhu cầu tiêu dùng của dân cư lại rất

đa dạng và phong phú, ngoài ra nhu cầu tiêu dùng đều xuất phát từ các nhu

cầu thực tế của đời sống do đó nếu chờ tới khi có đủ tiền tích luỹ thì nó đã

q lỗi thời.

Các nguồn cung cấp tín dụng tiêu dùng chủ yếu là: các ngân hàng

thương mại, cơng ty tài chính, cơng ty bảo hiểm, ngân hàng tiết kiệm bưu

điện, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, hợp tác xã, hiệu cầm đồ…

Xuất phát từ những mong muốn nhằm thoả mãn nhu cầu tiêu dùng của

người dân các tổ chức tài chính trong đó có các Ngân hàng Thương mại đã

cung cấp các hình thức tín dụng tiêu dùng.Thơng qua hình thức tín dụng tiêu

dùng (TDTD) người dân có thể mua sắm, trang trải các khoản chi tiêu trước

khi họ tích luỹ đủ tài chính.

1.4.6. Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý tín dụng tiêu dùng tại

Ngân hàng thương mại

1.4.6.1. Các nhân tố chủ quan

Các nhân tố chủ quan là các nhân tố thuộc về bản thân ngân hàng, nó

có vai trò quyết định đến việc phát triển hoạt động tín dụng tiêu dùng của

27



ngân hàng thương mại. Trước khi quyết định có phát triển hoạt động tín dụng

tiêu dùng hay khơng các ngân hàng phải cân nhắc về những lợi ích mà hoạt

động này mang lại.

Hoạt động tín dụng tiêu dùng cũng là một trong các hoạt động đang

đem lại nhiều lợi ích cho các ngân hàng. Khi nhận thức được những lợi ích

mà hoạt động này đem lại họ thường đưa ra những chiến lược, chính sách,

phương hướng hoạt động cùng một số biện pháp cụ thể để phát triển hoạt

động này.

Hơn nữa, khi quyết định lựa chọn hoạt động tài trợ mới các ngân hàng

đều cân nhắc đến lợi nhuận dự tính mà hoạt động này đem lại so với một hoạt

động tài trợ khác. Với điều kiện các yếu tố khác không đổi các ngân hàng

muốn cung cấp một khoản vay có tỷ lệ thu nhập dự tính cao nhất sau khi đã

trừ đi tồn bộ chi phí và một phần rủi ro tín dụng. Như vậy, một trong những

điều kiện quan trọng quyết định việc phát triển hoạt động tín dụng tiêu dùng

mà khơng đầu tư vào hoạt động khác là lợi nhuận dự tính từ hoạt động tín

dụng tiêu dùng phải lớn hơn lợi nhuận dự tính từ hoạt động tài trợ khác.

Trong đó, lợi nhuận dự tính từ hoạt động tín dụng tiêu dùng lại phụ

thuộc vào yếu tố: Lãi từ cho vay tiêu dùng và một số yếu tố khác như: chi phí

thẩm định, chi phí cho vay, đồng thời ngăn ngừa và hạn chế rủi ro.

Trong điều kiện cạnh tranh hiện nay các ngân hàng không thể tự quyết

định mức lãi suất cho vay tiêu dùng mà phải phụ thuộc vào tình hình thị

trường.Như vậy, yếu tố quyết định đến lợi nhuận dự tính của hoạt động tín

dụng tiêu dùng là khả năng của các ngân hàng trong việc giảm bớt các chi phí

trong quá trình cho vay, đồng thời giảm thiểu rủi ro trong cho vay tiêu dùng.

Như vậy, các nhân tố tác động đến hoạt động quản lý tín dụng tiêu

dùng như sau:



28



-



Hệ thống mạng lưới chi nhánh của ngân hàng



Mạng lưới chi nhánh rộng lớn sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho ngân hàng

trong việc phát triển hoạt động kinh doanh của ngân hàng nói chung và hoạt

động tín dụng tiêu dùng nói riêng. Hệ thống mạng lưới chi nhánh của ngân

hàng càng phát triển rộng, ngân hàng sẽ đáp ứng được tối đa nhu cầu của

khách hàng. Hơn nữa, khách hàng sẽ dễ dàng tiếp cận với các dịch vụ của

ngân hàng đồng thời ngân hàng có thể nắm bắt kịp thời các thông tin về khách

hàng, các thông tin này sẽ hỗ trợ cho cán bộ trong quá trình thẩm định khách

hàng vay vốn.

-



Quy mô ngân hàng



Quy mô ngân hàng cũng ảnh hưởng trực tiếp đến việc phát triển hoạt

động tín dụng tiêu dùng. Đối với những ngân hàng có quy mơ lớn thì chi phí

huy động vốn sẽ thấp hơn những ngân hàng có quy mơ nhỏ. Chi phí huy động

vốn thấp thì lãi suất đầu ra hay lãi suất cho vay cũng thấp, chênh lệch giữa lãi

suất huy động và lãi suất cho vay lớn sẽ tạo ra một khoản lợi nhuận lớn hơn.

Ngoài ra ngân hàng có quy mơ lớn sẽ tạo được uy tín đối với khách hàng,

tiềm lực tài chính mạnh do đó có điều kiện áp dụng khoa học cơng nghệ mới

nhờ đó giảm bớt chi phí nhân cơng nâng cao năng suất lao động đồng thời

đáp ứng tốt hơn nhu cầu khách hàng.

-



Số lượng và trình độ chun mơn của cán bộ tín dụng



Để thành cơng trong cơng tác quản lý và kinh doanh thì việc quản lý và

đào tạo một đội ngũ cán bộ tín dụng có trình độ chun mơn cao, phẩm chất

đạo đức tốt, giàu kinh nghiệm luôn là mục tiêu phấn đấu của các ngân hàng.

Cán bộ tín dụng có phẩm chất đạo đức tốt sẽ giảm thiểu các tiêu cực cũng như

rủi ro cho các ngân hàng trong q trình cho vay bởi họ khơng vì mục tiêu cá

nhân mà cho vay các đối tượng có khả năng trả nợ kém. Hơn nữa, một cán bộ



29



tín dụng giàu kinh nghiệm, giỏi chun mơn có thể tiếp cận được các khách

hàng tốt và thẩm định khách hàng một cách nhanh chóng khi tiến hành cho

vay. Trên cơ sở đó đưa ra một loạt điều kiện tương đối chặt chẽ và các tài sản

bảo đảm nhưng cũng hết sức linh hoạt mà hiếm khi để xảy ra những rủi ro

cũng như tổn thất cho ngân hàng.

Cho vay tiêu dùng nhằm đáp ứng nhu cầu rất lớn của các cá nhân, ngồi

ra các món vay tiêu dùng phát sinh thường xuyên với những khách hàng khác

nhau, mục đích vay tiêu dùng đa dạng. Hơn nữa, đối với mỗi khách hàng vay

tiêu dùng mới yêu cầu cán bộ tín dụng phải thẩm định lại từ đầu. Do đó, số

lượng cán bộ tín dụng đủ để giải quyết các nhu cầu vay tiêu dùng sẽ giúp cho

hoạt động tín dụng tiêu dùng của ngân hàng diễn ra thuận lợi đồng thời đảm

bảo chất lượng món vay có hiệu quả cao.

-



Sản phẩm tín dụng tiêu dùng đa dạng phong phú



Việc phát triển hoạt động tín dụng tiêu dùng chỉ có hiệu quả khi hoạt

động này được đưa ra một cách phù hợp và đáp ứng được các yêu cầu cần

thiết của một số khách hàng tiềm năng. Tuy nhiên, khả năng đáp ứng các sản

phẩm của hoạt động tín dụng tiêu dùng đến đâu còn phụ thuộc vào trình độ

chun mơn, cơng nghệ ngân hàng, chính sách hoạt động của ngân hàng đó.

-



Cơng nghệ ngân hàng hiện đại



Công nghệ ngân hàng hiện đại và phù hợp giúp giảm bớt các chi phí phát

sinh trong quá trình cho vay tiêu dùng đồng thời giảm bớt thời gian đi lại cho

khách hàng. Ngồi ra, cơng nghệ ngân hàng hiện đại còn hỗ trợ cho việc triển

khai các hoạt động tín dụng tiêu dùng có hàm lượng công nghệ cao như cho

vay thấu chi, cho vay thơng qua thẻ tín dụng.

- Chính



sách cho vay tiêu dùng của ngân hàng



30



Theo quy chế cho vay thì bất kỳ một cá nhân hay một tổ chức kinh tế

nào phát sinh nhu cầu vay vốn tại ngân hàng đều phải đáp ứng một số điều

kiện nhất định, vay tiêu dùng cũng khơng nằm ngồi quy chế này. Thơng qua

các điều kiện này ngân hàng có thể loại một số khách hàng khơng có đủ điều

kiện vay ngân hàng, những khách hàng khơng có khả năng trả nợ.

Nếu các điều kiện cho vay được nới lỏng hơn sẽ có nhiều khách hàng

được vay vốn đồng thời việc cho vay sẽ được phát triển nhưng ngân hàng

cũng phải đối mặt với nhiều rủi ro hơn. Do vậy, cùng với sự phát triển hoạt

động tín dụng tiêu dùng ngân hàng cũng phải đảm bảo được các điều kiện cho

vay phù hợp để lợi ích thu được từ việc cho vay dễ dàng hơn đồng thời phải

lớn hơn những tổn thất ngân hàng phải gánh chịu từ những khoản tín dụng

xấu kém chất lượng.

1.4.6.2.Các nhân tố khách quan

 Các nhân tố thuộc về khách hàng

-



Khách hàng luôn là nhân tố quyết định đến những thành cơng trong



việc phát triển hoạt động tín dụng tiêu dùng. Hoạt động tín dụng tiêu dùng có

khả năng phát triển hay không phụ thuộc vào quy mô và khả năng tăng trưởng

nhu cầu vay tiêu dùng tại ngân hàng của khách hàng. Như vậy, việc phát triển

hoạt động tín dụng tiêu dùng tại các ngân hàng ngày càng có điều kiện thực

hiện do nhu cầu của người dân đang ngày càng tăng cao do đó nhu cầu vay

tiêu dùng ngày càng tăng, tuy nhiên nó còn phụ thuộc vào một trong các yếu

tố sau:

-



Quy mô nhu cầu khách hàng tiêu dùng những mặt hàng có giá trị cao, sử



dụng lâu bền.Hầu hết các khách hàng có nhu cầu vay tín dụng để tài trợ cho việc

mua sắm những mặt hàng tiêu dùng có giá trị cao, sử dụng lâu bền vì để mua

được các mặt hàng này người tiêu dùng phải tích luỹ tiền trong một thời gian dài.

31



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hình 1.2: Sơ đồ Cho vay tiêu dùng trực tiếp

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×