Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CỦA QUỸ HỖ TRỢ PHỤ NỮ NGHÈO

CỦA QUỸ HỖ TRỢ PHỤ NỮ NGHÈO

Tải bản đầy đủ - 0trang

Sự ra đời và phát triển

Quỹ hỗ trợ phụ nữ nghèo được thành lập ngày 6/3/2007 theo Quyết định số

132/QĐ - ĐCT của Đoàn Chủ tịch Trung ương Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam. Quỹ có

tư cách pháp nhân và hoạt động theo Quyết định số 66/QĐ- BTC ngày 31 tháng 7 năm

2007 của Bộ trưởng Bộ Tài chính cung cấp dịch vụ tín dụng vi mơ cho phụ nữ nghèo

tại Việt Nam.

Tầm nhìn:

Quỹ hỗ trợ phụ nữ nghèo sẽ trở thành tổ chức TCVM bền vững, hoạt động trên

các tỉnh/ thành của cả nước.

Sứ mệnh

Góp phần thực hiện mục tiêu Chương trình quốc gia về xố đói giảm nghèo và

việc làm, thực hiện công bằng xã hội, cải thiện đời sống, nâng cao địa vị kinh tế cho

phụ nữ và thúc đẩy bình đẳng giới; góp phần củng cố, phát triển tổ chức Hội.

Nguyên tắc hoạt động của Quỹ

- Hoạt động của Quỹ đặt dưới sự chỉ đạo, quản lý của Đoàn Chủ tịch Trung

ương Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Bộ Tài chính và các cơ quan chức năng theo quy

định của pháp luật.

- Quỹ hoạt động độc lập, có tư cách pháp nhân, có tài khoản và con dấu riêng,

hoạt động tuân thủ theo pháp luật hiện hành.

- Quỹ hoạt động phải bảo toàn vốn và khơng vì mục tiêu lợi nhuận.

- Quỹ cho phụ nữ nghèo, cận nghèo, khó khăn vay khơng cần tài sản thế chấp để

phát triển kinh tế gia đình.

- Quỹ được huy động vốn từ tiền gửi tiết kiệm của phụ nữ, hội viên tự nguyện

tham gia Tổ phụ nữ vay vốn - tiết kiệm.



36



Giá trị cốt lõi:

“Thuận tiện, sáng tạo, hiệu quả”

3.1.2 Các chi nhánh hoạt động của Quỹ Hỗ trợ phụ nữ nghèo

Quỹ hỗ trợ phụ nữ nghèo hoạt động trên địa bàn 14 tỉnh: Bình Thuận; Bình

Phước, Cần Thơ, Điện Biên, Đắk Lắk, Lâm Đồng, Lạng Sơn, Ninh Thuận, Quảng

Ninh, Quảng Ngãi, Quảng Trị, Tây Ninh, Sơn La, Vĩnh Long. Địa hình trải rộng trên

14 tỉnh nên các khách hàng của Quỹ Hỗ trợ phụ nữ nghèo có đa dạng về ngành nghề

kinh doanh và có mục đích sử dụng nguồn vốn đa dạng. Đồng thời, đây cũng là trở

ngại trong công tác kiểm tra giám sát các hoạt động của Quỹ.

Khí hậu của các tỉnh trên mang tính chất đa dạng theo khí hậu ba miền Bắc –

Trung – Nam và ở miền Bắc, miền Trung thì các tỉnh trên có khí hậu khắc nghiệt và

gây khó khăn, trở ngại trong phát triển kinh tế.

3.1.3 Cơ cấu tổ chức



BAN ĐIỀU HÀNH TƯ



Phòng vận hành nhân sự



Phòng tài chính kế tốn



Phòng kiểm sốt

nội bộ



BAN ĐIỀU HÀNH CẤP TỈNH



BAN ĐIỀU HÀNH CẤP HUYỆN



37

Tổ vay vốn



Tổ vay vốn



Tổ vay vốn



Tổ vay vốn



Tổ vay vốn



Manager, Deputy Manager,

Accountant, treasurer cum technical

staf



(Nguồn: Quỹ hỗ trợ phụ nữ nghèo)

Hình 3.1. Sơ đồ cơ cấu tổ chức Quỹ Hỗ trợ phụ nữ nghèo

3.1.4 Các sản phẩm chủ yếu

Với phương châm phục vụ người nghèo bằng các sản phẩm phù hợp chất lượng

dịch vụ thân thiện và gần gũi, Quỹ luôn nghiên cứu và thiết kế các sản phẩm phù hợp

với nhu cầu của người nghèo về mục đích sử dụng và khả năng hồn trả.

Tất cả các dịch vụ của Quỹ đều được cung cấp tại các buổi họp tổ hàng tháng.

Đây là nơi xét duyệt đơn xin vay vốn, thu tiền hoàn trả và tiết kiệm. Tổ cũng là nơi để

các thành viên trao đổi kinh nghiệm thông tin về sản xuất kinh doanh, để cán bộ và các

chuyên gia bên ngoài phổ biến đào tạo kiến thức về gia đình giới và các vấn đề khác là

nơi tiến hành các hoạt động xã hội. Trong thời gian từ 2010 – 2014 Quỹ hỗ trợ phụ nữ

nghèo cung cấp 2 loại vốn vay, một sản phẩm tiết kiệm bắt buộc, một sản phẩm tương

trợ vốn vay. Đặc tính các sản phẩm như sau:

Sản phẩm vốn vay



38



Bảng 3.1 Bảng sản phẩm vốn vay của Quỹ hỗ trợ phụ nữ nghèo

Phương

Loại vốn



Mức vốn



Lãi suất



Thời hạn



thức hồn

trả gốc/lãi



Vốn

chính



Từ



1.000.000



-



7.000.000 1%/tháng



(chẵn triệu)



/dư



nợ



Vòng 1



Từ 1.000.000 - 10.000.000 vốn vay



Vòng 2



(chẵn triệu)

Từ 1.000.000 - 3.000.000 1%/tháng

(chẵn triệu)



Vốn bổ

sung:



12 tháng



TVVV được vay vốn bổ sung

01 lần trong 1 vòng vốn, ít



Trả dần

hàng



3 tháng,

6 tháng,



tháng, gồm

cả gốc và



9 tháng



lãi



nhất sau 3 tháng sử dụng vốn

chính

(Nguồn Quỹ hỗ trợ phụ nữ nghèo – 2014)

Lãi suất cho vay

- Lãi suất: 1%/tháng/dư nợ vốn vay, áp dụng cho tất cả các loại vốn.

- Lãi suất quá hạn bằng 130% lãi suất trong hạn.

Sản phẩm tiết kiệm

Các thành viên tham gia Quỹ nộp một mức tiền tiết kiệm, tối thiểu là 20.000

đồng/thành viên/tháng. Mức tiền tiết kiệm có thể thay đổi do các thành viên trong tổ

cùng quyết định.

Lãi suất huy động tiết kiệm: 1,2 %/ năm (0.1%/tháng).

3.2. Thực trạng quản hoạt động tín dụng của Quỹ hỗ trợ phụ nữ nghèo

Hoạt động tín dụng là nghiệp vụ chính của Quỹ hỗ trợ phụ nữ nghèo. Với sự cố

gắng của toàn thể cán bộ nhân viên, tình hình quản lý hoạt động tín dụng của Quỹ hỗ

39



trợ phụ nữ nghèo ln hồn thành các mục tiêu theo kế hoạch kinh doanh hàng năm đề

ra, qua đó từng bước ổn định nguồn vốn và phát triển.

3.2.1 Thực trạng quản lý huy động nguồn vốn của Quỹ hỗ trợ phụ nữ nghèo

Vốn là yếu tố rất quan trọng trong hoạt động kinh doanh của các thành phần

kinh tế nên bất kỳ một tổ chức nào muốn hoạt động tốt đem lại hiệu quả kinh tế cao thì

điều trước tiên là phải có nguồn vốn dồi dào đặc biệt là các tổ chức Quỹ xã hội. Ngay

cả khi hoạt động nhiều về phúc lợi xã hội thì Quỹ Hỗ trợ phụ nữ nghèo muốn hoạt

động được thì trước hết phải có vốn. Vì vậy muốn cho Quỹ hỗ trợ phụ nữ nghèo hoạt

động ổn định thì điều kiện trước tiên là nguồn vốn của Quỹ hỗ trợ phụ nữ nghèo phải

đủ lớn mới đảm bảo cho hoạt động tín dụng được thuận lợi nhằm đáp ứng kịp thời nhu

cầu vốn cho các thành viên vay vốn.

Huy động vốn và cho vay ln có mối quan hệ mật thiết với nhau, tác động qua

lại lẫn nhau. Có huy động được vốn mới có nguồn để cho vay, ngược lại mở rộng và

nâng cao chất lượng sử dụng vốn thì huy động mới có hiệu quả. Trên cơ sở đó Quỹ hỗ

trợ phụ nữ nghèo ln quan tâm tích cực chủ động phát triển hoạt động huy động vốn

dưới mọi hình thức, để đảm bảo quy mô nguồn vốn tăng trưởng theo kế hoạch đã xác

định.

Quỹ hỗ trợ phụ nữ nghèo có 14 chi nhánh tại các địa phương nên nguồn vốn

hoạt động chủ yếu là vốn huy động tại các địa phương và nguồn vốn hỗ trợ từ chính

phủ hoặc hỗ trợ từ các tổ chức phi chính phủ. Nhờ biết chủ động khai thác nguồn vốn

huy động tại chỗ nên vốn huy động của Quỹ hỗ trợ phụ nữ nghèo trong thời gian qua

tăng trưởng khá ổn định.

Bảng 3.2 Tình hình huy động vốn của Quỹ hỗ trợ phụ nữ nghèo từ năm 2010

-2014.

Đơn vị: nghìn đồng

Năm



Nguồn cấp từ



Huy động từ

40



Vay vốn từ tổ



Tổng cộng



chính Phủ



tiết kiệm của

khách hàng



chức khác



2010



10.000.000



1.070.000



11.070.000



2011



10.000.000



1.200.000



12.200.000



2012



20.000.000



6.409.000



26.409.000



2013



50.000.000



12.070.200



62.070.200



2014



32.000.000



30.500.000



10.000.000



Tổng cộng



110.000.000



53.249.200



10.000.000



72.500.000



Nguồn: Báo cáo Quỹ hỗ trợ phụ nữ nghèo năm 2010-2014

Do hoặt động của Quỹ hỗ trợ phụ nữ nghèo mang tính đặc thù nên ngồi nguồn

vốn do chính phủ cấp thì Quỹ hỗ trợ phụ nữ nghèo còn huy động từ các nguồn khác.

Nhìn vào Bảng 3.3 ta thấy tốc độ huy động vốn qua các năm tăng rất nhanh, điều đó

chứng tỏ hoạt động của Quỹ hỗ trợ phụ nữ nghèo ngày càng phát triển, cụ thể:

Năm 2011 tăng 11.093 triệu đồng so với năm 2010, xấp xỉ tăng 10,7%.

Năm 2012 tăng 14.209 triệu đồng so với năm 2011, xấp xỉ tăng 11,6%.

Năm 2013 tăng 35.661 triệu đồng so với năm 2012, xấp xỉ tăng 135%.

Năm 2014 tăng 10.430 triệu đồng so với năm 2013, xấp xỉ tăng 17%.

Nhìn vào bảng số liệu ta thấy từ năm 2010 - 2014 tổng nguồn vốn tăng liên tục

qua các năm trên 10%. Trong các năm từ 2010-2012 thì nguồn vốn có sự sụt giảm là do

các dự án tài trợ của các tổ chức đến hạn hồn trả vì vậy tổng nguồn vốn huy động có

sự sụt giảm. Đến năm 2013 tổng nguồn vốn bắt đầu tăng trở lại với tổng là 62.070.200

tăng 135% so với năm 2012. Đến năm 2014 tổng nguồn vốn tăng cao nhất 72.500.000

nghìn đồng nguyên nhân chủ yếu là do tăng lên nguồn hỗ trợ của Chính phủ và vốn

huy động từ các hội viên phụ nữ 30.500.000 nghìn đồng. Nhìn chung tốc độ tăng

trưởng tổng nguồn vốn khá cao giai đoạn 2010-2012 trung bình là 11.15%, giai đoạn

2013-2014 là 76%.

41



Nguồn: Báo cáo Quỹ hỗ trợ phụ nữ nghèo năm 2010-2014

Hình 3.2: Tỷ lệ nguồn vốn huy động qua các năm 2010 -2014

Nhìn vào Bảng 3.4 trên ta thấy nguồn vốn tự vận động từ thành viên chiếm tỷ lệ

khá cao trung bình 31% so với tổng nguồn vốn huy động. Thông qua các tổ vay vốn

tiết kiệm Quỹ hỗ trợ phụ nữ nghèo đã huy động được nhiều chị em phụ nữ tham gia tạo

nguồn vốn ổn định cho Quỹ.

Sự tăng trưởng vốn huy động hằng năm của Quỹ hỗ trợ phụ nữ nghèo xuất phát

từ nhu cầu về vốn của các thành viên tham gia Quỹ ngày càng tăng và Quỹ hỗ trợ phụ

nữ nghèo ngày càng mở rộng phạm vi cho vay do đó Quỹ hỗ trợ phụ nữ nghèo cần phải

khơi tăng nguồn vốn hoạt động của mình để đáp ứng nhu cầu vay vốn của thành viên.

Đặc biệt trong năm 2013, sau nhiều năm nỗ lực hoạt động có hiệu quả Quỹ đã được

chính phủ cấp thêm nguồn vốn để hoạt động nên số tiền huy động vốn của Quỹ tăng

lên đột biến, tạo điều kiện cho Quỹ có thêm nguồn vốn để phát trển thêm các thành

viên và hỗ trợ được nhiều chị/em hội viên có thêm thu nhập, tạo việc làm và dần dần

thốt nghèo.

42



Hình thức thực hiện: ngồi nguồn vốn huy động từ Chính phủ, các tổ chức

chính phủ thì Quỹ còn huy động nguồn vốn từ các thành viên tham gia Quỹ. Thông qua

sản phẩm tiết kiệm nhằm mục đích tạo dựng thói quen tiết kiệm cho thành viên giúp

cho thành viên lập kế hoạch trong cuộ sống đồng thời tạo nguồn bảo lãnh vốn vay cũng

như tạo nguồn tại chỗ nhằm phát huy nguồn lực của Quỹ.

Để xây dựng vốn tự có và giáo dục thói quen tiết kiệm, Quỹ yêu cầu mọi thành

viên tham gia tiết kiệm phải đóng tiết kiệm 20.000đ/tháng, tiết kiệm bắt buộc có lãi

suất 0.1%/tháng và có thể rút ra sau khi thành viên đạt số dư tối thiểu theo quy định

hoặc khi thành viên khơng còn tham gia Quỹ.

Các tổ thực hiện đóng tiết kiệm theo một mức đồng nhất trong tổ, tối thiểu là

20.000đ/thành viên/tháng. Tính đến năm 2014, các thành viên chủ yếu thực hiện đóng

tiết kiệm tối thiểu 20.000đ/tháng chiếm 85%, số lượng thành viên đóng trên

20.000đ/tháng chiếm 15% tổng số thành viên. Trong 5 năm Quỹ đã thành lập được 958

tổ vay vốn tiết kiệm. Tính đến cuối năm 2014 tồn Quỹ hiện có 1.231 tổ vay vốn tiết

kiệm với 37.600 thành viên. Nhờ vậy nguồn vốn tự vận động trong hội viên liên tục

được duy trì và phát huy. Tốc độ tăng trưởng tiết kiệm trong 5 năm trung bình là 7%.

Các nguồn vốn này đã kịp thời hỗ trợ vốn đến cho các thành viên của Quỹ.

Hiện tại Quỹ chưa được cấp phép hoạt động theo quy định của tổ chức tài chính

vi mơ vì vậy Quỹ mới có sản phẩm tiết kiệm bắt buộc và chưa được huy động tiết kiệm

tự nguyện. Do vậy nghiệp vụ huy động vốn của Quỹ chưa huy động hết tiềm lực hiện

có của các thành viên tại địa bàn hoạt động. Do vậy Quỹ cần sớm chuyển đổi theo

hướng chuyên nghiệp hóa để có thể huy động được tiềm lực vốn có của thành viên.

Trong tương lai gần khi Quỹ hỗ trợ phụ nữ nghèo được cấp phép hoạt động theo

nghị định 28/2005/NĐ-CP, Nghị định 165/2007/NĐ-CP của chính phủ về tổ chức và

hoạt động của tổ chức tài chính vi mơ tại Việt Nam, Quỹ hỗ trợ phụ nữ nghèo dự định

đưa ra một số sản phẩm tiết kiệm tự nguyện toàn diện với đối tượng hưởng lợi không

43



chỉ là khách hàng của Quỹ mà cả những phụ nữ nghèo ở cộng đồng (không vay vốn

của Quỹ).

Đơn vị: tỷ đồng



(Nguồn: Theo báo cáo Quỹ hỗ trợ phụ nữ nghèo năm 2010 - 2014)

Hình 3.3 Thống kê số khách hàng tham gia Quỹ từ 2010 -2014

Năm 2013-2014, số khách hàng tham gia Quỹ tăng đột biến (26.091 thành viên)

do Quỹ được chính phủ cấp thêm nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu của các thành viên

vay vốn. Do đó, số tiền tiết kiệm huy động được từ thành viên cũng tăng nhanh, dư nợ

tiết kiệm năm 2014 tăng 17% so với năm 2013. Đặc biệt, phong trào tiết kiệm đã được

toàn thể thành viên các tổ, cán bộ Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, cán bộ Quỹ hỗ trợ

phụ nữ nghèo đồng loạt hưởng ứng. Số tiền huy động được đã giúp cho gần 4000 thành

viên hội phụ nữ nghèo tiếp cận với nguồn vốn.

Như vậy ta thấy tỉ lệ vốn huy động/vốn vay tăng dần qua các năm. Điều đó

chứng tỏ Quỹ hỗ trợ phụ nữ nghèo đang từng bước phát huy sức mạnh tiềm lực từ các



44



thành viên trong hoạt động huy động vốn của mình. Đạt được điều này là nhờ sự nỗ lực

mạnh dạn của hội Ban giám đốc đã có kế hoạch kinh doanh linh hoạt và phù hợp trong

việc huy động vốn. Đây cũng là kết quả tốt mà Quỹ hỗ trợ phụ nữ nghèo đã đạt được

trong thời gian qua. Vì vậy đã phàn nào chủ động được vốn để đáp ứng nhu cầu vay

vốn của các thành viên. Tuy nhiên nguồn vốn huy động được từ tiết kiệm của thành

viên chỉ chiếm mưc nhỏ có 31% trong tổng tổng nguồn vốn huy động được, còn nguồn

vốn do Chính phủ cấp vẫn chiếm phần lớn tới 63%. Do đó, để có thể huy động được

nhiều vốn hơn nữa cho hoạt động Quỹ hỗ trợ phụ nữ nghèo cần tiến hành một số biện

pháp như:

Đa dạng hố các hình thức huy động

Áp dụng lãi suất khuyến khích khi huy động vốn đối với các tổ vay vốn có mức

gửi tiền tiết kiệm cao và trong thời gian dài, nghĩa là trong cùng một thời gian gửi tiền

với số tiền lớn sẽ có mức lãi suất cao hơn gửi món tiền nhỏ.

Tăng cường tiếp cận với đối tượng không tham gia vay vốn mà chỉ có nhu cầu

tham gia gửi tiết kiệm

Thực hiện tốt bảo đảm tiền gửi cho khách hàng

Nhân viên giao dịch tiếp xúc với khách hàng phải năng động, sáng tạo, thân

thiện tạo cảm giác thoải mái tin tưởng cho khách hàng

3.2.2 Thực trạng quản lý hoạt động cho vay tại Quỹ hỗ trợ phụ nữ nghèo

3.2.2.1 Hình thức thực hiện

Đối tượng cho vay của Quỹ: Hội viên, phụ nữ tuổi từ 18 - 65 thuộc các hộ

nghèo, cận nghèo, thu nhập thấp; ưu tiên phụ nữ yếu thế: phụ nữ khuyết tật; phụ nữ

chịu ảnh hưởng của HIV; phụ nữ trong các gia đình có người thân nghiện hút ma túy;

phụ nữ đơn thân; phụ nữ mại dâm hồn lương, phụ nữ có nguy cơ bị bn bán, dụ dỗ

lấy chồng nước ngồi vì mục đích kinh tế; phụ nữ là nạn nhân bị buôn bán trở về địa

45



phương. Phụ nữ nông thôn mất việc làm do chuyển đổi mục đích sử dụng đất; phụ nữ

mất việc làm do doanh nghiệp bị phá sản…

Đối với hoạt động tín dụng nói chung và hoạt động tín dụng ưu đãi nói riêng, thì

khi cho vay, Quỹ hỗ trợ phụ nữ nghèo cũng phải tuân theo nguyên tắc sau:

- Đảm bảo khách hàng sử dụng vốn vay đúng theo mục đích như trong hợp đồng

tín dụng quy định;

- Khách hàng phải hoàn trả nợ gốc và lãi đúng kỳ hạn;

- Cho vay dựa trên phương án đầu tư có hiệu quả.

Về quy định cho vay:

- Khách hàng có khả năng sử dụng vốn (có đủ sức khỏe và phương án sản xuất,

kinh doanh hiệu quả), khơng có nợ q hạn từ các nguồn vốn khác;

- Khách hàng có hộ khẩu thường trú và sinh sống thường xuyên tại địa phương;

- Hội viên phụ nữ nghèo phải tham gia Tổ tiết kiệm và vay vốn tại tổ;

- Tiêu chuẩn hộ nghèo theo quy định của pháp luật, các thành viên gia nhập Quỹ

phải xây dựng ý thức tiết kiệm và sinh hoạt cộng đồng thơng qua hình thức sinh hoạt

nhóm, thực hiện các cam kết quy chế tại tổ vay vốn tiết kiệm.

Các sản phẩm vốn vay của Quỹ được thiết kế trên nguyên tắc cho vay không

yêu cầu thế chấp, khơng tạo ra gánh nặng về hồn trả, bảo đảm cho người nghèo tập

dượt kỹ năng quản lý, sử dụng vốn vào các hoạt động tăng thu nhập và bù đắp chi phí

cho hợp lý cho hoạt động của Quỹ hỗ trợ phụ nữ nghèo. Khác với các ngân hàng và các

tổ chức tín dụng khác người vay khơng phải thế chấp, khơng phải trả bất kỳ một khoản

phí nào khác đã thực sự tạo điều kiện thuận lợi cho phụ nữ nghèo làm ăn, thoát nghèo.

Các loại vốn được phát ra theo vòng từ nhỏ đến lớn (từ 1 – 10 triệu đồng). Thời

hạn cho vay từ 3 -12 tháng. Gốc và lãi được trả theo hàng tháng và nộp cùng tiền tiết



46



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CỦA QUỸ HỖ TRỢ PHỤ NỮ NGHÈO

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×