Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Đối tượng vay tiêu dùng đa dạng:

Đối tượng vay tiêu dùng đa dạng:

Tải bản đầy đủ - 0trang

mô của các khoản vay này tương đối nhỏ.Phần lớn các khoản vay loại này

được dùng để chi trả cho các chuyến đi nghỉ, tiền viện phí, mua các dụng cụ

gia đình hoặc sửa chữa ơ tơ và nhà ở.

 Cho vay tiêu dùng tuần hoàn

Cho vay tiêu dùng tuần hồn là loại cho vay tiêu dùng trong đó khách

hàng được ngân hàng cho phép thực hiện việc vay và trả nợ một cách tuần

hồn theo một hạn mức tín dụng trong một thời gian nhất định. Tính chất tuần

hồn được thể hiện ở chỗ: người tiêu dùng có thể vay tới mức tối đa, hoàn trả

tất cả hoặc một phần số tiền đã vay sau đó lại vay tiếp, có thể lên đến mức tối

đa… cho tới khi hết thời hạn rút vốn quy định trong hợp đồng.

1.3.3.2. Căn cứ vào đối tượng vay

Việc thẩm định và xét duyệt cho vay đối với người đi vay là nguồn trả

nợ. Vì vậy việc phân loại khách hàng theo cơng việc và thu nhập sẽ khiến

ngân hàng dễ đàng hơn trong việc sàng lọc các đối tượng vay.

 Phân loại khách hàng cá nhân theo mức thu nhập

-



Những cá nhân có mức thu nhập thấp



-



Những cá nhân có thu nhập trung bình



-



Những cá nhân có thu nhập cao



Nói chung nhu cầu tiêu dùng của nhóm thu nhập trung bình và nhóm thu

nhập cao chiếm tỷ trọng lớn trong tổng mức cầu tiêu dùng cá nhân, vì vậy nhu

cầu vay tiêu dùng tại các ngân hàng của hai đối tượng này chiếm tỷ trọng cao.

 Phân loại khách hàng theo tình trạng công việc hay lao động

Thông thường nhu cầu vay của các cá nhân khác nhau phụ thuộc vào

tình trạng tài chính của họ hơn nữa tình trạng tài chính lại phụ thuộc vào công

tác của họ hay công việc của các lao động cá nhân. Từ đó ta có thể xếp loại

khách hàng theo tình trạng cơng tác hay lao động:

16



Những người làm cơng ăn lương

Những người có cơng việc kinh doanh

Những người hành nghề chuyên nghiệp: các chuyên gia tư vấn, kiến

trúc sư, ca sĩ, bác sĩ….

Những người làm nghề lao động tự do: những người buôn bán nhỏ, làm

nghề thủ cơng, ….

Đối với những nhóm khác nhau có mức thu nhập cũng như sự ổn định

về thu nhập khác nhau. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định cấp tín

dụng của ngân hàng, nguồn trả nợ cả gốc và lãi của các cá nhân.

1.3.3.3. Căn cứ vào mục đích vay

 Cho vay tiêu dùng cư trú:Cho vay tiêu dùng cư trú là các khoản cho

vay nhằm tài trợ cho nhu cầu mua sắm, xây dựng hay cải tạo nhà ở của khách

hàng là cá nhân hay hộ gia đình

 Cho vay tiêu dùng phi cư trú: Cho vay tiêu dùng phi cư trú là các

khoản cho vay nhằm tài trợ cho việc trang trải các chi phí mua sắm xe cộ, đồ

dùng gia đình, chi phí học hành, du lịch, hay thanh tốn tiền viện phí…

1.3.3.4. Căn cứ vào nguồn gốc của khoản nợ

 Cho vay tiêu dùng gián tiếp: Cũng như cho vay thương mại cho

vay tiêu dùng có thể được thực hiện một cách gián tiếp thông qua các tổ chức

trung gian như các nhà cung cấp xe hơi, các công ty kinh doanh nhà chung cư,

cơng ty kinh doanh thiết bị gia đình … Thay vì cho vay trực tiếp khách hàng

ngân hàng có thể cho vay thơng(1)qua nhà cung cấp hàng hố. Cho vay tiêu











dùng gián tiếp là hình thức cho vay

(4) trong đó ngân hàng cho vay đối với cơng

ty bán lẻ để trên cơ sở đó cơng ty(5)

bán lẻ bán chịu cho khách hàng.



CƠNG TY BÁN LẺ

NGÂN

HÀNG

Hình 1.1:

Sơ đồ Cho vay tiêu dùng gián tiếp

(2)



(5)







17

NGƯỜI TIÊU DÙNG



(3)



(1) Ngân hàng ký hợp đồng “mua nợ” từ công ty bán lẻ, thông thường

ngân hàng mua lại các phiếu bán hàng từ công ty bán lẻ hàng hoá cho người

tiêu dùng hoặc từ những nhà cung cấp hàng hoá dịch vụ tiêu dùng. Phiếu bán

hàng gồm phiếu ghi nợ và các cam kết bảo đảm cho khoản mua chịu.

(2) Công ty bán lẻ ký hợp đồng mua bán chịu hàng hố thơng thường

người tiêu dùng phải trả trước từ 20% - 40% giá trị tài sản tài sản mua trả góp

và cam kết thanh tốn số tiền còn lại, người mua cũng đồng ý dùng tài sản

mua trả góp làm tài sản thế chấp.

(3) Công ty bán lẻ giao tài sản cho người tiêu dùng, nhưng vẫn nắm

quyền sở hữu tài sản.

(4) Công ty bán lẻ tập hợp các phiếu bán hàng có thoả mãn các điều

kiện, tiêu chuẩn tín dụng của ngân hàng, nộp lên ngân hàng đề nghị ngân

hàng mua lại các phiếu bán hàng chịu.

(5) Sau khi xem xét Ngân hàng sẽ mua lại phiết bán hàng theo một tỷ

lệ so với số tiền ghi trên phiết nợ, tỷ lệ này phụ thuộc vào:

a.



Khả năng thanh toán của người mua hàng



b.



Chất lượng của tài sản thế chấp



c.



Thời hạn của các khoản phải thu



18



d.



Lãi suất cho vay của ngân hàng cùng thời kỳ



e.



Chi phí theo dõi, kiểm sốt khoản vay



(6)



Ngân hàng sẽ có quyền sở hữu đối với các khoản nợ mà ngân



hàng đã mua lại đồng thời thông báo cho khách hàng biết và chuyển số tiền

đang nợ công ty bán lẻ cho ngân hàng.

Thông thường các công ty bán lẻ (người bán nợ) cam kết dành ra một phần

vốn để bù đắp một phần hay toàn bộ những tổn thất mà ngân hàng có thể phải

gánh chịu nếu như các khoản nợ khơng được thanh tốn và nó cũng bảo vệ cho

nhà cung cấp khỏi những thiếu hụt tạm thời về tài chính, khoản vay như vậy là

“khoản dự trữ”.





Cho vay tiêu dùng gián tiếp được thực hiện thông qua các phương



thức sau:

-



Tài trợ truy đòi toàn bộ



-



Tài trợ truy đòi hạn chế



-



Tài trợ miễn truy đòi



-



Tài trợ có mua lại



 Cho vay tiêu dùng trực tiếp

Cho vay tiêu dùng trực tiếp là khoản tín dụng tiêu dùng trong đó ngân

hàng trực tiếp tiếp xúc và cho khách hàng vay cũng như trực tiếp thu nợ từ

người vay.



19



Hình 1.2: Sơ đồ Cho vay tiêu dùng trực tiếp











(3)



CÔNG TY BÁN LẺ



NGÂN HÀNG

(1)



(2)



(5)



(4)







NGƯỜI TIÊU DÙNG



(1) Người tiêu dùng có nhu cầu vay đến ngân hàng có yêu cầu vay vốn.

Ngân hàng tiến hành phân tích tín dụng. Trong trường hợp ngân hàng đồng ý

cho vay, Ngân hàng và người tiêu dùng ký kết hợp đồng tín dụng.

(2) Người tiêu dùng trả trước một phần số tiền mua tài sản cho công ty

bán lẻ

(3) Ngân hàng thanh toán số tiền mua tài sản còn thiếu cho cơng ty bán

lẻ và nắm giữ các chứng từ sở hữu tài sản

(4) Công ty bán lẻ giao tài sản cho người tiêu dùng

(5) Người tiêu dùng thanh toán tiền vay cho ngân hàng, số tiền mà

khách hàng phải trả cho ngân hàng sẽ lớn hơn số tiền mà ngân hàng trả cho

công ty bán lẻ, do có phần lãi trả chậm. Phương thức hồn trả có thể là trả một

lần hoặc trả góp.

Các phương thức cho vay tiêu dùng trực tiếp mà ngân hàng cung

cấp

-



Giải ngân trực tiếp cho khách hàng

20



-



Tiền vay được chuyển vào tài khoản tiền gửi của khách hàng



Phương thức này thương áp dụng trong trường hợp khách hàng có tài

khoản tại ngân hàng và chưa sử dụng ngay số tiền vay, họ có thể để tiền trong

tài khoản để tiện rút ra khi có nhu cầu chi tiêu.

1.4. Nghiệp vụ tín dụng tiêu dùng và quản lý tín dụng tiêu dùng của

ngân hàng thương mại

1.4.1. Khái niệm quản lý tín dụng tiêu dùng

Tín dụng là yếu tố quyết định q trình hoạt động kinh doanh của

NHTM. Trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, tín dụng là yếu tố đầu ra,

là sản phẩm đầu ra quan trọng mà ngân hàng cung cấp cho nền kinh tế. Việc

huy động và cho vay phải được tiến hành như thế nào cho phù hợp, thoả mãn

tối đa nhu cầu của nền kinh tế, cũng như tối đa lợi nhuận của ngân hàng trên

cơ sở chi phí thấp nhất. Tín dụng và tín dụng tiêu dùng cùng nằm trong một

phương thức quản lý, một trong những công tác cơ bản và đặc biệt quan trọng

trong hoạt động kinh doanh của NHTM.

Việc quản lý tín dụng tiêu dùng là sự tác động của các nhà quản lý tới

các hoạt động tín dụng tiêu dùng, nó được thực hiện thơng qua hệ thống các

chính sách, quy định các hình thức và cơng cụ được vận dụng để quản lý tín

dụng của ngân hàng trong những điều kiện cụ thể nhằm đạt được những mục

tiêu nhất định.

Hệ thống các loại công việc và hoạt động cụ thể của các nhà quản lý,

được tiến hành thường xuyên, liên tục, nhất quán như: lập kế hoạch về cho

vay tiêu dùng, xây dựng mạng lưới, xác định biên chế nhân viên trực tiếp

tham gia vào hoạt động tín dụng, xây dựng cơ chế nghiệp vụ, chính sách

khách hàng, chỉ đạo và kiểm tra..



21



1.4.2. Mục đích cơng tác quản lý tín dụng tiêu dùng

Quản lý tín dụng tiêu dùng trong hoạt động kinh doanh chính là

những phương thức quản lý để đạt được những mục tiêu nhất định và phải

thông qua việc đạt được các mục tiêu đó, ngân hàng mới có thể đạt được

mục tiêu cuối cùng của mình là phát triển tín dụng, thu lợi nhuận tối đa,

trên cơ sở thoả mãn tối ưu nhu cầu của khách hàng và tối thiểu hố mọi

chi phí hoạt động. Những mục tiêu đó chính là mục đích để các ngân hàng

hướng tới trong kế hoạch hoạt động kinh doanh từng thời kỳ.

Thứ nhất: Cơng tác tín dụng tiêu dùng phải đảm bảo cân đối các hình

thức tín dụng khác trong ngân hàng.

Thứ hai: Cơng tác tín dụng tiêu dùng phải đảm bảo cân đối giữa dư nợ

và tín dụng trong mọi thời điểm.

Thứ ba: Cơng tác tín dụng tiêu dùng phải đảm bảo các chỉ tiêu về hoạt

động, đặc biệt là các chỉ tiêu về an toàn theo quy định trong hoạt động kinh

doanh của ngân hàng.

Thứ tư: Mục tiêu và cũng là mục đích hoạt động cao nhất mà mọi

thành viên trong ban giám đốc cũng như mọi nhân viên ngân hàng hướng tới

là lợi nhuận.

Đặc điểm riêng của kinh doanh ngân hàng là giữa các chu kỳ hoạt động

khơng có sự phân định rõ ràng như trong các doanh nghiệp sản xuất hay

doanh nghiệp thương mại, hoạt động kinh doanh ngân hàng mang tính chất

liên tục, với sự đan xen của nhiều hoạt động liên quan đến cả yếu tố đầu vào

cũng như yếu tố đầu ra. Chỉ khi các hoạt động ở đầu ra ( cho vay) tạo ra thu

nhập cao hơn chi phí của các hoạt động đầu vào ( dư nợ) thì đó là lúc ngân

hàng có lãi.



22



1.4.3. Hiệu quả cơng tác quản lý tín dụng tiêu dùng tại ngân hàng

thương mại

1.4.3.1. Khái niệm về hiệu quả công tác quản lý tín dụng tiêu dùng tại

ngân hàng thương mại

Mục tiêu của quản lý tín dụng tiêu dùng tại NHTM là nâng cao hiệu

quả nhằm tối đa hoá lợi nhuận, tối đa hoá giá trị tài sản cho chủ sở hữu ngân

hàng. Do đó, khi đánh giá về cơng tác tín dụng tiêu dùng thực chất là đánh giá

hiệu quả công tác quản lý vốn của ngân hàng. Hiệu quả của huy động vốn

được đo lường bởi nhiều chỉ tiêu và cuối cùng được thể hiện ở thước đo lợi

nhuận và rủi ro ngân hàng.

Trong kinh doanh ngân hàng, lợi nhuận luôn song hành với rủi ro, sự

đánh đổi giữa lợi nhuận và rủi ro luôn là thách thức dành cho các nhà quản lý

NHTM. Nếu lợi nhuận càng cao thì mức độ rủi ro sẽ càng lớn và ngược lại,

độ rủi ro thấp luôn đi liền với lợi nhuận thấp. Hoạt động tín dụng ln phải

xem xét mức độ chấp nhận rủi ro là bao nhiêu để tăng lợi nhuận, với mỗi loại

rủi ro thì chấp nhận ở mức độ nào?

Do đó, để cơng tác quản lý tín dụng tiêu dùng có hiệu quả nghĩa là phải

đạt được chỉ tiêu lợi nhuận cao với độ rủi ro ở mức chấp nhận được.

Hiệu quả cơng tác quản lý tín dụng tiêu dùng tại NHTM là phạm trù

phản ánh trình độ, khả năng đảm bảo thực hiện công tác quản lý tín dụng

tiêu dùng có kết quả cao, đảm bảo an toàn trong hoạt động, với chi phí nhỏ

nhất, rủi ro thấp nhất và đáp ứng nhu cầu tín dụng cho hoạt động tiêu dùng,

cho vay tiêu dùng của ngân hàng một cách có hiệu quả nhất.

1.4.3.2. Sự cần thiết phải hồn thiện cơng tác quản lý tín dụng tiêu dùng tại

NHTM

Tín dụng nói chung và tín dụng tiêu dùng nói riêng là nội dung quản lý

hết sức quan trọng ở các NHTM. Chất lượng của cơng tác tín dụng quyết

định sự thành công hay thất bại của một NHTM nói chung, bởi lẽ:

23



- Do sự phát triển của khoa học kỹ thuật (trình độ cơng nghệ thơng tin)

và thị trường đã đòi hỏi các NHTM phải khơng ngừng tăng cường tiềm lực tài

chính, mở rộng quy mơ hoạt động, nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ

để tăng khả năng cạnh tranh của mình. Muốn vậy, các NHTM cần phải khơng

ngừng tìm mọi biện pháp nâng cao cơng tác quản lý tín dụng cũng như ln

đổi mới bằng cách hiện đại hố trong nghiệp vụ tín dụng.

- Do những thay đổi trong môi trường kinh doanh trong nước và quốc

tế nên cơng tác quản lý tín dụng tiêu dùng của NHTM cần thay đổi sao cho

phù hợp và thích ứng với những thay đổi của mơi trường. Do đó, để tồn tại,

phát triển, đứng vững trong cạnh tranh đòi hỏi các NHTM phải liên tục nâng

cao cơng tác quản lý tín dụng tiêu dùng của mình.

1.4.4. Sự cần thiết tín dụng tiêu dùng của Ngân hàng thương mại

1.4.4.1 Ngân hàng thương mại có khả năng đáp ứng tốt nhất nhu cầu vay

tiêu dùng của cá nhân

Với sự dồi dào về cả nguồn vốn và nguồn nhân lực thì các NHTM là

tổ chức có thể đáp ứng tốt nhất nhu cầu vay tiêu dùng đối với các cá

nhân.Nhu cầu vay tiêu dùng của các cá nhân là rất lớn, nhu cầu cũng như

mong muốn của mỗi người là vô hạn song khả năng thanh toán của mỗi

người lại hữu hạn.Chính vì vậy nhu cầu có khả năng thanh tốn của mỗi

người là rất nhỏ so với những mong muốn của họ.

Bên cạnh đó, một số người có thu nhập ổn định muốn đáp ứng ngay

những nhu cầu của mình trước khi có đủ tiền để thanh tốn. Giả sử một số

trường hợp người tiêu dùng khơng có đủ tiền để thanh tốn cho những khoản

chi tiêu của mình chỉ diễn ra tạm thời, trong khi nhu cầu chi tiêu của họ lại

mang tính cấp thiết như viện phí, cơ hội mua một số tài sản trong gia đình…Vì

vậy, nhu cầu vay tiêu dùng luôn diễn ra trong mọi nền kinh tế, để đáp ứng các

nhu cầu này NHTM thực hiện cho vay tiêu dùng là hết sức cần thiết.



24



Khi có nhu cầu vay tiêu dùng người ta có thể vay bạn bè, người thân

hoặc vay từ các tổ chức ngồi ngân hàng, như hội phụ nữ, hội hưu trí, cơng ty

tài chính,..thậm chí các tổ chức cho vay nặng lãi. Tuy nhiên, việc đi vay người

thân hay bạn bè một số tiền lớn là rất khó vì nếu có tiền họ sẽ đầu tư vào kinh

doanh hoặc gửi tiền tiết kiệm để lĩnh lãi. Trong trường hợp người có tiền cho

vay cũng rất băn khoăn về độ tin cậy cũng như uy tín của người vay, nếu có

thế chấp tài sản cũng rất khó có được một hợp đồng làm thoả mãn cả hai bên

với các điều kiện ràng buộc về mặt pháp lý.

So với các tổ chức tín dụng tiêu dùng khác thì các NHTM có lợi thế

hơn nhiều do: NHTM có nguồn vốn lớn, khả năng thẩm định tín dụng tốt, hệ

thống thanh tốn tốt, mạng lưới chi nhánh rộng khắp. Đối với hầu hết các

khách hàng hiện nay họ rất trung thành với một số ít ngân hàng mà họ đang

giao dịch đặc biệt các ngân hàng gần nơi họ sinh sống.Với những điều kiện

thuận lợi nói trên NHTM có thể thực hiện tốt hoạt động tín dụng tiêu dùng

đối với các khách hàng là cá nhân.

Bên cạnh việc tài trợ cho các khách hàng là cá nhân ngân hàng còn đa

dạng hố các loại hình cho vay góp phần làm phong phú các sản phẩm kinh

doanh tiền tệ đồng thời giảm thiểu rủi ro.

1.4.4.2. Lợi ích của Ngân hàng thương mại khi phát triển tín dụng tiêu

dùng

Thơng qua hoạt động tín dụng tiêu dùng các NHTM góp phần lưu

thơng hàng hóa dịch vụ, tác động tích cực đến q trình sản xuất kinh doanh,

đồng thời kích thích mở rộng sản xuất.Tín dụng tiêu dùng sẽ từng bước giải

quyết mâu thuẫn giữa nhu cầu tiêu dùng và khả năng thanh toán tức thời,

nhằm tạo điều kiện cho việc lưu thơng hàng hố tiêu dùng. Nhờ một phần vào

hoạt động tín dụng tiêu dùng phát triển NHTM có điều kiện mở rộng và phát

triển hoạt động cho vay, đồng thời thơng qua hoạt động tín dụng tiêu dùng sẽ

25



góp phần quảng bá hình ảnh NHTM sâu rộng hơn trong đời sống xã hội, đưa

hoạt động ngân hàng đến với từng người dân và hộ gia đình.

Ngồi ra, đối với người vay tiêu dùng, khi họ được sử dụng tài sản mà

lâu nay mơ ước họ sẽ có ý thức tiết kiệm hơn, làm việc có hiệu quả cao

hơn.Hơn nữa, ý thức trách nhiệm trả nợ ngân hàng cũng khiến cho người vay

có động lực cố gắng làm việc.Như vậy, thông qua việc cho vay tiêu dùng

không chỉ người tiêu dùng được hưởng lợi mà còn có nhiều người khác được

hưởng lợi từ việc tiêu dùng đó.

Việc tài trợ cho hoạt động tiêu dùng góp phần gián tiếp tài trợ cho hoạt

động sản xuất của nền kinh tế, cũng nhờ đó hoạt động tín dụng nói riêng và

các hoạt động của ngân hàng nói chung có cơ hội phát triển.

Đối với các công ty là doanh nghiệp kinh doanh các sản phẩm mà ngân

hàng đang cho vay tiêu dùng, thông qua hoạt động cho vay tiêu dùng ngân

hàng đã rút ngắn thời gian cho vay kinh doanh và thời gian cho vay sản xuất,

dễ dàng thu nợ các cơng ty này.

Nhiều người cho rằng tín dụng tiêu dùng có độ rủi ro cao song đây lại

là hoạt động có tỷ suất lợi nhuận tương đối cao và được coi là khoản mục có

khả năng sinh lời cao nhất trong danh mục tài sản của NHTM. Tuy nhiên, tỷ

trọng doanh số cho vay tiêu dùng so với tổng doanh số cho vay, cũng như dư

nợ cho vay tiêu dùng so với tổng dư nợ cho vay là rất nhỏ do vậy, tỷ lệ nợ quá

hạn TDTD trên tổng dư nợ của ngân hàng là rất nhỏ và hầu hết các khoản vay

tiêu dùng đều có tài sản bảo đảm do vậy nguy cơ mất trắng là rất ít. Nếu ngân

hàng có những biện pháp quản lý khoản vay một cách hiệu quả hơn và đưa ra

những quy định chặt chẽ nhằm kiểm soát và hạn chế rủi ro xảy ra.

1.4.5. Nhu cầu vay tiêu dùng và các nguồn tài trợ

Thơng qua hoạt động tín dụng tiêu dùng (hay hoạt động cho vay tiêu

dùng) của ngân hàng mà các khách hàng là các cá nhân hay hộ gia đình có

26



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Đối tượng vay tiêu dùng đa dạng:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×