Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Phương pháp nghiên cứu tài liệu là phương pháp thường sử dụng trong nghiên cứu tổng quan về cơ sở lý luận, các lý thuyết nói chung.

Phương pháp nghiên cứu tài liệu là phương pháp thường sử dụng trong nghiên cứu tổng quan về cơ sở lý luận, các lý thuyết nói chung.

Tải bản đầy đủ - 0trang

muốn trình bày, có thể có được quan sát so sánh sự biến động về số liệu giữa

các năm khác nhau.

2.2.3 Phương pháp phân tích

a) Phân tích tài liệu sơ cấp

Tồn bộ số liệu thu được thơng qua kết quả tổng hợp phiếu điều tra đã

gửi cho 60 người đang làm việc tại Viện Khoa học và Công nghệ Giao thông

Vận tải sẽ được xử lý với sự hỗ trợ của phần mềm Excel. Kết quả điều tra sẽ

được tập hợp trên các bảng tính tỷ lệ phần trăm và qua đó đánh giá được mức

độ thỏa mãn của của nhân viên đối với công tác đào tạo, mức lương được trả

tại Viện Khoa học và Công nghệ Giao thông Vận tải.

Đánh giá kết quả xử lý số liệu: Từ kết quả xử lý số liệu, tìm các điểm

chưa phù hợp trong thực hiện công tác đào tạo, mức lương thưởng ví dụ như:

nội dung đào tạo đáp ứng được u cầu cơng việc như thế nào, mức lương có

thỏa mãn người lao động ảnh hưởng tới cơng tác.

Tìm các giải pháp nâng cao công tác quản lý nhân sự: Từ những thông

tin thu thập được từ kết quả xử lý số liệu, tác giả sẽ đưa ra một số giải pháp

nhằm hồn thiện cơng tác đào tạo và chế độ lương thưởng cho phù hợp với

mong muốn của người lao động tại đơn vị.

b) Phân tích tài liệu thứ cấp

Tác giả phân tích các số liệu về nhân sự qua các năm 2010, 2011, 2012,

2013, 2014 để thấy được các biến động về nhân sự qua các năm theo độ tuổi,

giới tình, ngành nghề được đào tạo...

Phương pháp so sánh là phương pháp sử dụng rộng rãi, phổ biến trong

phân tích kinh tế nói chung và phân tích tài chính nói riêng. Mục đích của so

sánh là làm rõ sự khác biệt hay những đặc trưng riêng có của đối tượng

nghiên cứu; từ đó giúp cho các đối tượng quan tâm có căn cứ để đề ra quyết

định lựa chọn.



35



Học viên đã sử dụng phương pháp so sánh để phân tích các số liệu về

thực trạng nhân lực tại Viện Khoa học và Công nghệ Giao thông Vận tải tại

Chương 3, so sánh về quy mô, cơ cấu và chất lượng nhân lực, trong đó cơ cấu

nhân lực theo giới tính, độ tuổi, còn chất lượng nhân lực được thể hiện ở trình

độ chun mơn, trình độ ngoại ngữ, tin học... trong giai đoạn 2010 - 2014.

Tiếp đến, học viên sử dụng phương pháp tổng hợp để đánh giá chung về tình

hình quản lý nhân lực tại Viện Khoa học và Cơng nghệ Giao thơng Vận tải từ

đó khái quát những kết quả đạt được trong công tác quản lý nhân lực tại đơn

vị và nêu ra những hạn chế, đề xuất các giải pháp hồn thiện cơng tác quản lý

nhân lực tại đơn vị.



36



CHƯƠNG 3

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÂN LỰC TẠI VIỆN KHOA HỌC

VÀ CÔNG NGHỆ GIAO THÔNG VẬN TẢI

3.1 Giới thiệu về Viện khoa học và công nghệ Giao thơng vận tải

3.1.1 Q trình hình thành và phát triển của Viện Khoa học và Công nghệ

Giao thông Vận tải

Viện Khoa học và Công nghệ Giao thông Vận tải được thành lập theo

Nghị định số 96-NĐ ngày 04/10/1956 của Bộ Giao thông và Bưu điện. Ngày

29/12/2006, Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải đã ra Quyết định số 3003/QĐBGTVT phê duyệt đề án chuyển đổi Viện Khoa học và Cơng nghệ Giao thơng

Vận tải sang hình thức tổ chức Khoa học và Công nghệ tự trang trải kinh phí

theo Nghị định số 115/2005/NĐ-CP ngày 05/9/2005 của Chính phủ.

Từ ngày thành lập đến nay, trải qua 59 năm xây dựng và phát triển,

Viện Khoa học và Công nghệ Giao thông Vận tải luôn đồng hành với từng

thời kỳ lịch sử của đất nước và qua từng giai đoạn này, Viện đã lần lượt được

đổi tên cho phù hợp với từng nhiệm vụ cụ thể hơn.

Thời kỳ mới thành lập, Viện được mang tên là Viện Thí nghiệm vật liệu

(giao đoạn từ 1956 - 1961). Từ năm 1961 đến năm 1983, trải qua hai giai

đoạn lịch sử của đất nước: thời kỳ trước và trong giai đoạn kháng chiến chống

Mỹ (giai đoạn từ năm 1961 đến 1975) và thời kỳ khôi phục và trong giai đoạn

phát triển GTVT (giai đoạn từ năm 1976 đến 1983), Viện được mang tên Viện

Kỹ thuật giao thông. Trong thời kỳ đầu khôi phục kinh tế đất nước, một lần

nữa Viện được đổi tên thành Viện Khoa học kỹ thuật GTVT (giai đoạn từ năm

1984 - 1995). Từ năm 1996 đến 2006 là thời kỳ dần bắt nhịp với nền kinh tế

thị trường và hội nhập. Từ năm 2006 đến nay là thời kỳ đổi mới và hội nhập

quốc tế trong tiến trình chuyển đổi theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm



37



theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP của Chính phủ, Viện được mang tên Viện

Khoa học và Cơng nghệ Giao thơng Vận tải.

Lịch sử hình thành và phát triển của Viện được chia thành các giai đoạn

cơ bản sau:

- Giai đoạn từ 1956-1961: Viện Thí nghiệm Vật liệu - Thời kỳ mới

thành lập.

- Giai đoạn từ 1961-1975: Viện Kỹ thuật Giao thông - Thời kỳ trước

và trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ.

- Giai đoạn từ 1976-1983: Viện Kỹ thuật Giao thông - Thời kỳ khôi

phục và phát triển GTVT sau khi đất nước thống nhất.

- Giai đoạn từ 1984-1995: Viện Khoa học Kỹ thuật Giao thông Vận tải

GTVT - Thời kỳ đầu khôi phục kinh tế đất nước.

- Giai đoạn từ 1996-2006: Viện Khoa học và Công nghệ Giao thông Vận

tải - Thời kỳ dần bắt nhịp với nền kinh tế thị trường và hội nhập.

- Giai đoạn từ 2007 đến nay: Viện Khoa học và Công nghệ Giao thông

Vận tải - Thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế trong tiến trình chuyển đổi theo

cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP.

3.1.2 Chức năng và nhiệm vụ của Viện Khoa học và Công nghệ Giao thông

Vận tải

3.1.2.1 Chức năng

Viện Khoa học và Công nghệ Giao thông Vận tải là tổ chức khoa học

công nghệ công lập trực thuộc Bộ GTVT, thực hiện chức năng Nghiên cứu

khoa học và phát triển công nghệ phục vụ quản lý nhà nước của Bộ trong lĩnh

vực xây dựng kết cấu hạ tầng, khai thác vận tải, công nghiệp, bảo vệ môi

trường và an tồn giao thơng vận tải; Thực hiện các dịch vụ khoa học và sản

xuất kinh doanh theo qui định của pháp luật.



38



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Phương pháp nghiên cứu tài liệu là phương pháp thường sử dụng trong nghiên cứu tổng quan về cơ sở lý luận, các lý thuyết nói chung.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×