Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ TÍN DỤNG TIÊU DÙNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ TÍN DỤNG TIÊU DÙNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Tải bản đầy đủ - 0trang

trình quản lý tín dụng tiêu dùng và mức áp dụng lãi suất phù hợp cho các ngân hàng

thương mại cho phù hợp với đặc thù nền kinh tế hiện nay ở Việt Nam.

Các cơng trình được nêu ra ở trên đã cung cấp những thơng tin bổ ích dưới các

khía cạnh và các mức độ khác nhau, nhất là lý luận về quản lý tín dụng và quản lý

tín dụng tiêu dùng tại các ngân hàng thương mại ở Việt Nam ở Việt Nam thời kỳ đổi

mới những năm gần đây; đúc rút nhiều kinh nghiệm và đề xuất các giải pháp có giá

trị về những vấn đề lý luận và thực tiễn trong quản lý tín dụng tiêu dùng, là nguồn

tư liệu quý cho việc nghiên cứu quản lý tín dụng tiêu dùng tại các ngân hàng thương

mại nói chung và Ngân hàng TMCP Ngoại thương VN-CN Việt Trì nói riêng.



1.1.2. Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu

Các cơng trình khoa học trên tiếp cận cơng tác quản lý tín dụng tiêu dùng từ

nhiều cách, nhiều góc độ khác nhau, nhưng tựu chung lại, các nhà khoa học với tư

cách là những chủ thể sáng tạo, nghiên cứu, khảo sát, phân tích khái quát nêu trên

đều cố gắng giải quyết những vấn đề căn cốt của việc quản lý tín dụng tiêu dùng với

những mức độ khác nhau, xun qua những cơng trình đó, có thể tổng quan lại

những vấn đề sau đây:

Một là, các nhà khoa học đã tập trung phân tích quan niệm, vai trò và đặc

điểm của tín dụng tiêu dùng từng ngân hàng thuộc hệ thống ngân hàng Việt Nam

với các nét đặc thù của nó. Điều này rất có ý nghĩa quan trọng, giúp cho chúng ta có

thể hiểu biết rõ hơn về vai trò tín dụng tiêu dùng trong từng tổ chức ngân hàng quốc

doanh và ngân hàng thương mại.

Hai là, với các cách tiếp cận khác nhau, các nhà khoa học đã đưa ra những

định nghĩa có ý nghĩa rộng hoặc nghĩa hẹp về quản lý tín dụng và quản lý tín dụng

tiêu dùng. Từ việc nhận thức được vai trò của quản lý tín dụng tiêu dùng, xác định

được nguyên tắc, chỉ tiêu, phương pháp và quy trình quản lý sẽ giúp cho các ngân

hàng thương mại quản lý tốt hơn vấn đề tín dụng, đặc biệt là quản tín dụng tiêu

dùng hiệu quả, chất lượng đáp ứng yêu cầu công việc.



7



Ba là, từ việc đánh giá thực trạng quản lý tín dụng tiêu dùng của các ngân

hàng thương mại, các nhà khoa học đã rút ra được ưu điểm, tồn tại và nguyên nhân

của những tồn tại, từ đó xác định được chỉ tiêu đánh giá, cơng cụ, biện pháp tối ưu

áp dụng cho việc quản lý tín dụng nói chung và tín dụng tiêu dùng nói riêng trong

từng tổ chức ngân hàng thương mại.

Nhìn chung, đã có khơng ít những cơng trình nghiên cứu đề cập đến cơng tác

quản lý tín dụng tiêu dùng tại các ngân hàng thương mại ở Việt Nam. Những kết

quả nghiên cứu đó có những giá trị nhất định làm cơ sở cho việc đổi mới và hồn

thiện quy trình quản lý tín dụng tiêu dùng. Tuy nhiên các nhiên cứu này đều chưa



nêu được đầy đủ tính cấp thiết, vị trí, vai trò của cho vay tín dụng tiêu dùng

của NHTM. Đặc biệt, hiện chưa có nhiên cứu đánh giá đưa ra hệ thống giải

pháp tồn diện cơng tác quản lý tín dụng tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP

Ngoại thương Việt Nam- Chi nhánh Việt Trì ( NHNT Việt Trì) trong bối cảnh

cạnh tranh hiện nay. Đa số các tài liệu thường nghiên cứu các thực trạng

chung của các NHTM trong nước. Có đề xuất giải pháp, song, đều chưa đầy

đủ.hoặc khơng phù hợp với chính sách của NHNT Việt Trì.

Luận văn này mong muốn sẽ góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả của

việc quản lý tín dụng tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương VN-CN Việt

Trì. Luận văn xin kế thừa và tiếp thu có chọn lọc những kết quả nghiên cứu đã cơng

bố có liên quan để phục vụ cho mục đích nghiên cứu của mình.



1.2.



Hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại



1.2.1. Khái niệm hoạt động tín dụng của NHTM

Hoạt động tín dụng (cho vay) thường được coi là hoạt động kinh doanh

cơ bản nhất của ngân hàng. Tín dụng là một quan hệ kinh tế trong đó ngân

hàng chuyển cho chủ thể khác quyền sử dụng một lượng giá trị để sau một

thời gian thu hồi về một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu với những

điều kiện mà hai bên thoả thuận với nhau.Trong đó, ngân hàng là người cho

8



vay còn khách hàng là người đi vay, thoả thuận giữa hai bên được xác định

dựa trên cơ sở hợp đồng tín dụng, trên hợp đồng tín dụng sẽ quy định cụ thể

thời hạn cho vay, số tiền cho vay, lãi suất cho vay.

Như vậy, xuất phát từ những khái niệm trên đây về tín dụng ta có thể

hiểu hoạt động tín dụng của NHTM đó là: Quan hệ dưới hình thức tiền tệ

giữa một bên là ngân hàng - tổ chức chuyên kinh doanh trong lĩnh vực tiền

tệ với một bên là các tổ chức hay cá nhân trong nền kinh tế. Các NHTM

thực hiện cho vay vốn bằng tiền đối với các tổ chức kinh tế, thể nhân có nhu

cầu để sản xuất kinh doanh, tiêu dùng hoặc vào mục đích hợp pháp khác. Như

vậy, có quan điểm đồng nhất giữa “hoạt động tín dụng” và “hoạt động cho

vay” của NHTM bởi vì bản chất của tín dụng là quan hệ vay mượn trên cơ sở

của sự tín nhiệm giữa các bên. Nếu hiểu theo nghĩa rộng thì hoạt động tín

dụng của NHTM khơng chỉ là hoạt động cho vay mà còn bao gồm nhiều hoạt

động khác. Tuy nhiên để thống nhất khái niệm, “hoạt động tín dụng” ở đây

được hiểu là “hoạt động cho vay” của NHTM.

1.2.2. Vai trò của tín dụng ngân hàng

Hoạt động tín dụng ngân hàng có những vai trò nổi bật sau đây:

- Tín dụng ngân hàng đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế để duy trì

quá trình tái sản xuất, góp phần đầu tư phát triển kinh tế - xã hội. Ngân hàng

đóng vai trò cung cấp vốn cho nền kinh tế thơng qua hoạt động tín dụng của

mình.Vốn tín dụng ngân hàng giúp doanh nghiệp hình thành một nguồn vốn

rất quan trọng cho kinh doanh, đầu tư mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ

và đào tạo nguồn nhân lực.

- Tín dụng ngân hàng góp phần dịch chuyển cơ cấu kinh tế theo hướng

hợp lý, phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn theo định hướng của nhà nước.

Tuỳ từng thời kỳ, giai đoạn phát triển Nhà nước sẽ xây dựng những chính sách

về tín dụng phù hợp để phục vụ cho chiến lược phát triển kinh tế - xã hội.

9



- Tín dụng ngân hàng thúc đẩy q trình tập trung vốn và tập trung sản

xuất. Hoạt động cơ bản của ngân hàng là huy động vốn nhàn rỗi trong nền

kinh tế, do vậy ngân hàng là “đầu mối” tập trung lượng vốn lớn để cung cấp

cho những chủ thể trong nền kinh tế có nhu cầu vay vốn cho sản xuất, đầu tư

hay tiêu dùng... Nhờ có hoạt động tín dụng ngân hàng nên q trình sản xuất

và tái sản xuất được đảm bảo vận hành liên tục, khơng bị gián đoạn.

- Thúc đẩy q trình ln chuyển hàng hoá và tiền tệ. Để nền kinh tế

vận động một cách nhịp nhàng, hiệu quả phải đảm bảo các cân đối lớn của

nền kinh tế trong đó có cân đối hàng hoá - tiền tệ. Như chúng ta đã biết, quan

hệ hàng hố - tiền tệ giữ vai trò cực kỳ quan trọng, nếu quan hệ này mất cân

đối sẽ dẫn tới tình trạng thiểu phát hoặc lạm phát trong nền kinh tế. Cả hai xu

hướng này đều có thể không tốt cho sự phát triển ổn định của nền kinh tế.Tín

dụng ngân hàng đóng vai trò là yếu tố thúc đẩy q trình ln chuyển hàng

hố và tiền tệ.

- Tín dụng khơng chỉ đáp ứng nhu cầu vốn cho q trình tái sản xuất,

kinh doanh mà còn hỗ trợ cho q trình tiêu dùng góp phần thúc đẩy q trình

lưu thơng hàng hố, rút ngắn khoảng cách giữa sản xuất và tiêu dùng, đồng

thời đảm bảo cho chu trình ln chuyển của hàng hố từ sản xuất - lưu thơng tiêu dùng được thơng suốt.

- Tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy chế độ hạch tốn kinh tế của

các chủ thể trong nền kinh tế. Khi sử dụng vốn vay các chủ thể phải tôn trọng

các điều khoản trong hợp đồng tín dụng, phải đảm bảo hồn trả nợ vay đúng

hạn và đầy đủ cả gốc và lãi. Do vậy, để tiếp tục được vay vốn ngân hàng các

chủ thể phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay, giảm chi phí sản xuất, tăng

lợi nhuận.Để làm được điều này khơng còn cách nào khác các chủ thể phải

thực hiện hạch toán kinh doanh cũng như phải tuân thủ các quy định về tài

chính khác.

10



- Tín dụng ngân hàng tạo điều kiện để phát triển các quan hệ kinh tế

nước ngồi thơng qua các hoạt động cho vay xuất nhập khẩu hàng hoá, dịch

vụ. Các đơn vị kinh doanh thương mại đặc biệt là xuất nhập khẩu cần vay

nhiều vốn ngân hàng để mở rộng hoạt động của mình vì quy mơ vốn của các

đơn vị này thường khơng cao. Mặt khác, vốn tín dụng ngân hàng giúp các

doanh nghiệp đầu tư mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ, nâng cao chất

lượng sản phẩm dần phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế.

1.2.3. Phân loại tín dụng

Tuỳ theo mục đích nghiên cứu, quản lý khác nhau mà người ta thường

phân loại hoạt động tín dụng ngân hàng thành nhiều loại theo những tiêu thức

khác nhau. Các tiêu thức được sử dụng để phân loại này thường chỉ mang tính

chất tương đối, đan xen với nhau. Ngày nay, hoạt động ngân hàng phát triển

mạnh mẽ, nhiều hình thức tín dụng ngân hàng mới ra đời để đáp ứng nhu cầu

ngày càng cao và đa dạng của nền kinh tế. Sau đây là một số tiêu thức phân

loại hình thức tín dụng ngân hàng:

* Căn cứ theo thời hạn cho vay:

* Căn cứ tài sản bảo đảm:

*Căn cứ vào hình thái giá trị trong quan hệ tín dụng:

* Căn cứ vào độ rủi ro:

* Căn cứ theo phương thức vay vốn:

* Căn cứ vào phương thức hoàn trả vốn:

* Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn:

Tuy nhiên, trong phạm vi luận văn này để phục vụ cho mục đích nghiên

cứu, ta chỉ quan tâm đến cách phân loại sau:

* Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn của người vay, tín dụng được chia

thành tín dụng kinh doanh và tín dụng tiêu dùng:



11



- Tín dụng kinh doanh là hoạt động tài trợ cho hoạt động sản xuất và

lưu thơng hàng hố. Thơng qua hình thức này ngân hàng sẽ bổ sung một

lượng tiền vào vốn kinh doanh của doanh nghiệp, tạo điều kiện cho hoạt động

kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra liên tục. Đối với các NHTM dư nợ cho

vay với mục đích sản xuất và lưu thơng hàng hố cho các doanh nghiệp chiếm

tỷ trọng lớn trong tổng dư nợ cho vay.

- Tín dụng tiêu dùng: là hình thức tài trợ vốn cho mục đích tiêu dùng

của cá nhân hoặc hộ gia đình nhằm thoả mãn nhu cầu tiêu dùng hàng hàng

hoá dịch vụ của họ trước khi tích luỹ đủ phương tiện thanh tốn. Đây là hình

thức cho vay xuất hiện những năm gần đây và xuất phát từ nhu cầu vay vốn

cho hoạt động tiêu dùng tăng cao trong nền kinh tế. Các NHTM Việt nam

hiện nay rất chú trọng phát triển loại hình tín dụng này bởi hoạt động tiêu

dùng là khâu rất quan trọng trong q trình tái sản xuất.Hình thức tín dụng

này đóng vai trò quan trọng trong việc kích cầu trong nền kinh tế, đẩy nhanh

quá trình tái sản xuất đồng thời gián tiếp trở thành một công cụ điều tiết nền

kinh tế của Nhà nước.

Hoạt động tín dụng kinh doanh là một trong các hoạt động chính của

các NHTM, hoạt động này luôn tạo ra phần lớn lợi nhuận cho ngân hàng, tuy

nhiên trước sự phát triển và nhu cầu ngày càng đa dạng của nền kinh tế, đi đơi

với hoạt động tín dụng kinh doanh, hoạt động tín dụng tiêu dùng đã xuất hiện

nhằm đa dạng hoá, giảm thiểu rủi ro và hỗ trợ không nhỏ cho hoạt động kinh

doanh của ngân hàng.

1.3. Khái quát chung về tín dụng tiêu dùng

1.3.1. Khái niệm về tín dụng tiêu dùng

Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về hoạt động tín dụng tiêu dùng, tuy

nhiên có thể hiểu một cách đơn giản như sau: Tín dụng tiêu dùng là hoạt

12



động trong đó Ngân hàng cho khách hàng vay một lượng tiền nhằm phục

vụ cho mục đích tiêu dùng hợp pháp của khách hàng với những điều kiện

mà hai bên thoả thuận, dựa trên ngun tắc có hồn trả cả gốc và lãi vào

một thời điểm nhất định

1.3.2 Đặc điểm của các khoản tín dụng tiêu dùng

Lãi suất vay tiêu dùng cao :

Lãi suất của các khoản cho vay tiêu dùng thường được áp dụng “cứng

nhắc” so với các khoản cho vay thương mại thơng thường. Vì hầu hết các

khoản cho vay thương mại hiện nay được áp dụng lãi suất thay đổi theo điều

kiện thị trường dựa trên nguyên tắc bù đắp chi phí và mức độ rủi ro. Trong

trường hợp chi phí huy động vốn tăng lên ngân hàng sẽ phải chịu rủi ro về lãi

suất khi thực hiện các khoản cho vay tiêu dùng. Do vậy, ngân hàng phải xác

định lãi suất cho vay tiêu dùng ở mức cao (so với cho vay thương mại) để

đảm bảo bù đắp được rủi ro khi lãi suất huy động vốn tăng lên. Điều đó đồng

nghĩa với việc ngân hàng sẽ thu được lợi nhuận cao hơn tương ứng với mức

độ rủi ro của từng khoản cho vay tiêu dùng.

Tính nhạy cảm theo chu kỳ kinh tế:

Cho vay tiêu dùng có tính nhạy cảm theo chu kỳ kinh tế. Nó tăng lên

trong thời kỳ kinh tế mở rộng, khi mọi người dân cảm thấy lạc quan về tương

lai. Ngược lại, khi nền kinh tế rơi vào suy thoái, rất nhiều cá nhân và hộ gia

đình cảm thấy khơng tin tưởng nhất là họ cảm thấy tình trạng thất nghiệp tăng

lên, thu nhập có xu hướng giảm thì họ sẽ hạn chế vay ngân hàng.

Tín dụng tiêu dùng có độ rủi ro cao:

Trong tín dụng tiêu dùng, nguồn trả nợ hầu hết là các khoản thu nhập

thường xuyên của người vay có thể từ lương hay từ một nguồn thu nhập

tương đối ổn định khác. Tuy vậy, nguồn thu nhập này lại có thể thay đổi

nhanh chóng tuỳ thuộc vào tình trạng cơng việc, sức khoẻ của khách hàng vay



13



vốn. Ngân hàng sẽ phải đối mặt với một loạt rủi ro khi người vay bị thất

nghiệp, bị tai nạn,… khiến cho họ không có khả năng trả nợ. Ngồi ra, cho

vay tiêu dùng có độ rủi ro cao bởi các thơng tin về tình trạng cơng việc của

các cá nhân nhiều khi bị giấu kín.Hơn nữa, các cá nhân và hộ gia đình khơng

dễ dàng vượt qua các khó khăn về tài chính như những doanh nghiệp.Vì vậy,

các khoản vay tiêu dùng thường được quản lý chặt chẽ hơn.

Chi phí thẩm định cho các khoản tín dụng tiêu dùng khá cao:

Hầu hết các khoản vay tiêu dùng có quy mơ nhỏ, thời gian vay ngắn

trong khi số lượng các món vay lớn.Ngồi ra, việc xác định thông tin về các

cá nhân và hộ gia đình là rất khó khăn, thường khơng đầy đủ và thiếu chính

xác.Chính điều này khiến cho việc thẩm định các món vay tiêu dùng tốn rất

nhiều thời gian và cơng sức.Vì vậy, việc thẩm định một món cho vay tiêu

dùng tốn rất nhiều chi phí.

Hơn nữa, thơng tin về một khách hàng cá nhân có liên quan đến rủi ro

của một khoản tín dụng tiêu dùng là rất khó thu nhận. Ngoài ra, khi một cá

nhân bị rơi vào một khủng hoảng tài chính họ rất khó vượt qua. Bên cạnh đó,

các khoản vay tiêu dùng của các cá nhân khơng diễn ra thường xun do đó

các thơng tin về khách hàng có thể bị thay đổi liên tục và rất khó quản lý các

thơng tin này, mặc dù có sự quản lý thơng tin từ phía ngân hàng Nhà nước thì

các thơng tin này cũng khơng được cập nhật

Chính vì các lý do đó mà các khoản vay tiêu dùng phải được quản lý

một cách chặt chẽ và linh hoạt trước các vấn đề đặc biệt có liên quan .

Giá trị các món vay tiêu dùng thương nhỏ lẻ, phân tán nhưng số lượng các

món vay thì rất lớn:

Nếu so với các món vay kinh doanh thì các món vay tiêu dùng có giá

trị nhỏ, do các món vay này chỉ chi trả cho việc mua sắm phương tiện đi lại,

các tư liệu tiêu dùng của cá nhân hay hộ gia đình, … Số lượng các món vay



14



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ TÍN DỤNG TIÊU DÙNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×