Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
* Mô hình điểm số Z (Z Credit scoring Model) :[ 17, trang 334 ]

* Mô hình điểm số Z (Z Credit scoring Model) :[ 17, trang 334 ]

Tải bản đầy đủ - 0trang

Trị ố Z càng cao, thì người vay có xác suất vỡ nợ càng thấp. Như vậy, khi

trị số Z thấp hoặc là một số âm sẽ là căn cứ để xếp khách hàng vào nhóm có

nguy cơ vỡ nợ cao.

Z < 1,8: Khách hàng có khả năng rủi ro cao.

1,8 < Z <3: Không xác định được.

Z > 3: Khách hàng khơng có khả năng vỡ nợ.

Bất kỳ cơng ty nào có điểm số Z < 1.81 phải được xếp vào nhóm có nguy

cơ rủi ro tín dụng cao.

1.5 Quan điểm hiện đại về quản lý RRTD

Hình 1.1: Quan điểm hiện đại về quản trị rủi ro tín dụng

Các hoạt động

kinh doanh

Tạo ra

giá trị



Rủi ro



Lợi nhuận

(+)



(-)

Vốn



Quản lý rủi ro



Quản lý vốn



30



Quản lý chi phí/thu nhập



Mức độ rủi ro ngày càng gia tăng đã buộc hoạt động quản lý RRTD phải

chuyển đổi tương ứng. Nếu như ở thập niên 70 - 80, các NHTM tập trung nhiều

vào việc quản lý chi phí và thu nhập nhằm tối đa hóa lợi nhuận, chỉ số sinh lợi

trên vốn chủ sở hữu (ROE) được coi là mục tiêu kinh doanh hàng đầu, thì trong

những năm 90 trở lại đây, do mức độ quan trọng của quản lý rủi ro, các NHTM

chuyển trọng tâm chiến lược sang quản lý danh mục đầu tư (cân đối và hạn chế

rủi ro danh mục bằng cách nhận dạng, dự báo và kiểm soát mức độ rủi ro với

từng thị trường, ngành hàng khác nhau, khách hàng, mặt hàng, loại sản phẩm

tín dụng và điều kiện hoạt động khác nhau). Yếu tố rủi ro đã được bổ sung vào

mục tiêu ROE, gọi là kết quả hoạt động điều chỉnh theo rủi ro (ví dụ RAROC Hệ số sinh lời của vốn chủ sở hữu điều chỉnh theo rủi ro). Mơ hình quản lý rủi

ro hiện đại được thể hiện trong hình 1.1.



31



Theo mơ tả trong hình 1.1, mục tiêu cuối cùng của các hoạt động ngân

hàng là tạo ra giá trị (làm tăng giá trị vốn cho cổ đơng). Để làm được điều đó,

NHTM phải tạo ra lợi nhuận càng cao càng tốt. Tuy nhiên, song hành cùng với

các mức lợi nhuận là các những rủi ro có tác động làm giảm giá trị vốn. Trong

thời kì trước, các ngân hàng chỉ chú trọng vào mức lợi nhuận ròng. Chỉ tiêu này

mang tính thụ động vì nó là hiệu của lợi nhuận trừ đi các tổn thất rủi ro thực tế

xảy ra trong năm. Ngày nay, do sự phát triển của thống kê và yêu cầu mới của

quản trị ngân hàng, mức lợi nhuận được điều chỉnh, không phải bằng mức tổn

thất thực tế xảy ra, mà là mức tổn thất dự kiến hay kỳ vọng. Phương pháp này

mang tính chủ động hơn, nó buộc các NHTM phải chuẩn bị vốn, trích lập dự

phòng để bù đắp rủi ro dự kiến và điều này để đảm bảo cho ngân hàng hoạt

động bền vững.

Như vậy, theo quan điểm hiện đại được áp dụng phổ biến, quản lý

RRTD nhằm mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận được điều chỉnh theo rủi ro bằng

cách duy trì mức độ RRTD trong phạm vi chấp nhận được, hay nói cách khác,

mức độ rủi ro được duy trì ở mức mà các ngân hàng cho là hợp lý, được kiểm

sốt và tổn thất tín dụng nằm trong phạm vi nguồn lực tài chính cho phép của

họ. Quản lý RRTD hiệu quả là điều kiện thiết yếu để quản lý rủi ro tổng thể

của NHTM và được xem là yếu tố đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển

bền vững của các NHTM trong dài hạn.

1.6 Kinh nghiệm về quản lý rủi ro tín dụng của một số nước trên

thế giới và bài học kinh nghiệm cho các ngân hàng của Việt Nam [ 9 ]

1.6.1 Kinh nghiệm về quản lý rủi ro tín dụng của một số nước trên

thế giới

* Kinh nghiệm của CHLB Đức về mơ hình đảm bảo tín dụng

Trong quan hệ tín dụng với Ngân hàng, có nhiều hình thức bảo lãnh

khác nhau, một trong những hình thức bảo lãnh được áp dụng phổ biến và khá

32



thành công ở Cộng hòa Liên Ban Đức là bảo lãnh của ngân hàng bảo lãnh.

Ngân hàng Bảo lãnh ở Đức được thành lập và hoạt động theo luật công ty.

Chức năng chủ yếu là bảo lãnh cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ vay vốn

ngân hàng trong trường hợp các doanh nghiệp này hoạt động tốt, nhưng khi

vay vốn không đủ tài sản thế chấp và đề nghị Ngân hàng Bảo lãnh đứng ra

bảo lãnh phần tiền vay thiếu tài sản thế chấp. Nguồn thu chủ yếu của Ngân

hàng Bảo lãnh là kinh doanh chứng khốn có giá, lệ phí 1% giá trị bảo lãnh và

hoa hồng bảo lãnh hàng năm. Theo pháp luật quy định, khi có rủi ro trong cho

vay thì Ngân hàng Bảo lãnh chịu 80% và ngân hàng cho vay chịu 20%. Để

được bảo lãnh, các doanh nghiệp phải gửi toàn bộ hồ sơ xin vay đến Ngân

hàng Bảo lãnh của mình. Sau khi thẩm định tồn diện dự án vay vốn và khả

năng trả nợ, hiệu quả kinh tế, giá trị tài sản thế chấp... nếu thấy phương án vay

vốn tốt, dù giá trị tài sản thế chấp có nhỏ hơn tiền vay, doanh nghiệp vẫn được

chấp thuận bảo lãnh. Ngân hàng Bảo lãnh có mối liên hệ chặt chẽ với Bộ Tài

chính, Bộ Kinh tế để được hỗ trợ và bảo lãnh lại. Ngồi ra còn các đối tác

khác tham gia cấp vốn, tư vấn, quan hệ cơng việc và khách hàng xin bảo lãnh,

đó là Ngân hàng Tín dụng tái thiết, các NHTM và các quỹ tiết kiệm, các

doanh nghiệp vừa và nhỏ. Ngân hàng bảo lãnh ở Cộng Hòa Liên Bang Đức đã

hỗ trợ tích cực cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp

vừa và nhỏ, góp phần làm đa dạng hóa thị trường vốn ở nước này.

* Kinh nghiệm quản lý tín dụng của ngân hàng Citibank

Một trong những tập đồn tài chính có hiệu quả kinh doanh được đánh

giá cao trên thế giới là Citigroup, trong đó kết quả hoạt động của Citibank đã

tạo nên một nguồn thu lớn cho Citigroup. Đây là một tập đồn hàng đầu

khơng chỉ về quy mơ mà còn là đối thủ có sức mạnh trên thương trường nhờ

chính sách quản lý rủi ro của tập đoàn. Chủ tịch tập đoàn Citigroup - Walter



33



Wriston đã từng nói lên vai trò quan trọng của hoạt động quản lý rủi ro như

sau: toàn bộ cuộc sống trong hoạt động ngân hàng là quản trị rủi ro.

Trong môi trường hoạt động ngân hàng, Citibank đã xây dựng một

khung quản trị rủi ro, trong đó bao gồm các chính sách tín dụng được tuyên

bố một cách rõ ràng, quy trình quản lý rủi ro, các cơng cụ và nguồn thông tin

cần thiết để ra quyết định, về đội ngũ nhân sự có cùng một sự hiểu biết, một

ngơn ngữ chung, trách nhiệm về vai trò của họ trong quy trình tín dụng. Khi

những yếu tố này được hội tụ một cách đầy đủ sẽ tạo ra trong ngân hàng một

văn hóa tín dụng hiệu quả.

Mơ hình tín dụng thương mại được tiêu chuẩn hóa và phải trải qua 3

giai đoạn của quá trình xét duyệt: gặp gỡ khách hàng, thẩm định, thực hiện

giao dịch. Ba giai đoạn trong chính sách tín dụng chủ chốt của Citibank bao

gồm: hình thành chiến lược và kế hoạch cho vay; tiến hành cho vay khách

hàng; đánh giá và báo cáo thực thi. Trong các giai đoạn này trách nhiệm của

các bộ phận tham gia được thể hiện một cách rất cụ thể, rõ ràng như sau:

Uỷ ban quản lý (Management Committee) thực hiện các nhiệm vụ:

thiếtlập mục tiêu hoạt động và tiêu chuẩn danh mục đầu tư đối với ngân hàng;

đặt hạn mức tín dụng đối với Uỷ ban chính sách tín dụng.

Uỷ ban chính sách tín dụng (Credit Policy Committee) thực hiện các

nhiệm vụ sau: đặt ra hạn mức tín dụng cùng với Uỷ ban quản lý; xây dựng

chính sách tín dụng; quản lý và đánh giá danh mục đầu tư và quản trị rủi ro.

Bộ phận quản trị rủi ro (Line Management) thực thi các nhiệm vụ: lập

ra chiến lược kinh doanh; nhận định thị trường mục tiêu và mức chấp nhận rủi

ro; gặp gỡ khách hàng và đánh giá rủi ro, xét duyệt dư nợ rủi ro; theo dõi việc

hồn trả và các hồ sơ tín dụng, theo dõi và duy trì giao dịch, giải ngân cho nhà

đầu tư: theo dõi các vấn đề phát sinh trong quá trình tín dụng; xúc tiến tiến độ

khoản vay.



34



Mục tiêu của quy trình tín dụng hiệu quả là đảm bảo ngân hàng hoạt

động đạt hiệu quả cao, rủi ro được giảm thiểu một cách thấp nhất với lợi

nhuận mục tiêu.

* Kinh nghiệm quản lý tín dụng của tập đồn ngân hàng ING

Hoạt động quản trị tín dụng ở từng ngân hàng có những đặc điểm cơ

bản giống nhau, tuy nhiên khơng hồn tồn giống nhau vì nó tùy thuộc vào

một loạt các yếu tố như trình độ phát triển, tính chất hoạt động, các hình thức

sở hữu, quan niệm của lãnh đạo ngân hàng... Để hướng tới một hoạt động

chuẩn hóa có hiệu quả ta có thể nghiên cứu xem xét kinh nghiệm quản lý tín

dụng của tập đồn ING, đây là tập đoàn lớn hoạt động trên toàn cầu về lĩnh

vực bảo hiểm, ngân hàng, hiện đang được coi là đơn vị hàng đầu của Châu Âu

về hiệu quả quản lý rủi ro nói chung, trong đó có quản trị tín dụng với một số

đặc điểm như sau:

- Bộ máy độc lập, quản lý chung.

- Rạch ròi về thẩm quyền quyết định tín dụng.

- Xây dựng hạn mức tín dụng nội bộ và cho khách hàng.

- Lượng hóa rủi to tín dụng, chủ động đối phó

1.6.2 Bài học kinh nghiệm về quản lý rủi ro tín dụng đối với các

ngân hàng của Việt Nam

Qua kinh nghiệm của một số Ngân hàng trong quản trị tín dụng có thể

rút ra một số bài học cho các NHTM Việt Nam:

Một là, tạo hành lang pháp lý cho sự ra đời của các Ngân hàng Bảo

lãnh, các tổ chức mua bán nợ, kinh doanh rủi ro. Những tổ chức này sẽ góp

phần tăng cường các biện pháp, giải pháp trong hoạt động tài trợ rủi ro đồng

thời góp phần phát triển đầy đủ các thị trường

Hai là, xây dựng và hoàn thiện bộ máy quản trị rủi ro tín dụng. Đảm

bảo tính độc lập trong xử lý các khoản cho vay giữa Cán bộ tín dụng (cán bộ



35



khách hàng), cán bộ quản lý nợ với cán bộ quản lý rủi ro tín dụng, cán bộ

thẩm định. Tùy theo quy mô của chi nhánh, cấp chi nhánh cũng cần phải có

đội ngũ cán bộ quản lý rủi ro tín dụng chuyên trách.

Ba là, thực hiện đổi mới dần đi đến cải tổ toàn diện. Đổi mới luôn là

một yêu cầu để theo kịp với thực tiễn; thông qua đổi mới dần từng bước tiến

tới cải tổ tồn diện đối với các yếu tố có ảnh hưởng tác động đến năng lực

quản trị rủi ro bao gồm hoạch định và xây dựng chiến lược, mục tiêu và chính

sách quản trị rủi ro. Việc chuyển đổi mơ hình tín dụng này phải theo từng giai

đoạn và có lộ trình cụ thể, phù hợp với tình hình hoạt động và đặc thù từng

ngân hàng. Ví dụ trong thời gian đầu thực hiện chuyển đổi mơ hình, các ngân

hàng thương mại chưa thể thực hiện ngay việc tập trung toàn bộ hồ sơ lên bộ

phận thẩm định tâp trung ở trụ sở chính kiểm sốt do nguồn lực còn hạn chế.

Điển hình là nguồn lực con người có thể có đủ về số lượng nhưng chưa đủ về

chất lượng, cán bộ chưa quen với mơi trường làm việc, tính chất cơng việc

cũng như quy trình mới. ngồi ra hệ thống cơng nghệ thơng tin của các ngân

hàng có thể chưa đáp ứng được những đòi hỏi mới.

Bốn là, xây dựng thị trường mục tiêu, mức rủi ro chấp nhận của ngân

hàng. Thị trường mục tiêu được xây dựng trên cơ sở phân tích các bước sau:

(1) nhận dạng thị trường tiềm năng (phân theo vùng, ngành, sản phẩm...) dựa

vào tổng quan của các thành viên tham gia thị trường; (2) liệt kê được các cơ

hội trong thị trường đó; (3) theo dõi được môi trường kinh doanh, đánh giá

được vị trí của ngân hàng trên mỗi thị trường và theo đó điều chỉnh được thị

trường mục tiêu;(4) miêu tả được các yếu tố chất và lượng của khách hàng

mục tiêu trên mỗi thị trường.

Kinh nghiệm của Citibank cho thấy việc xây dựng mức rủi ro chấp

nhận dựa trên các yếu tố sau: (1) mức doanh thu; (2) chất lượng quản lý; (3)



36



tăng trưởng tiềm năng; (4) quan hệ với chính phủ; (5) vị trí trong ngành cơng

nghiệp; (6) các chỉ số tài chính (7) các điều khoản tín dụng phù hợp; (8) thu

nhập tiềm năng cho ngân hàng từ khoản vay đó.

Năm là, thường xuyên đào tạo và bồi dưỡng kiến thức cho cán bộ. Để

nâng cao năng lực đánh giá, phân tích RRTD cho cán bộ thẩm định RRTD,

cán bộ rủi ro chuyên trách nhằm từng bước xây dựng đội ngũ chuyên gia về

quản trị RRTD vì theo kinh nghiệm của Citibank thì khơng có phương pháp

phân tích phức tạp, hiện đại nào có thể thay thế được kinh nghiệm và đánh giá

của chuyên môn về quản trị rủi ro.

Sáu là, chú trọng hơn việc đầu tư và nâng cấp hệ thống công nghệ

thông tin. Công nghệ thông tin ngày càng đóng vai trò quan trọng trong hoạt

động ngân hàng. Tuy nhiên, tốc độ tiến bộ của công nghệ thơng tin là rất

nhanh, do đó cần chú trọng hơn nữa đến việc đầu tư và nâng cấp hệ thống

cơng nghệ thơng tin nhằm phục vụ tích cực hơn cho việc phân tích, đánh giá,

đo lường RRTD, thực hiện chấm điểm tín dụng theo tiêu chuẩn quốc tế, giám

sát độc lập khoản vay, chú trọng thực hiện phân nhóm khách hàng. Ngồi ra

hệ thống cơng nghệ này hỗ trợ rất nhiều cho hoạt động tín dụng: từ khâu luân

chuyển, lưu trữ hồ sơ giữa chi nhánh và hội sở chính, đến khâu tác nghiệp về

giải ngân, thu nợ, nhập/xuất tài sản bảo đảm cũng như hình thức của quyết

định tíndụng, họp online thay vì họp trực tiếp, giải trình hồ sơ ký thông qua

hệ thống điện tử, chữ ký điện tử thay vì chữ kí giấy.

Bảy là, cân nhắc giữa lợi ích thu được và chi phí. Việc xây dựng và

triển khai mơ hình tín dụng theo thơng lệ quốc tế đòi hỏi tốn kém nhiều thời

gian và chi phí. Tùy điều kiện của mình mà các ngân hàng có hướng đi và lộ

trình riêng. Ngồi ra cần linh hoạt trong việc áp dụng chính sách đối với

khách hàng. Hay nói cách khác từng khách hàng thì Ngân hàng nên có cách

ứng xử khác nhau.

37



CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Tổng quan phương pháp luận

Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng trong nghiên

cứu. Khi sử dụng phương pháp luận này dẫn đường cho việc nghiên cứu đứng

trên quan điểm toàn diện, đồng thời vận dụng các nguyên lý của phép biện

chứng về mối liên hệ phổ biến và trong vận động. Điều đó cho phép trong

nghiên cứu xác định, phân loại những mối liên hệ của quản lý tín dụng với

hoạt động ngân hàng; xem xét quản lý tín dụng với hoạt động chủ yếu là cho

vay… xem xét quản lý tín dụng của ngân hàng TMCP Phương Nam trong giai

đoạn 2010 đến 2014, giúp đưa ra những nhận xét, đánh giá khách quan và phù

38



hợp với thực tế hơn. Ngồi ra còn sử dụng các phương pháp khác như phương

pháp so sánh, phương pháp phân tích... Luận văn còn sử dụng tổng hợp các

phương pháp nghiên cứu khoa học kinh tế, tổng hợp và phân tích, phương

pháp tốn, với sự trợ giúp của kỹ thuật vi tính và tham khảo các cơng trình

nghiên cứu khác có liên quan để làm nổi bật và sâu sắc nội dung nghiên cứu

của đề tài.

2.2. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể

2.2.1. Thu thập dữ liệu

Giai đoạn đầu của thu thập dữ liệu là việc xác định nguồn dữ liệu

nghiên cứu, mẫu biểu và cách tiến hành điều tra. Nghiên cứu này tập trung

vào việc quản lý rủi ro tín dụng của Southernbank. Lựa chọn này được biện

luận như sau:

Southernbank là ngân hàng cổ phần được thành lập trên cơ sở được sáp

nhập một số ngân hàng TMCP nhỏ và Quỹ tín dụng nhân dân từ cuối thập

niện 90. Tỷ lệ nợ xấu tương đối cao do vậy đã phát sinh rủi ro tín dụng nên

cần thiết phải nghiên cứu về quản lý rủi ro tín dụng tại Southernbank

Dữ liệu được thu thập tại các nguồn như báo cáo hoạt động kinh doanh,

Báo cáo thường niên của Southernbank… Các số liệu dùng để phân tích được

lấy từ số liệu thứ cấp, đây là kỹ thuật lấy dữ liệu, mẫu biểu đơn giản, dễ kiểm

tra và có thực. Ngồi ra luận văn còn tham khảo các văn bản như các quyết

định, thông tư, các văn bản pháp quy, định hướng phát triển của ngân hàng

nhà nước, các thông tin trên các tạp chí chuyên ngành, các báo cáo khoa học

liên quan.

2.2.2. Phân tích và tổng hợp dữ liệu

Phương pháp này được sử dụng trước hết là dể đánh giá các cơng trình

nghiên cứu hiện có từ đó hình thành khung lý thuyết cho luận văn. Ngồi ra nó



39



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

* Mô hình điểm số Z (Z Credit scoring Model) :[ 17, trang 334 ]

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×