Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2 Thực trạng quản lý nhân lực của Viện khoa học và công nghệ Giao thông Vận tải

2 Thực trạng quản lý nhân lực của Viện khoa học và công nghệ Giao thông Vận tải

Tải bản đầy đủ - 0trang

và các Phó Viện trưởng thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ GTVT nên trong

luận văn này không đề cầp đến công tác tuyển dụng đối với công chức chỉ đề

cập đến công tác tuyển dụng đối với viên chức và người lao động.

Trình tự tuyển dụng viên chức và người lao động tại Viện Khoa học và

Công nghệ GTVT được thực hiện theo các bước sau:

Bước 1. Đề xuất yêu cầu tuyển dụng

- Đối với tuyển dụng viên chức: hàng năm, dựa trên số biến chế được

giao, số lượng viên chức hiện tại của Viện, nguồn tài chính và quỹ lương,

phòng Tổ chức Hành chính xem xét đề xuất tuyển dụng viên chức.

- Đối với tuyển dụng lao động: Định kỳ 03 tháng một lần hoặc do yêu

cầu đột xuất, cấp bách của công việc, các đơn vị đăng ký với Viện nhu cầu bổ

sung hoặc thay đổi nhân sự và các tiêu chuẩn mà ứng viên phải đạt được.

Bước 2. Lập kế hoạch tuyển dụng

- Đối với tuyển dụng viên chức: Hàng năm, Viện xây dựng kế hoạch

tuyển dụng viên chức trình Bộ Giao thơng vận tải phê duyệt để tổ chức thực

hiện và báo cáo Bộ Giao thơng vận tải.

- Đối với tuyển dụng lao động: phòng Tổ chức - Hành chính lập kế

hoạch tuyển dụng trên cơ sở chỉ tiêu tuyển dụng đã được Lãnh đạo Viện duyệt

và thơng báo chính thức lịch làm việc của Hội đồng tuyển dụng

Bước 3. Thông báo tuyển dụng: Các thông tin về tiêu chuẩn, điều

kiện, số lượng cần tuyển, thời hạn và địa điểm tiếp nhận hồ sơ của người đăng

ký dự tuyển được thông báo công khai trên phương tiện thông tin đại chúng,

trang thông tin điện tử của Viện và niêm yết công khai tại trụ sở làm việc.



Bước 4. Tổ chức tuyển dụng

- Đối với tuyển dụng viên chức: Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải ra

quyết định thành lập Hội đồng tuyển dụng viên chức trên cơ sở đề xuất kế

55



hoạch tuyển dụng của Viện Khoa học và Công nghệ GTVT. Hội đồng tuyển

dụng gồm: có 05 hoặc 07 thành viên, bao gồm: Viện trưởng hoặc Phó Viện

trưởng, Trưởng phòng Tổ chức Hành chính, viên chức thuộc phòng Tổ chức

Hành chính, những người có chun mơn, nghiệp vụ liên quan đến vị trí tuyển

dụng. Tuyển dụng viên chức theo hai hình thức: thi tuyển viên chức và xét

tuyển viên chức. Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quyết định hình thức thi

tuyển trước khi tổ chức tuyển dụng viên chức.

Hình thức thi tuyển viên chức: Thi kiến thức chung và thi chuyên môn,

nghiệp vụ chuyên ngành. Việc thi tin học và ngoại ngữ đối với người dự thi

tuyển viên chức thực hiện theo tiêu chuẩn của ngạch tuyển dụng hoặc chức

danh nghề nghiệp và yêu cầu của vị trí việc làm.

Bài thi được chấm theo thang điểm 100. Điểm các bài thi được tính như

sau: Thi kiến thức chung: Tính hệ số 1; Thi chuyên môn, nghiệp vụ chuyên

ngành: Phần thi viết hoặc thi trắc nghiệm tính hệ số 1; phần thi thực hành tính

hệ số 2. Kết quả thi là tổng số điểm của bài thi kiến thức chung và các bài thi

chuyên môn, nghiệp vụ chuyên ngành. Kết quả thi tuyển lấy theo thứ tự từ

cao xuống thấp cho đến hết chỉ tiêu tuyển dụng của từng vị trí việc làm.

Hình thức xét tuyển viên chức: Hội đồng tuyển dụng sẽ xét kết quả học

tập bao gồm điểm học tập và điểm tốt nghiệp của người dự tuyển; kiểm tra,

sát hạch thong qua phỏng vấn hoặc thực hành về năng lực, trình độ chun

mơn, nghiệp vụ của người dự tuyển.

Cách tính điểm:

+ Điểm học tập được xác định bằng trung bình cộng kết quả các mơn

học trong tồn bộ q trình học tập của người dự xét tuyển ở trình độ, chun

mơn, nghiệp vụ theo yêu cầu của vị trí dự tuyển và được đổi theo thang điểm

100, tính hệ số 1.



56



+ Điểm tốt nghiệp được xác định bằng trung bình cộng kết quả các môn

thi tốt nghiệp hoặc điểm bảo vệ luận văn của người xét dự tuyển và được quy

đổi theo thang điểm 100, tính hệ số 1.

+ Trường hợp người dự xét tuyển được đào tạo theo hệ thống tín chỉ thì

điểm học tập đồng thời là điểm tốt nghiệp và được quy đổi theo thang điểm

100, tính hệ số 2.

+ Điểm phỏng vấn hoặc thực hành được tính theo thang điểm 100 và

tính hệ số 2.

Kết quả xét tuyển là tổng số điểm của điểm học tập, điểm tốt nghiệp,

điểm phỏng vấn. Kết quả xét tuyển đảm bảo điểm học tập, điểm tốt nghiệp và

điểm phỏng vấn hoặc thực hành mỗi loại đạt từ 50 điểm trở lên và tổng điểm

thi lấy theo thứ tự từ cao xuống thấp cho đến hết chỉ tiêu tuyển dụng của từng

vị trí việc làm.

- Đối với tuyển dụng lao động: Viện ra quyết định thành lập Hội đồng

tuyển dụng lao động. Hội đồng tuyển dụng gồm: bao gồm: Viện trưởng hoặc

người được Viện trưởng uỷ quyền, Lãnh đạo phòng Tổ chức Hành chính, cán

bộ thuộc phòng Tổ chức Hành chính, một đại diện của đơn vị có nhu cầu sử

dụng lao động, các cán bộ khác có năng lực, trình độ và kinh nghiệm phù hợp

với ngạch thi tuyển.Các hình thức tuyển dụng lao động:

Hình thức thi tuyển lao động: mỗi phần thi được chấm theo thang điểm

do Hội đồng tuyển dụng quy định. Người trúng tuyển trong kỳ thi tuyển là

người tham gia đủ các mơn thi, có điểm đạt trung bình trở lên của từng mơn

và lấy người có tổng số điểm cao nhất cho đến hết chỉ tiêu được tuyển.

Hình thức xét tuyển lao động: thực hiện theo giống như xét tuyển

viên chức.

Hình thức phỏng vấn trực tiếp ứng viên: Hội đồng tuyển dụng tiến hành

phỏng vấn trực tiếp các ứng viên về các nội dung có liên quan đến u cầu



57



của vị trí tuyển dụng và các thơng tin liên quan khác. Kết quả phỏng vấn do

Hội đồng tuyển dụng xem xét, đánh giá trình Viện trưởng quyết định.

Bước 5. Thông báo kết quả tuyển dụng: Trong thời hạn 10 ngày làm

việc, kể từ ngày nhận được báo cáo kết quả thi tuyển hoặc xét tuyển của Hội

đồng tuyển dụng, Viện niêm yết công khai kết quả thi tuyển hoặc xét tuyển tại

trụ sở làm việc và trên trang thông tin điện tử của Viện.

Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày niêm yết công khai kết quả

thi tuyển, người dự tuyển có quyền gửi đơn đề nghị phúc khảo kết quả thi

tuyển. Viện trưởng giao Hội đồng tuyển dụng tổ chức chấm phúc khảo trong

thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày hết thời hạn nhận đơn phúc khảo theo

quy định tại Khoản này.

Sau khi thực hiện xong các bước trên, Viện thực hiện ký kết hợp đồng:

Đối với tuyển dụng viên chức:

- Viện báo cáo kết quả tuyển dụng trình Bộ Giao thơng vận tải phê duyệt.

- Sau khi có văn bản phê duyệt của Bộ Giao thông vận tải, Viện gửi

thông báo công nhận kết quả trúng tuyển bằng văn bản tới người dự tuyển và

ghi rõ thời gian, địa điểm người trúng tuyển đến ký hợp đồng làm việc.

Đối với tuyển dụng lao động: Trong thời hạn chậm nhất là 30 ngày, kể

từ ngày công bố kết quả tuyển dụng, người trúng tuyển phải đến Viện để ký

hợp đồng lao động.

Quá thời hạn nói trên, người được tuyển dụng khơng đến ký hợp đồng, nhận

việc thì Viện sẽ hủy bỏ kết quả tuyển dụng hoặc hủy hợp đồng lao động đã ký.

Nhìn chung, cơng tác tuyển dụng tại Viện Khoa học học và Công nghệ

GTVT đã thực hiện theo đúng Luật viên chức số 58/2010/QH12 được Quốc

hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 8 thông

qua ngày 15 tháng 11 năm 2010 và Luật lao động số 10/2012/QH13 được

Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 3



58



thông qua ngày 18/6/2012, tuy nhiên công tác tuyển dụng tại Viện vẫn còn

một số hạn chế sau:

- Nguồn tuyển dụng bên ngồi: Tuyển dụng chưa được thơng báo rộng

rãi trên các phương tiện thơng tin đại chúng. Do đó những người có nhu cầu

tìm việc rất khó tiếp cận được thơng tin về tuyển dụng của Viện.

- Chưa có mẫu hồ sơ dự tuyển riêng. Tất cả bộ hồ sơ đều theo mẫu

chung thống nhất của Nhà nước, chưa có bộ mẫu hồ sơ riêng cho từng loại

ứng viên vào các vị trí việc làm khác nhau.

- Có tiêu chuẩn tuyển dụng theo quy định của nhà nước nhưng việc áp

dụng vào thực tế còn nhiều bất cập, mang tính hình thức, chủ quan hoặc theo

các mối quan hệ. Mặt khác, chưa thực hiện được việc phân tích cơng việc

thông qua bảng mô tả công việc và bảng tiêu chuẩn cơng việc cho các từng vị

trí việc làm trong Viện. Do vậy dẫn đến tình trạng nhân sự mới dù đáp ứng

được một số yêu cầu về bằng cấp, trình độ chun mơn và kinh nghiệm nhưng

Viện cũng phải mất rất nhiều thời gian để đào tạo lại họ cho phù hợp với yêu

cầu công việc.

- Người phỏng vấn là cán bộ quản lý trực tiếp của bộ phận có nhu cầu

tuyển dụng. Cán bộ chưa được huấn luyện kĩ năng phỏng vấn. Phỏng vấn

được thực hiện như một hình thức xem mặt, đánh giá ứng viên theo hình thức,

thái độ, tác phong là chính, nội dung câu hỏi phỏng vấn chưa chú trọng vào

các kiến thức và kĩ năng liên quan đến khả năng thực hiện công việc.

- Công tác tuyển dụng của Viện chưa được phổ biến rộng rãi, chưa thực

sự theo đúng quy trình tuyển dụng để đảm bảo nguồn nhân sự tuyển dụng từ

bên ngoài có thể tham gia tuyển dụng. Việc tuyển dụng chủ yếu và phổ biến

thông qua giới thiệu, quen biết, người thân, họ hàng và nhiều khâu trong quy

trình tuyển dụng mang nặng hình thức chưa căn cứ vào tiêu chuẩn cụ thể,

chưa thật sự khách quan. Nhân sự mới được tuyển dụng dù đáp ứng được một



59



số yêu cầu về bằng cấp, trình độ chun mơn và kinh nghiệm nhưng Viện

cũng phải mất rất nhiều thời gian để đào tạo lại họ cho phù hợp với yêu cầu

công việc.

3.2.4 Sử dụng nhân lực

Thứ nhất, phân cơng bố trí cơng tác viên chức và người lao động:

Cơ cấu tổ chức khá gọn, ít cấp quản lý, theo đúng chức danh cơng việc

và được thực hiện theo nguyên tắc: đúng người đúng việc, công việc đúng

chuyên môn được đào tạo. Cán bộ lãnh đạo của Viện và các đơn vị trực thuộc

phần lớn thuộc chuyên ngành giao thông vận tải, một số thuộc chuyên ngành

khác nhưng đã có kinh nghiệm quản lý. Cán bộ phụ trách chun mơn, kỹ

thuật được bố trí cơng việc phù hợp chun ngành của mình như: xây dựng

cầu đường, cầu hầm, xây dựng cơng trình thủy, cơ khí, máy xây dựng, tự động

hóa, mơi trường …Tuy nhiên, ở một số đơn vị trực thuộc vẫn còn tình trạng

dư thừa cán bộ hoặc không phù hợp với vị trí đảm nhận.

Những viên chức và người lao động giỏi vẫn được giao cho những

công việc quan trọng, nhưng phải mất một thời gian dài thử thách.

Nhìn chung, trong các năm qua, việc sắp xếp, bố trí, phân cơng cơng

tác đã dựa vào phân tích cơng việc để xác định đúng chức năng nhiệm vụ

cũng như yêu cầu của công việc để bố trí, phân cơng nhân viên theo đúng

trình độ chuyên môn được đào tạo.

Thứ hai, nâng bậc lương, nâng ngạch

Hàng năm, Viện thực hiện việc xem xét nâng bậc lương thường xuyên

cho viên chức và người lao động theo quy định hiện hành; nâng bậc lương

trước thời hạn đối với công chức, viên chức và người lao động đạt thành tích

xuất sắc trong cơng tác.

Viện ln quan tâm và tạo điều kiện cho các viên chức được dự thi

nâng ngạch, tuy nhiên những năm gần đây do thay đổi về chủ trương, chính



60



sách, hình thức tổ chức thi nâng ngạch nên nhiều viên chức đã đủ điều kiện

dự thi nâng ngạch những chưa được dự thi nâng ngạch. Đặc biệt là đối với

ngạch KHCN do việc xây dựng lại chức danh nghề nên từ năm 2011, Bộ

Khoa học Công nghệ và Bộ Nội vụ không tổ chức thi nâng ngạch cho các cán

bộ KHCN. Đây chính là hạn chế của cơ chế chính sách của Nhà nước chưa

khuyến khích, động viên được cán bộ nghiên cứu khoa học bằng một mức

lương thỏa đảng, chưa tạo động lực để các cán bộ KHCN khơng ngừng học

tập nâng cao trình độ.

Thứ ba, công tác luân chuyển, điều động cán bộ: Trong những năm

qua, tùy vào điều kiện và nhu cầu thực tế của công việc, Viện Khoa học và

Công nghệ GTVT đã thực hiện luân chuyển, điều động các viên chức và

người lao động đến các vị trí việc làm mới theo đúng quy định của Nhà nước.

Thứ tư, công tác đề bạt, bổ nhiệm cán bộ: Viện đã ban hành Quy chế

bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, biệt phái, luân chuyển, từ chức, miễn nhiệm đối với

các chức danh lãnh đạo, quản lý theo các quy định hiện hành. Quy trình đề

bạt, bổ nhiệm được thực hiện cơng khai và minh bạch trên cơ sở nguồn cán bộ

quy hoạch hàng năm.

3.2.5 Công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực

Công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực luôn được Viện quan tâm

và hằng năm đều dành ra một khoản kinh phí nhất định để triển khai thực

hiện. Nội dung các chương trình đào tạo phát triển nguồn nhân lực chủ yếu

nhằm nâng cao và phát triển trình độ chun mơn nghiệp vụ. Bên cạnh đó,

Viện còn chú trọng đến công tác đào tạo bồi dưỡng kiến thức về quản lý nhà

nước, lý luận chính trị... cho cơng chức, viên chức và người lao động. Viện có

kế hoạch cho các cán bộ quản lý, các chuyên viên có thời gian công tác trên 2

năm học quản lý Nhà nước ngạch chuyên viên và tham dự các khóa học về kỹ

năng do các dự án trong ngành tổ chức.



61



Từ năm 2010-2014, Viện đã cử được nhiều lượt cán bộ đi đào tạo, kết

quả đào tạo được thể hiện trên bảng sau:

Bảng 3.8: Thống kê cán bộ, công nhân viên chức được cử đi đào tạo

giai đoạn 2010-2014

Nội dung đào tạo

1. Đào tạo dài hạn

Tiến sỹ

Thạc sĩ



2. Đào tạo trung hạn

3. Đào tạo ngắn hạn



Chuyên ngành

Xây dựng Cầu đường

Xây dựng Cầu đường

Vật liệu xây dựng

Địa chất cơng trình

Quản lý kinh tế, Luật

Cao cấp chính trị

Quản lý hành chính nhà

nước hệ chuyên viên chính



Số



Tỷ trọng



người

57

8

38

5

3

3

2

101



(%)

35,63

5,00

23,75

3,13

1,88

1,88

1,25

63,13



15



9,38



Quản lý hành chính nhà



25

15,63

nước hệ chuyên viên

Xây dựng Cầu đường

37

23,13

Vật liệu xây dựng

10

6,25

Địa chất cơng trình

5

3,13

Bảo hiểm xã hội

4

2,50

Chế độ tiền lương

5

3,13

(Nguồn: Phòng Tổ chức Hành chính, Viện Khoa học và Công nghệ GTVT)

Hàng năm, Viện đều tổ chức nhiều Hội thảo khoa học, hội nghị KHCN,

thêm vào đó là các buổi tiếp và làm việc song phương, bàn về khả năng hợp

tác trong ứng dụng tiến bộ KHCN trong thực tế của ngành GTVT Việt Nam.

Nhờ vậy, đội ngũ cán bộ của Viện có cơ hội tiếp cận, học hỏi và tiếp thu các

công nghệ kỹ thuật hiện đại của thế giới.

Năm 2011, Viện Khoa học và Công nghệ GTVT được Bộ GTVT giao

nhiệm vụ thực hiện dự án hỗ trợ kỹ thuật “Phát triển công nghệ đánh giá rủi

ro do trượt đất gây ra trên các tuyến đường giao thơng chính tại Việt Nam”



62



bằng nguồn vốn ODA của Chính phủ Nhật Bản. Đây là một dự án lớn mang

tính chất hợp tác đào tạo và chuyển giao cơng nghệ cho các kỹ sư của Viện.

Chính vì vậy Viện đã có 01 cán bộ được đi đào tạo trình độ tiến sỹ, 05 cán bộ

được đi đào tạo trình độ Thạc sỹ, hơn 25 lượt cán bộ được tham gia các khóa

đào tạo ngắn hạn để nâng cao trình độ chun mơn tại Nhật Bản theo nguồn

kinh phí của dự án ODA.

Để có thể đánh giá một cách khách quan về chất lượng và hiệu quả của

công tác đào tạo tại Viện Khoa học và Công nghệ Giao thông Vận tải, học

viên đã tiến hành khảo sát lấy ý kiến của 60 người đang công tác tại Viện theo

mẫu phiếu số 1. Sau khi tiến hành khảo sát ý kiến của nhân viên tại Viện

Khoa học và Công nghệ Giao thông vận tải, tác giả thu được kết quả khảo sát

như sau:

Với: 1: rất không đồng ý; 2: không đồng ý; 3: đồng ý; 4: rất đồng ý.

Bảng 3.9: Kết quả khảo sát mức độ thỏa mãn đối với công tác đào tạo

Mức độ thỏa mãn đối với cơng tác đào tạo



1



2



3



4



1. Nhân viên có quan tâm đến công tác đào tạo



6



27



23



4



2. Nội đung đào tạo có chuyên sâu



4



23



22



11



0



14



37



9



2



4



37



17



7



28



20



5



3. Kiến thức được đào tạo có giúp ích cho cơng

việc

4. Người được cử đi đào tạo có đúng người, đúng

chun mơn

5. Cơng tác đào tạo có thường xun

6. Có cơ hội phát triển trong cơng việc sau khi



12

16

22

10

được đi đào tạo

Theo dõi kết quả điều tra trên có thể thấy nhân viên tại Viện Khoa học

và Cơng nghệ GTVT vẫn còn khá nhiều người chưa thực sự quan tâm đến

công tác đào tạo, mặc dù các nhân viên tham gia khảo sát phần lớn ủng hộ

63



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 Thực trạng quản lý nhân lực của Viện khoa học và công nghệ Giao thông Vận tải

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×