Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
d. Kiểm toán về thực hiện tiến độ thi công

d. Kiểm toán về thực hiện tiến độ thi công

Tải bản đầy đủ - 0trang

- Cơng tác bố trí vốn, giải ngân, thanh tốn chậm: việc nợ đọng trong

đầu tư XDCB dẫn tới đơn vị thi cơng khơng có vốn để thực hiện thi cơng xây

dựng cơng trình;

- Do thay đổi thiết kế dự án, phát sinh các khối lượng trong q trình

thi cơng như: thay đổi vật liệu đắp; thay đổi thiết kế do phát sinh các vị trí

cầu, cống, do khơng phù hợp với quy hoạch của địa phương…;

- Do điều kiện về thời tiết, khí hậu…;

- Do năng lực quản lý của Chủ đầu tư, đại diện chủ đầu tư là các Ban

QLDA còn hạn chế thể hiện ở việc: xét duyệt, lựa chọn nhà thầu không đủ

năng lực thi công: xem xét, xử lý các tình huống phát sinh trong q trình

thực hiện chậm…;

- Do năng lực thi cơng của nhà thầu khơng đảm bảo như: khơng có đủ

kinh nghiệm thi công các dự án tương tự dẫn đến quá trình triển khai thi cơng

vướng mắc; máy móc trang thiết bị không đầy đủ như hồ sơ dự thầu; nhân sự

không đảm bảo, không đủ kinh nghiệm thực hiện…

Tuy nhiên tại hầu hết các dự án Chủ đầu tư, tư vấn giám sát và đơn vị

thi công đều không xác định được rõ nguyên nhân chủ quan hay khách quan

để tiến hành xử phạt hợp đồng theo quy định hiện hành.

Việc chậm tiến độ dự án không chỉ làm tăng chi phí đầu tư xây dựng

cơng trình (do trượt giá, lãi vay…), giảm tính hiệu quả của dự án do chậm đưa

cơng trình vào khai thác, ảnh hưởng đến mơi trường, sự phát triển kinh tế xã

hội mà còn làm suy giảm lòng tin của quần chúng nhân dân đối với Nhà nước.

Vấn đề này chính là vấn đề nóng bỏng và được xã hội quan tâm nhất hiện nay.

Do đó, cơng tác kiểm tốn đánh giá về tiến độ thi cơng một cách tồn

diện gặp rất nhiều khó khăn và phức tạp. Hiện nay KTNN chỉ dừng lại ở việc

đánh giá thời gian chậm tiến độ và đưa ra kiến nghị Chủ đầu tư và các bên

liên quan xác định rõ nguyên nhân để phạt hợp đồng theo quy định chứ chưa

85



đánh giá, tính tốn được cụ thể số liệu về tính kinh tế, hiệu quả trong việc

chậm tiến độ.

3.3.3.2. Kết hợp kiểm toán hoạt động (thực hiện kiểm tốn tính kinh tế,

hiệu lực và hiệu quả của dự án đầu tư xây dựng cơng trình)

Nội dụng này ln được thể hiện trong các BCKT của KTNN chuyên

ngành, khu vực đối với các cuộc kiểm toán dự án đầu tư. Nhưng thực tế cho

thấy việc đánh giá về tính kinh tế, tính hiệu quả và hiệu lực của dự án đối với

các dự án đầu tư của KTNN trong những năm qua còn rất chung chung, sơ sài

và thường dựa trên các kết quả kiểm tốn chi phí đầu tư để đánh giá, chưa phân

tích được cụ thể các khía cạnh kinh tế và hiệu quả mang lại của dự án, cụ thể:

- Tính kinh tế: Chỉ đánh giá việc thực hiện dự án đã để xảy ra các sai

phạm trong việc áp dụng định mức, đơn giá, tính tốn sai khối lượng và thiết

kế khơng đảm bảo làm ảnh hưởng đến tính kinh tế của dự án; chưa phân tích

được mức độ tiết kiệm hoặc lãng phí trong từng nội dung và toàn dự án, chưa

so sánh được tính kinh tế dựa các phương án lựa chọn dự án, giữa các phương

án thiết kế hoặc lựa chọn thời điểm, giai đoạn thi công. Đối với dự án chưa

phân tích được tính kinh tế khi trong việc lựa chọn vật liệu thay thế, lựa chọn

bãi đổ thải và các biện pháp thi cơng; GPMB...

- Tính hiệu quả: Gần như nội dung này KTV chỉ mới căn cứ vào Báo

cáo tình hình thực hiện dự án của đơn vị được kiểm tốn để đánh giá mà chưa

phân tích được kết quả đầu ra so với chi phí đã đầu tư hoặc mức độ sử dụng

kinh phí đầu tư so với kết quả đầu ra cho trước; đánh giá hiệu quả xã hội của

dự án.



86



3.3.4. Đối với bước lập và gửi báo cáo kiểm tốn

Các KTNN KV phải tn thủ trình tự lập, thẩm định, xét duyệt và phát

hành BCKT của KTNN theo quy định tại Quyết định số 03/2008/QĐ-KTNN

ngày 26/02/2008 của Tổng KTNN.

Dự thảo BCKT được các KTNN KV lập theo mẫu quy định của KTNN,

đối với việc kiểm toán báo cáo quyết toán dự án đầu tư được lập theo Mẫu số

01/BCKT-DAĐT áp dụng cho kiểm toán dự án đầu tư xây dựng cơng trình

(mẫu biểu kiểm tốn ban hành kèm theo Quyết định số 01/2012/QĐ-KTNN

ngày 28/3/2012 của Tổng KTNN) (Biểu 3.4).

Dự thảo BCKT của các KTNN KV cơ bản đảm bảo phản ánh đầy đủ

kết quả kiểm toán từ các biên bản kiểm toán và các bằng chứng kiểm toán. Để

BCKT được phát hành, KTNN KV cần tuân thủ các bước sau:

Trưởng Đồn kiểm tốn có nhiệm vụ tổ chức, chỉ đạo việc lập dự thảo

BCKT, chịu trách nhiệm về tính đúng đắn, trung thực, khách quan của các số

liệu, nhận xét. Chậm nhất là 15 ngày, kể từ ngày Đồn kiểm tốn kết thúc

kiểm tốn tại đơn vị phải hồn thành dự thảo BCKT. Vì vậy nhiều dự án đầu

tư xây dựng cơng trình có quy mơ lớn, thành lập nhiều Tổ kiểm toán sẽ rất vất

vả trong thời gian này để tổng hợp số liệu, tình hình kiểm tốn từ các Biên

bản tổ kiểm tốn thành dự thảo BCKT của Đồn kiểm tốn (trong đó có cả

việc lấy ý kiến tham gia của các thành viên trong Đồn kiểm tốn và chỉnh

sửa BCKT theo các ý kiến đã tham gia được thống nhất trong cuộc họp).

Kiểm toán trưởng KTNN KV thành lập Hội đồng thẩm định cấp vụ

(thường là 05 KTV) để tổ chức thẩm định dự thảo BCKT trước khi Kiểm tốn

trưởng thơng qua và trình lãnh đạo KTNN. Thời hạn trình dự thảo BCKT lên

lãnh đạo KTNN chậm nhất là 20 ngày, kể từ ngày kết thúc kiểm toán tại đơn vị

được kiểm toán.



87



Vụ Tổng hợp, Vụ Pháp chế, Vụ Chế độ & Kiểm sốt chất lượng kiểm

tốn có trách nhiệm thực hiện thẩm định dự thảo BCKT trước khi trình lãnh

đạo KTNN xét duyệt. Thời hạn tổ chức xét duyệt tối đa là 10 ngày kể từ ngày

nhận hồ sơ do các Kiểm tốn trưởng KTNNKVtrình lãnh đạo KTNN.

Phòng Thư ký - Tổng hợp thuộc Văn phòng KTNN có trách nhiệm tiếp

nhận và trình kết quả thẩm định dự thảo BCKT của các đơn vị chức năng cho

lãnh đạo Kiểm toán KTNN.

Lãnh đạo KTNN xét duyệt dự thảo BCKT và KTNN KV hoàn thiện dự

thảo BCKT, gửi lấy ý kiến đơn vị được kiểm toán. Trong thời hạn 07 ngày, kể

từ ngày nhận được dự thảo BCKT, đơn vị được kiểm toán phải có ý kiến bằng

văn bản gửi KTNN, nếu quá thời gian trên mà khơng có ý kiến thì coi như đã

nhất trí với dự thảo KCKT.

Biểu 3.4: Báo cáo kiểm tốn

KIỂM TỐN NHÀ NƯỚC



CỘNG HỒ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT



KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC



NAM



KV I



Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Hà Nội, ngày tháng 9 năm 2013

BÁO CÁO KIỂM TOÁN



VIỆC QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ XDCB NĂM 2013

CỦA BAN QUẢN LÝ DỰ ÁN CHỐNG SẠT LỞ BỞ TẢ SÔNG HỒNG

THUỘC QUẬN LONG BIÊN, HUYỆN GIA LÂM THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thực hiện Quyết định số 1045/QĐ-KTNN ngày 27 tháng 6 năm 2013 của Tổng

Kiểm toán Nhà nước về việc kiểm toán ngân sách, tiền và tài sản nhà nước năm

2012 của Thành phố Hà Nội, Tổ kiểm toán thuộc Đồn Kiểm tốn Nhà nước của

88



Kiểm tốn Nhà nước khu vực I đã tiến hành kiểm toán Ban Quản lý dự án chống

sạt lở bờ tả sông Hồng thuộc quận Long Biên, huyện Gia Lâm Hà Nội từ ngày

28/8/2013 đến ngày 7/9/2013.

1. Nội dung kiểm toán

......

2. Phạm vi và giới hạn kiểm toán

......

3. Căn cứ kiểm toán

.......

PHẦN THỨ NHẤT

KẾT QUẢ KIỂM TOÁN

I. KẾT QUẢ KIỂM TOÁN CHI TIẾT DỰ ÁN.

......

II KIỂM TOÁN VIỆC CHẤP HÀNH CHẾ ĐỘ KẾ TOÁN, TÀI CHÍNH

......

III. TÍNH KINH TẾ, HIỆU LỰC, HIỆU QUẢ TRONG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ

BẢN

PHẦN THỨ HAI

KIẾN NGHỊ

......



(Nguồn: BCKT dự án đầu tư chống sạt lở bờ tả sông Hồng quận Long

Biên - huyện Gia Lâm - thành phố Hà Nội năm 2013 của KTNN KV I)

Tổ chức thông báo kết quả kiểm toán với đơn vị được kiểm toán

Kiểm tốn trưởng KTNN KVcó trách nhiệm chỉ đạo việc hồn thiện

BCKT theo kết luận của lãnh đạo KTNN tại Hội nghị thơng báo kết quả

kiểm tốn với đơn vị. Vụ Tổng hợp có trách nhiệm kiểm tra việc hồn chỉnh

BCKT, thơng báo kết luận, kiến nghị kiểm tốn trình lãnh đạo KTNN trước



89



khi phát hành. Thời gian gửi BCKT cho đơn vị được kiểm tốn và các đơn vị

có liên quan chậm nhất là 45 ngày, trường hợp đặc biệt khơng q 60 ngày

(nếu có lý do khách quan và được lãnh đạo KTNN cho phép). Tuy nhiên

thường bị chậm hơn so với thời gian quy định do công tác lập, chỉnh sửa và

thống nhất quan điểm xử lý giữa KTNN KV với các Vụ chức năng và các đơn vị

được kiểm toán mất rất nhiều thời gian.

3.3.5. Đối với bước kiểm tra việc thực hiện kiến nghị kiểm toán

KTNN KV thực hiện việc kiểm tra việc thực hiện kiến nghị kiểm toán

của KTNN theo quy định tại Quyết định số 1223/QĐ-KTNN ngày 06/07/2012

của Tổng KTNN quy định về trình tự, nội dung công việc, nhiệm vụ và trách

nhiệm của các đơn vị, bộ phận có liên quan trong việc kiểm tra, tổng hợp,

theo dõi, xử lý, và báo cáo kết quả việc thực hiện kiến nghị kiểm toán của

KTNN.

Tổng KTNN sẽ thông báo Kế hoạch kiểm tra thực hiện kiến nghị kiểm

toán năm cho KTNN KV để tiến hành kiểm tra thực hiện kiến nghị kiểm toán.

Kiểm toán trưởng KTNN KV giao trách nhiệm cho các Trưởng đoàn

kiểm tra lập kế hoạch cuộc kiểm tra; phê duyệt kế hoạch cuộc kiểm tra và ký

Quyết định kiểm tra thực hiện kiến nghị kiểm tốn.

Trưởng đồn kiểm tra có trách nhiệm xây dựng đề cương hướng dẫn cho

đơn vị được kiểm tra chuẩn bị văn bản báo cáo Đoàn kiểm tra (thời hạn 02 ngày).

Trưởng đoàn kiểm tra phải tổ chức công bố Quyết định, Kế hoạch kiểm

tra với đơn vị được kiểm tra (chậm nhất sau 15 ngày kể từ ngày ký ban hành).

Các Tổ kiểm tra lập Biên bản kiểm tra thực hiện các kiến nghị kiểm

toán của KTNN; Trưởng đoàn kiểm tra lập Báo cáo kiểm tra thực hiện kiến

nghị kiểm toán của các đơn vị được kiểm tra trình Tổng KTNN (qua Vụ Tổng

hợp).



90



Trưởng đồn kiểm tra phải nộp Báo cáo kiểm tra thực hiện kiến nghị

kiểm toán cho Thủ trưởng đơn vị (Báo cáo kết quả kiểm tra thực hiện kiến

nghị kiểm tốn do Trưởng đồn ký - chậm nhất 07 ngày làm việc kể từ ngày

kết thúc kiểm tra tại đơn vị). Thủ trưởng đơn vị chủ trì kiểm tra xem xét nội

dung báo cáo và cho ý kiến về kết quả kiểm tra thực hiện kiến nghị kiểm tốn.

KTNN KV chủ trì kiểm tra phải trình Tổng KTNN Báo cáo kiểm tra

thực hiện kiến nghị kiểm toán. Báo cáo kiểm tra thực hiện kiến nghị kiểm

tốn do Thủ trưởng đơn vị chủ trì kiểm tra ký phát hành theo sự ủy quyền của

Tổng KTNN (chậm nhất 15 ngày làm việc kể từ ngày kết thúc kiểm tra).

Các cuộc kiểm toán kiểm tra thực hiện kiến nghị kiểm toán của KTNN

KV cơ bản đảm bảo đúng theo trình tự quy định, tuy nhiên việc hồ sơ chứng

từ nhiều lúc chưa đầy đủ và thiếu cơ sở nên khi qua KBNN không đối chiếu

được số đã nộp vào NSNN.

3.4. Hạn chế trong quy trình kiểm tốn báo cáo quyết toán dự án

đầu tư ở địa phương của KTNN

Thứ nhất là: Quy trình kiểm tốn dự án đầu tư xây dựng cơng trình của

KTNN chưa xây dựng được các tiêu chí cụ thể đối với loại hình kiểm toán

hoạt động. Trong một cuộc kiểm toán dự án đầu tư xây dựng cơng trình tiến

hành cả ba loại hình kiểm tốn (kiểm tốn báo cáo tài chính; kiểm toán tuân

thủ; kiểm toán hoạt động). Việc này sẽ tạo ra cuộc kiểm tốn hỗn hợp, khơng

tập trung vào một nội dung nhất định nào, dẫn đến chất lượng kiểm tốn

khơng rõ nét, các đánh giá nhận xét chưa sâu. Nhất là việc đánh giá các nội

dung kiểm tốn tính kinh tế, hiệu lực và hiệu quả thể hiện trong các BCKT rất

sơ sài, thiếu căn cứ và thiếu bằng chứng cụ thể và gần như nó khơng mang

đúng tính chất kiểm tốn hoạt động.

Thứ hai là: Cơng tác khảo sát thu thập thông tin về các dự án đầu tư

mới chỉ dừng lại ở mức thu thập tài liệu, số liệu liên quan đến dự án đầu tư,



91



thiếu những đánh giá xác đáng về dự án do đó việc lập kế hoạch kiểm toán

chủ yếu dựa vào kinh nghiệm của KTV; việc lựa chọn dự án đầu tư để kiểm

tốn thường dựa vào tiêu chí giá trị vốn đầu tư của dự án. Hiện nay chủ yếu

mới nêu được mơ hình tổ chức và hoạt động của Ban QLDA, chưa đi sâu

phân tích và đánh giá kỹ hệ thống kiểm sốt nội bộ có tác động như thế nào

đến dự án. Chưa có văn bản nào quy định rõ trách nhiệm đến cùng về các

thông tin thu thập và số liệu thu thập để lập báo cáo khảo sát. (Nhiều cuộc

khảo sát chi tiết bỏ sót nội dung, bỏ sót số liệu dẫn tới khi thực hiện kiểm tốn

Đồn kiểm tốn phải trình lên lãnh đạo KTNN điều chỉnh, bổ sung vì có

những vấn đề trong q trình khảo sát bỏ sót, chưa đề cập...).

Thứ ba là: KTNN chưa xây dựng được các phương pháp chọn mẫu

kiểm toán phù hợp với từng phần hành cơng việc trong kiểm tốn Báo cáo

quyết toán dự án đầu tư mà thường chỉ chọn mẫu những cơng việc có giá trị

lớn hơn 10trđ hoặc theo tỷ lệ % (Biểu 3.5) nên không xác định được mẫu cụ

thể dẫn đến cơng tác kiểm tốn mất nhiều thời gian, không trọng tâm, trọng

yếu làm ảnh hưởng đến mục tiêu kiểm toán đồng thời tiềm ẩn nhiều rủi ro

kiểm tốn khi mà các KTV khơng kiểm tra hết các đầu mục công việc đã

chọn.

Biểu 3.5: Chọn mẫu kiểm toán được nêu trong Kế hoạch kiểm toán



92



2.3. Giới hạn kiểm tốn:

- Đối với chi phí đầu tư của các dự án kiểm toán chi tiết:

(1). Nâng cấp Bệnh viện huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội: Chọn mẫu kiểm

tốn các Gói thầu xây lắp (số 6, 7, 8, 9). Trong từng gói thầu, chọn với các loại cơng tác

có giá trị ≥ 10trđ và các cơng tác liên quan; chi phí QLDA kiểm tốn các cơng việc có

giá trị ≥ 10trđ và các cơng tác liên quan;

Gói số 06: Khơng kiểm tốn hạng mục thiết bị trong gói thầu xây lắp, bao gồm:

Nhà khoa truyền nhiễm (gồm: Phần điện, phần nước, hệ thống ống kỹ thuật của điều

hòa và thơng gió, lắp đặt hệ thống thơng tin liên lạc, PCCC, phòng chống mối cơng

trình); Nhà tạm (gồm: Phần điện, phần nước); Giá trị hợp đồng 3.713.510.968đ / giá trị

nghiệm thu 3.634.404.031đ;

Gói thầu số 09: Khơng kiểm tốn hạng mục thiết bị trong gói thầu xây lắp, bao

gồm: Hạng mục nhà 9T và 4T (gồm: Thiết bị nước + lắp đặt, thiết bị vệ sinh + lắp đặt,

thiết bị điện, thiết bị chống sét, thiết bị điện thoại + truyền hình + mạng máy tính); Hệ

thống thơng tin liên lạc, camera; Giá trị hợp đồng 29.886.287.010đ / giá trị nghiệm thu

13.602.499.871đ.

....



(Nguồn: Kế hoạch kiểm toán dự án nâng cấp Bệnh viện huyện Đông Anh, TP

Hà Nội)

Thứ bốn là: KTNN thay khái niệm “trọng yếu kiểm toán” và dùng

khái niệm “trọng tâm kiểm toán” là chưa thực sự phù hợp vì hiện nay kiểm

tốn dự án đầu tư xây dựng cơng trình của KTNN đang tập trung vào nội

dung chính là kiểm tốn báo cáo quyết tốn nên việc xác định trọng yếu kiểm

toán vẫn rất cần thiết. Trọng yếu là một khái niệm chỉ độ lớn và cho biết mức

độ sai phạm nào thì bị coi là có sai sót nghiêm trọng và cần mở rộng mẫu

kiểm tra. Bởi vậy, việc không dùng khái niệm “trọng yếu kiểm tốn” dẫn đến

việc kết luận mẫu gặp rất nhiều khó khăn vì khơng biết những sai phạm được

phát hiện có ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính trung thực, khách quan của báo

cáo quyết tốn dự án đầu tư khơng? và có cần mở rộng mẫu kiểm tra

khơng?...



93



Thứ lăm là:Việc kiểm toán nguồn vốn đầu tư chưa được chú trọng

đúng mức, qua 03 năm kiểm tốn nhưng khơng có phát hiện sai phạm nào liên

quan đến nguồn vốn đầu tư dự án của các địa phương. Trong quy trình kiểm

tốn chưa nêu được đầy đủ các nội dung cần kiểm toán. Nếu áp dụng quy

trình hiện tại, KTV chỉ kiểm tra số vốn trong Báo cáo quyết toán và so sánh

với Biên bản đối chiếu với KBNN để xác nhận nguồn vốn của dự án mà chưa

rà sốt, phân tích kỹ dẫn đến không phát hiện được việc sử dụng nguồn khơng

đúng mục đích, khơng đúng đối tượng (ví dụ như Năm 2013, KTNN có kiểm

tốn chun đề về TPCP trong đó yêu cầu tập trung đánh giá việc sử dụng vốn

TPCP có đúng đối tượng, đúng quy định khơng và qua kết quả kiểm toán ban

đầu cho thấy nhiều dự án đầu tư bằng nguồn vốn TPCP và nguồn vốn khác,

nhưng khi kiến nghị đối với phần vốn thanh toán sai thuộc nguồn TPCP cho

phần tăng quy mô đầu tư trong các năm 2011 và 2012 khơng đúng quy định

thì rất khó tách giá trị là bao nhiêu).

Thứ sáu là: Việc đánh giá tính kinh tế, hiệu lực và hiệu quả của dự án

đầu tư (kiểm toán hoạt động) kết hợp vào cuộc kiểm toán báo cáo quyết toán

đầu tư dự án (kiểm tốn báo cáo tài chính) là chưa thực sự hợp lý. Thực tế cho

thấy việc đánh giá về tính kinh tế, tính hiệu quả và hiệu lực của dự án đối với

các dự án đầu tư thuộc NSĐP của KTNN trong những năm qua còn rất chung

chung, sơ sài và thường dựa trên các kết quả kiểm tốn chi phí đầu tư để đánh

giá, chưa phân tích được cụ thể các khía cạnh kinh tế và hiệu quả mang lại

của dự án (ví dụ: Biểu 3.6 Dự án xây dựng khu liên hợp phát triển Phụ nữ Hà

Nội theo kết quả kiểm tốn năm 2014).

+ Tính kinh tế: Chỉ đánh giá việc thực hiện dự án đã để xảy ra các sai

phạm trong việc áp dụng định mức, đơn giá, tính tốn sai khối lượng và thiết

kế khơng đảm bảo làm ảnh hưởng đến tính kinh tế của dự án; chưa phân tích

được mức độ tiết kiệm hoặc lãng phí trong từng nội dung và tồn dự án, chưa

so sánh được tính kinh tế dựa các phương án lựa chọn dự án, giữa các phương

94



án thiết kế hoặc lựa chọn thời điểm, giai đoạn thi công. Đối với dự án đầu tư

thuộc NSĐP chưa phân tích được tính kinh tế khi trong việc lựa chọn vật liệu

thay thế, lựa chọn bãi đổ thải và các biện pháp thi cơng; GPMB...

Biểu 3.6: Đánh giá tính kinh tế, hiệu quả và hiệu lực của dự án

IV. ĐÁNH GIÁ TÍNH KINH TẾ, HIỆU QUẢ VÀ HIỆU LỰC CỦA DỰ ÁN

1.Tính kinh tế.

Qua kiểm toán tại BQLDA đã thực hiện thanh toán giải ngân cho các dự án

đảm bảo theo quy định đúng tiến độ, kế hoạch vốn giao hàng năm. Việc quản lý sử

dụng vốn đầu tư đảm bảo theo các quy định của Nhà nước. Tuy nhiên qua kiểm tốn

vẫn còn phát hiện những chi phí khơng hợp lý 2.920,1trđ.

2.Tính hiệu quả.

Dự án xây dựng khu liên hợp phát triển phụ nữ Hà Nội tại phường Dịch Vọng

hoàn thành tạo ra điều cơ sở vật chất để tạo điều kiện làm việc tốt hơncho 03 cơ quan

Hội LHPN Hà Nội; Tòa soạn Báo Phụ Nữ Hà Nội; Trung tâm Hỗ trợ Phát triển Phụ

nữ Hà Nội, nâng cao hiệu quả công tác phát triển phụ nữ và hỗ trợ đời sống văn hóa

tinh thần của Phụ nữ Thủ Đơ. Tuy nhiên còn phần lớn diện tích xây dựng chưa được

sử dụng (Do chưa triển khai đề án chức năng nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Trung

tâm hỗ trợ Phát triển Phụ nữ Hà Nội).

3.Tính hiệu lực

BQLDA đã thực hiện, triển khai các dự án đầu tư theo quy định của Luật Xây

dựng, Luật đấu thầu và các văn bản pháp luật có liên quan.

- Tuy nhiên Tiến độ thực hiện dự án chưa đảm bảo thời gian theo dự án phê

duyệt và Hợp đồng đã kí kết phải điều chỉnh thời gian thực hiện dự án và điều khoản

trong hợp đồng.

- Khơng thực hiện quyết tốn phần chuẩn bị đầu tư trước khi triển khai dự án

theo Công văn số 1114/UBND-KH&ĐT ngày 10/9/2008 của UBND thành phố Hà

Nội.

....



(Nguồn: BCKT dự án xây dựng khu liên hợp phát triển phụ nữ Hà Nội)



+ Tính hiệu quả: Gần như nội dung này KTV chỉ mới căn cứ vào Báo

cáo tình hình thực hiện dự án của đơn vị được kiểm tốn để đánh giá mà chưa

phân tích được kết quả đầu ra so với chi phí đã đầu tư hoặc mức độ sử dụng

kinh phí đầu tư so với kết quả đầu ra cho trước; đánh giá hiệu quả xã hội của

dự án.

Thứ bảy là: Trong quy trình kiểm tốn đầu tư dự án của KTNN có nêu

về việc kiểm tra hiện trường nhưng chưa có quy trình và quy định cụ thể về

kiểm tra hiện trường. Kiểm tra hiện trường là một trong những khâu rất quan



95



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

d. Kiểm toán về thực hiện tiến độ thi công

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×