Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
- Rủi ro giao dịch: Là rủi ro mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch bao gồm 3 bộ phận chính:

- Rủi ro giao dịch: Là rủi ro mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch bao gồm 3 bộ phận chính:

Tải bản đầy đủ - 0trang

- RRTD mang tính tất yếu. Nó ln ln tồn tại và gắn liền với hoạt

động tín dụng. Chấp nhận rủi ro là đương nhiên trong hoạt động ngân hàng.

Các NHTM cần phải đánh giá cơ hội kinh doanh dựa trên mối quan hệ rủi ro lợi nhuận nhằm tìm ra cơ hội đạt được những lợi ích xứng đáng với mức rủi

ro mà mình phải chấp nhận. Ngân hàng sẽ hoạt động và phát triển tốt nếu như

mức rủi ro là hợp lý, kiểm soát được và nằm trong phạm vi khả năng nguồn

tài chính và năng lực tín dụng của mình.

- RRTD mang tính gián tiếp. Nó xảy ra sau khi NHTM giải ngân vốn

vay và trong quá trình sử dụng vốn vay của khách hàng. Do tình trạng thông

tin bất cân xứng nên NHTM thường ở vào thế bị động. NHTM thường biết

thông tin sau hoặc thông tin khơng chính xác về những khó khăn thất bại của

khách hàng và do đó thường có những ứng phó khơng kịp thời.

- RRTD mang tính đa dạng và phức tạp. Đặc điểm này thể hiện ở sự đa

dạng và phức tạp trong nguyên nhân gây ra RRTD cũng như diễn biến việc,

hậu quả khi nó xảy ra.

1.3.2 Nguyên nhân rủi ro tín dụng tại các ngân hàng

1.3.2.1 Nhóm ngun nhân đến từ bản thân ngân hàng

- Việc mở rộng hoạt động tín dụng quá mức thường đi liền với RRTD

tăng lên, do việc lựa chọn khách hàng kém kỹ càng, khả năng giám sát, quản

lý của cán bộ tín dụng đối với việc sử dụng khoản vay giảm đi, đồng thời làm

cho quy trình tín dụng khơng được tn thủ một cách chặt chẽ.

- Trình độ phân tích, thẩm định, đánh giá khách hàng và các dự án vay

vốn của các cán bộ còn hạn chế, đặc biệt là cán bộ trực tiếp nhận hồ sơ khách

hàng khiến cho RRTD tăng khi chấp thuận giải ngân những dự án khơng khả thi

hay thậm chí bị khách hàng lừa gạt.



11



- Quy chế cho vay chưa chặt chẽ, quá cụ thể hoặc quá linh hoạt đếu làm

gia tăng RRTD. Việc đánh giá tài sản thế chấp, cầm cố hiện cũng đang là vấn

đề nổi cộm trong quy chế cho vay của các NHTM hiện nay.

- Một số ngân hàng áp dụng viêc giải quyết cho vay kiểu “trực tuyến

cá nhân” từ cán bộ tín dụng lên trưởng phòng tín dụng lên giám đốc. Thực tế,

áp dụng kiểu cho vay này thì quyền lực tập trung vào giám đốc, còn trách

nhiệm của các cá nhân bên dưới thường không rõ ràng, dẫn đến tinh thần

thiếu trách nhiệm, RRTD cao.

- Sự cạnh tranh không lành mạnh nhằm thu hút khách hàng giữa các

NHTM khiến cho việc thẩm định hồ sơ khách hàng trở nên sơ sài, qua loa hơn.

Hơn nữa, nhiều NHTM quá chú trọng đến lợi nhuận mà sẵn sàng chấp nhận rủi

ro cao, chấp thuận cho vay những khoản không lành mạnh, thiếu khả thi.

- Rủi ro do cán bộ nhân viên ngân hàng thối hóa, thiếu đạo đức. Các

cán bộ này khơng phải có trình độ năng lực yếu kém mà là vì tư lợi cá nhân,

cấu kết với khách hàng dẫn đến những tiêu cực, khiến cho rủi ro với các

khoản vay này là rất cao.

- Ngồi ra còn rất nhiều nhân tố khác như chất lượng thông tin và xử lý

thông tin, cơ cấu tổ chức và quản lý đội ngũ cán bộ, năng lực cơng nghệ…

1.3.2.2 Nhóm nguyên nhân đến từ phía khách hàng của ngân hàng

* Sử dụng vốn sai mục đích, khơng có thiện chí trong việc trả nợ vay

Lợi dụng nhiều điểm sơ hở của ngân hàng trong quá trình thẩm định hồ

sơ vay vốn, nhiều doanh nghiệp đã lập những bộ hồ sơ giả, phương án kinh

doanh giả để được vay vốn, hoặc đi vay ở nhiều ngân hàng khác nhau với

cùng một bộ hồ sơ.



12



Nhiều doanh nghiệp lập dự án kinh doanh để vay vốn như khi được giải

ngân lại sử dụng với mục đích khác, đầu tư những dự án thiếu an tồn hơn,

thậm chí là dùng để trả nợ các khoản vay đến hạn hay có lãi suất cao hơn.

Điều này làm cho nguồn trả nợ của doanh nghiệp là bấp bênh, thậm chí là mất

khả năng thanh tốn.

Hơn thế, có nhiều doanh nghiệp đến hạn thanh tốn lại cố tình trốn

tránh nghĩa vụ, gây khó khăn cho các cán bộ tín dụng trong q trình thu nợ,

khiến cho ngân hàng khơng chỉ tốn kém nhiều chi phí mà còn có khả năng

mất hưởng lãi và thất thốt vốn.

* Khả năng quản lý kinh doanh kém

Khi các doanh nghiệp vay tiền ngân hàng để mở rộng quy mô kinh

doanh, đa phần là tập trung vốn đầu tư vào tài sản vật chất chứ ít doanh nghiệp

nào mạnh dạn đổi mới cung cách quản lý, đầu tư cho bộ máy giám sát kinh

doanh, tài chính, kế tốn theo đúng chuẩn mực. Quy mơ kinh doanh phình ra

q to so với tư duy quản lý là nguyên nhân dẫn đến sự phá sản của các

phương án kinh doanh đầy khả thi mà lẽ ra nó phải thành cơng trên thực tế.

* Tình hình tài chính doanh nghiệp yếu kém, thiếu minh bạch

Các ngân hàng phải hết sức chú ý đến nhưng doanh nghiệp có quy mơ

tài sản, nguồn vốn nhỏ bé, tỷ lệ nợ so với vốn tự có cao. Ngồi ra cũng phải

cân nhắc xem xét các sổ sách kế toán mà các doanh nghiệp cung cấp cho ngân

hàng, vì nhiều khi chúng chỉ mang tính chất hình thức hơn là thực chất. Khi

cán bộ ngân hàng lập các bản phân tích tài chính của doanh nghiệp dựa trên

số liệu do các doanh nghiệp cung cấp, thường thiếu tính thực tế và xác thực.

Đây cũng là nguyên nhân vì sao ngân hàng vẫn luôn xem nặng phần tài sản

thế chấp như là chỗ dựa cuối cùng để ngăn ngừa và hạn chế hậu quả của

RRTD.

1.3.2.3 Những nguyên nhân khách quan

13



* Rủi ro do môi trường kinh tế không ổn định

Rủi ro này xuất phát từ sự biến động quá nhanh và khơng dự đốn được

của thị trường thế giới, cùng với những rủi ro tất yếu từ quá trình tự do hóa tài

chính, hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời thiếu sự quy hoạch, phân bổ đầu tư

một cách hợp lý đã dẫn đến khủng hoảng thừa về đầu tư trong một số ngành.

* Rủi ro do môi trường pháp lý chưa thuận lợi

- Việc triển khai luật và các văn bản đã có vào hoạt động ngân hàng

chậm chạp và còn gặp phải nhiều vướng mắc bất cập:

Ảnh hưởng rõ nét nhất đến hoạt động tín dụng là một số văn bản về việc

cưỡng chế thu hồi nợ đều có quy định: Trong những hợp khách hàng khơng trả

được nợ, NHTM có quyền xử lý tài sản đảm bảo nợ vay. Nhưng trên thực tế,

các NHTM không làm được điều này vì ngân hàng là một tổ chức kinh tế,

không phải là cơ quan quyền lực nhà nước, không có chức năng cưỡng chế

buộc khách hàng bàn giao tài sản đảm bảo cho ngân hàng để xử lý hoặc việc

chuyển tài sản đảm bảo nợ vay để Tòa án xử lý qua con đường tố tụng vốn rất

phức tạp và rườm rà về thủ tục… cùng nhiều các quy định khác dẫn đến tình

trạng NHTM khơng thể giải quyết được nợ tồn đọng, tài sản tồn đọng.

- Sự thanh tra, kiểm tra, giám sát chưa hiệu quả của Ngân hàng Nhà

nước:

Thanh tra ngân hàng còn hoạt động một cách thụ động theo kiểu xử lý

vụ việc đã phát sinh, ít có khả năng ngăn chặn và phòng ngừa rủi ro và vi

phạm, ngồi ra khả năng kiểm sốt tồn bộ thị trường tiền tệ và giám sát rủi

ro còn yếu. Mơ hình tổ chức của thanh tra ngân hàng còn tồn tại nhiều bất

cập. Do vậy mà có những sai phạm của các NHTM không được thanh tra

NHNN cảnh báo, có biện pháp ngăn chặn từ đầu, để đến khi hậu quả nặng nề

đã xảy ra rồi mới can thiệp.

1.3.3 Hậu quả của rủi ro tín dụng ngân hàng

14



Khi RRTD xảy ra sẽ làm ảnh hưởng xấu đến rất nhiều chủ thể. Đầu tiên

là bản thân các ngân hàng và khách hàng đi vay, sau đó là tác động đến cả nền

kinh tế.

1.3.3.1 Hậu quả của rủi ro tín dụng đối với ngân hàng

Việc không thu hồi được nợ (gốc, lãi và các khoản phí) làm cho nguồn

vốn của các NHTM bị thất thốt, trong khi đó, các ngân hàng này vẫn phải chi

trả tiền lãi cho nguồn vốn hoạt động, làm cho lợi nhuận bị giảm sút. Nếu lợi

nhuận khơng đủ thì ngân hàng còn phải dùng chính vốn tự có của mình để bù

đắp thiệt hại. Điều này có thể làm ảnh hưởng đến quy mơ hoạt động của các

NHTM.

Mặt khác, tỷ lệ nợ quá hạn cao làm cho uy tín, niềm tin vào tiềm lực tài

chính của ngân hàng bị suy giảm, dẫn đến làm giảm khả năng huy động vốn

của ngân hàng, nghiêm trọng hơn nó có thể dẫn đến rủi ro thanh khoản, đẩy

ngân hàng đến bờ vực phá sản và đe dọa sự ổn định của toàn bộ hệ thống

ngân hàng.

1.3.3.2 Hậu quả của rủi ro tín dụng đối với khách hàng

Đối với bản thân chủ thể khơng có khả năng hồn trả vốn (lãi) cho ngân

hàng thì họ gần như khơng có cơ hội tiếp cận với nguồn vốn ngân hàng và

thậm chí là cả những nguồn khác trong nền kinh tế do đã mất đi uy tín.

Cơ hội tiếp cận vốn ngân hàng của các chủ thể đi vay khác cũng bị hạn

chế hơn khi RRTD buộc các NHTM hoặc thắt cho vay hay thậm chí phải thu

hẹp quy mơ hoạt động.

Các chủ thể gửi tiền vào ngân hàng có nguy cơ không thu hồi được

khoản tiền gửi và lãi nếu như các ngân hàng lâm vào tình trạng phá sản.

1.3.3.3 Hậu quả của rủi ro tín dụng đối với nền kinh tế

Hệ thống ngân hàng có mối quan hệ chặt chẽ với nền kinh tế, là kênh

thu hút và cung cấp tiền cho các tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân trong nền

kinh tế. Do đó, RRTD có ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế.

15



Ở mức độ thấp, RRTD khiến cơ hội tiếp cận vốn mở rộng hoạt động

sản xuất kinh doanh hoặc tiêu dùng của các khách hàng bị hạn chế, ảnh hưởng

xấu đến khả năng tăng trưởng của nền kinh tế.

Ở mức độ cao hơn, khi có một ngân hàng lâm vào tình trạng khó khăn

dẫn đến phá sản, thì hiệu ứng dây chuyền rất dễ xảy ra trong toàn bộ hệ thống

ngân hàng, gây nên khủng hoảng đối với toàn bộ nền kinh tế, ảnh hưởng tiêu

cực đến đời sống xã hội và sự phát triển của đất nước.

1.3.4 Các chỉ tiêu phản ánh rủi ro tín dụng

1.3.4.1 Tỷ lệ an tồn vốn tối thiểu (Tỷ lệ vốn tự có trên tổng tài sản Capital Adequacy Ratio - CAR)

Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu ( theo quy định các gới hạn Tỷ lệ an toàn

vốn tối thiểu phản ánh mức đủ vốn của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng

nước ngồi quy đinh trong thơng tư 36/2014/TT-NHNN ngày 20/11/2014) Tỷ

lệ an tồn vốn tối thiểu của tổ chức tín dụng gồm tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu

riêng lẻ và tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu hợp nhất.

* Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu riêng lẻ: Từng tổ chức tín dụng phải duy

trì tỷ lệ an tồn vốn tối thiểu riêng lẻ 9%.

Tỷ lệ an tồn vốn tối thiểu



Vốn tự có riêng lẻ

x 100%

Tổng TS Có rủi ro riêng lẻ

riêng lẻ (%)

=

* Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu hợp nhất: Tổ chức tín dụng có cơng ty



con, ngồi việc duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu riêng lẻ 9%, đồng thời duy

trì tỷ lệ an tồn vốn tối thiểu hợp nhất 9%.

Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu



Vốn tự có hợp nhất

Tổng TS Có rủi ro hợp nhất

hợp nhất (%)

=

1.3.4.2 Nợ có vấn đề ( phản ánh rủi ro tiềm năng)



x 100%



Nợ có vấn đề xuất hiện khi khoản nợ chưa đến hạn nhưng có nhiều

nguyên nhân ảnh hưởng xấu đến khả năng trả nợ của khách hàng.

Dấu hiệu nhận biết nợ có vấn đề:



16



- Hoạt động kinh doanh có chiều hướng xấu: ngành kinh doanh đang

gặp khó khăn hay chính sách của nhà nước tác động đến các doanh nghiệp

trong ngành.

- Sự thay đổi trong cơ cấu quản lý kinh doanh: thu hẹp quy mô sản

xuất, chủng loại sản phẩm hoặc số lượng nhân công…

- Người vay cố tình trì hỗn việc nộp báo cáo tài chính hoặc việc sắp

xếp cán bộ tín dụng đến thăm cơ sở sản xuất kinh doanh.

- Vốn vay không được sử dụng đúng mục đích.

- Dùng vốn vay ngân hàng để trả nợ ngân hàng khác.

1.3.4.3 Nợ quá hạn và Hệ số nợ quá hạn

Nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi đã

quá hạn thanh tốn ghi trên hợp đồng tín dụng nhưng khách hàng vẫn chưa hoàn

trả cho ngân hàng.

Hệ số nợ quá hạn =



Tổng giá trị Nợ quá hạn

X 100%

Tổng dư nợ cho vay



Chỉ tiêu này phản ánh, trong 100 đồng ngân hàng cho vay thì có bao

nhiêu đồng đã đến hạn thanh toán mà chưa thu hồi lại được. Tỷ lệ này càng

cao thì mức độ RRTD của ngân hàng càng cao.

1.3.4.4 Nợ xấu và tỷ lệ Nợ xấu/Tổng dư nợ

Nợ xấu (theo quy định về phân loại nợ của các TCTD trong thông tư số

02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước) là

các khoản nợ thuộc 1 trong 3 nhóm sau:

* Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) là các khoản nợ được tổ chức tín dụng

đánh giá là khơng có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn và có khả

năng tổn thất một phần nợ gốc và lãi, bao gồm:

- Các khoản nợ quá hạn từ 91 đến 180 ngày;

- Nợ gia hạn lần đầu;



17



- Nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng khơng có đủ khả năng trả

lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng;

- Nợ thuộc một trong các đối tượng sau đây:

+ Nợ của khách hàng hoặc bên bảo đảm là tổ chức, cá nhân thuộc đối

tượng mà tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngồi khơng được cấp

tín dụng theo quy định của pháp luật;

+ Nợ được đảm bảo bằng cổ phiếu của chính tổ chức tín dụng hoặc

cơng ty con của tổ chức tín dụng hoặc tiền vay được sử dụng để góp vốn vào

một tổ chức tín dụng khác trên cơ sở tổ chức tín dụng cho vay nhận tài sản

đảm bảo bằng cổ phiếu của chính tổ chức tín dụng nhận góp vốn;

+ Nợ khơng có đảm bảo hoặc được cấp với điều kiện ưu đãi hoặc giá trị

vượt quá 5% vốn tự có của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

khi cấp cho khách hàng thuộc đối tượng bị hạn chế cấp tín dụng theo quy định

của pháp luật;

+ Nợ cấp cho các công ty con, công ty liên kết của tổ chức tín dụng

hoặc doanh nghiệp mà tổ chức tín dụng nắm quyền kiểm sốt có giá trị vượt

các tỷ lệ giới hạn theo quy định của pháp luật;

+ Nợ có giá trị vượt quá các giới hạn cấp tín dụng, trừ trường hợp được

phép vượt giới hạn, theo quy định của pháp luật;

+ Nợ vi phạm các quy định nội bộ về cấp tín dụng, quản lý tiền vay,

chính sách dự phòng rủi ro của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước

ngoài;

- Nợ đạng thu hồi theo kết luận thanh tra.

* Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm:

- Nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày;

- Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời

hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;

18



- Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai;

- Khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày chưa thu hồi được trong

thời gian từ 30 ngày đến 60 ngày kể từ ngày có quyết định thu hồi;

- Nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra nhưng quá thời hạn thu hồi

theo kết luận thanh tra đến 60 ngày mà vẫn chưa thu hồi được;

* Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm:

- Nợ quá hạn trên 360 ngày;

- Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo

thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;

- Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ

được Cơ cấu lại lần thứ hai;

- Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn

hoặc đã quá hạn;

- Khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày chưa thu hồi được trong

thời gian trên 60 ngày kể từ ngày có quyết định thu hồi;

- Nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra nhưng quá thời hạn thu hồi

theo kết luận thanh tra đến 60 ngày mà vẫn chưa thu hồi được;

- Nợ của khách hàng là tổ chức tín dụng được Ngân hàng Nhà nước

cơng bố đặt vào tình trạng kiểm sốt đặc biệt, chi nhánh ngân hàng nước

ngoài bị phong tỏa vốn và tài sản;

- Chỉ tiêu dùng để đánh giá chất lượng tín dụng của tổ chức tín dụng.



19



Tỷ lệ Nợ xấu/Tổng dư nợ =

1.4 Quản lý rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại.

1.4.1 Sự cần thiết của cơng tác quản lý rủi ro tín dụng.

Quản lý rủi ro tín dụng là q trình ngân hàng tác động đến hoạt động

tín dụng thơng qua bộ máy và cơng cụ quản lý để phòng ngừa, cảnh báo, đưa

ra các biện pháp nhằm hạn chế đến mức tối đa việc không thu được đầy đủ cả

gốc và lãi của khoản vay hoặc thu gốc và lãi không đúng hạn.

Công tác quản lý RRTD ngày càng khẳng định vai trò quan trọng khi mà

mức độ RRTD cũng như mức độ nguy hiểm của nó đối với các NHTM ngày

càng gia tăng.

Theo phân tích của các nhà nghiên cứu, trong thời gian gần đây số

lượng khủng hoảng trung bình mỗi năm ngày càng tăng với hậu quả ngày

càng nặng nề hơn. Điều này chứng tỏ xu hướng kinh doanh ngân hàng đang

ngày càng chứa đựng nhiều rủi ro hơn. Nguyên nhân của thực tế này là do xu

hướng hội nhập kinh tế quốc tế và đề cao cạnh tranh ngày càng trở nên phổ

biến. Xu hướng này đã chứng tỏ hiệu quả nhất định của nó trong việc thúc

đẩy nền kinh tế cũng như các doanh nghiệp phát triển và hoàn thiện, nhưng ở

một khía cạnh khác, nó lại thể hiện mức độ rủi ro tăng lên, khi mà các ngân

hàng phải cạnh tranh gay gắt với nhau làm cho chênh lệch lãi suất biên ngày

càng giảm xuống, họ buộc phải mở rộng quy mô kinh doanh để bù đắp sự sụt

giảm về lợi nhuận, đồng thời điều này cũng làm giảm khả năng bù đắp rủi ro

nội tại của chính họ. Mặt khác, hội nhập kinh tế còn làm xuất hiện nhiều nguy

cơ rủi ro mới. Các sản phẩm dựa trên sự phát triển của khoa học công nghệ

như thẻ tín dụng, tín dụng cá nhân, tín dụng tiêu dùng…ln chứa đựng

những rủi ro mới.

20



Như vậy có thể nhận thấy RRTD ngày càng đe dọa sự tồn tại và phát

triển của các NHTM. Riêng đối với các nước đang phát triển, nhất là các nước

đang trong quá trình chuyển đổi, mơi trường kinh doanh khơng ổn định, thị

trường tài chính kém phát triển, mức độ minh bạch thông tin thấp… làm gia

tăng mức độ rủi ro đối với hoạt động ngân hàng thì nhu cầu phải QLRR một

cách hiệu quả càng trở nên cấp thiết.

1.4.2 Chức năng, nhiệm vụ của cơng tác quản lý rủi ro tín dụng

- Tổ chức nghiên cứu, dự báo rủi ro có thể xảy ra đến đâu, trong điều

kiện nào, nguyên nhân dẫn đến rủi ro, hậu quả ra sao…

- Hoạch định phương hướng tổ chức phòng chống rủi ro có khoa học,

nhằm chỉ ra những mục tiêu cụ thể cần đạt được, ngưỡng an tồn, mức độ sai

sót có thể chấp nhận được…

- Tham gia xây dựng các chương trình nghiệp vu, cơ cấu kiểm sốt phòng chống rủi ro; phân quyền hạn và trách nhiệm cho từng thành viên; lựa

chọn các công cụ, kỹ thuật phòng chống rủi ro; xử lý rủi ro và giải quyết hậu

quả mà rủi ro gây ra một cách nghiêm túc.

- Kiểm tra, kiểm soát để đảm bảo việc thực hiện theo đúng kế hoạch

phòng chống rủi ro đã hoạch định, phát hiện các rủi ro tiềm ẩn, sai sót khi giao

dịch…Từ đó đưa ra các biện pháp điều chỉnh, bổ sung nhằm hoàn thiện hệ thống

quản lý RRTD.

1.4.3 Nội dung của quản lý rủi ro tín dụng

Quản lý rủi ro là điều mà tất cả những nhà quản lý ngân hàng rất quan

tâm, vì nếu quản lý được thì việc phòng ngừa và hạn chế rủi ro trở nên dễ

dàng hơn. Việc quản lý rủi ro tín dụng bao gồm các nội dung sau:

1.4.3.1 Chính sách tín dụng

Hoạt động tín dụng của ngân hàng rất phong phú, đa dạng nhưng đồng

thời cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ rủi ro. Xây dựng một chính sách tín dụng

nhất quán và hợp lý, phù hợp với đặc điểm của từng ngân hàng sẽ giúp phát

21



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

- Rủi ro giao dịch: Là rủi ro mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch bao gồm 3 bộ phận chính:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×