Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 3.6: Tình hình nộp phí của các DN trên địa bàn Hà Nội

Bảng 3.6: Tình hình nộp phí của các DN trên địa bàn Hà Nội

Tải bản đầy đủ - 0trang

Một mặt, nó thể hiện sự cải thiện trong chất lượng mơi trường của các DN, do sớ

phí phải nộp tính dựa trên tổng sớ ơ nhiễm và mức phí quy định cho mỗi chất ơ

nhiễm có trong chất thải. Sớ phí DN phải nộp giảm x́ng đồng nghĩa với lượng ô

nhiễm giảm đi. Xu hướng này cũng phần nào thể hiện hiệu quả của Nghị định số

67/2003/NĐ-CP trong việc cải thiện chất lượng mơi trường tại Việt Nam. Ví dụ: nhà

máy Bia Hà Nội sau khi lắp đặt hệ thống xử lý nước thải, nhà máy đã cắt giảm trên

90% tổng sớ phí nước thải phải nộp từ 363 triệu đồng x́ng còn 35 triệu đồng.

Tính đến hết năm 2009, Thành phố Hà Nội đã thu được khoảng hơn 02 tỷ

đồng. Riêng năm 2009 Chi cục BVMT Hà Nội đã nhận được hơn 100 tờ khai phí

BVMT đới với nước thải công nghiệp. Tổng số cơ sở được thẩm định là 82 cơ sở.

Sau khi thẩm định sớ phí thu được là 868.554.214 đồng. Theo số liệu của Sở

TN&MT Hà Nội sớ phí thu được của các DN là 518.248.555 đồng

Như vậy sớ phí thu được so với sớ thông báo đến các DN chỉ đạt khoảng 60%.

Theo Báo cáo 78/CCBVMT-TH ngày 19 tháng 01 năm 2010 của Chi cục BVMT Hà

Nội về việc thu phí BVMT đới với nước thải cơng nghiệp theo Nghị định

67/2003/NĐ-CP việc thu phí BVMT đới với nước thải cơng nghiệp còn chưa thực

sự đạt được hiệu quả.

3.1.2.2 Tại thành phố Hồ Chí Minh

Khác với Hà Nội, tổng sớ phí thu được và sớ phí trung bình tính trên một DN

tại Tp. Hồ Chí Minh có xu hướng tăng trong giai đoạn từ năm 2004 đến năm 2006.

Điều này một mặt thể hiện nỗ lực của các cấp quản lý môi trường tại Tp. Hồ Chí

Minh trong việc triển khai Nghị định 67/2003/NĐ-CP. Mặt khác, xu hướng này

cũng có thể hàm ý về tác động ngược của Nghị định 67/2003/NĐ-CP đối với hành

vi của các DN gây ơ nhiễm. Các DN có xu hướng trả phí thay cho việc xử lý ơ

nhiễm do hoạt động sản xuất tạo ra. Đây là một tín hiệu đáng lo ngại, thể hiện sự

thiếu hiểu biết của các DN về bản chất của phí mơi trường và làm giảm hiệu quả

của chính sách. Điều này cũng có thể cho thấy mức phí áp dụng hiện nay tương đới

thấp so với chi phí xử lý chất thải của DN.

Tính đến tháng 7 năm 2007 tổng sớ phí thu được tại Tp.Hồ Chí Minh là

13.427.097.780 đồng, gấp 11 lần so với tổng sớ phí thu được tại Hà Nội. Tổng sớ

DN đã nộp phí 3.574 DN chiếm gần 12% tổng sớ DN trên địa bàn.

Bảng 3.7: Tình hình nộp phí của các DN tại Tp. Hồ Chí Minh năm 2006

STT



Năm 2004

61



Năm 2005



Năm 2006



1



Tổng sớ DN nộp 129



1851



1594



2



phí

Tổng sớ phí thu 294.929.541



4.716.455.486



6.054.465.653



3



được (đồng)

Sớ phí trung bình 2.286.276



2.548.058



3.798.285



tính/ DN (đồng)



Nguồn: MPI (2007)

Sớ DN đã trả phí tại Tp. Hồ Chí Minh cao hơn gần 30 lần so với Hà Nội. Mức

phí tính trung bình cho 1 DN vào khoảng 3.096.208 đồng (lớn hơn 40% mức phí

phải trả của các DN tại Hà Nội). Năm 2011 đã thu được 9.384.730.052 VND và



tính tổng từ năm 2004 đến hết năm 2011 đã thu được tổng cộng 54.170.0770.481

VND [97].



Hình 3.2: Tình hình thu phí nước thải cơng nghiệp trên địa bàn Tp.Hồ Chí

Minh (Từ 12/2004 – 06/2006)



62



Hình 3.3: Kết quả thu phí BVMT đối với nước thải công nghiệp trên địa bàn

TP.HCM từ tháng 1/2010 đến tháng 9/2010

Nguồn: Báo cáo Bộ TNMT (2011)



63



Hình 3.4: Kết quả thu phí BVMT đối với nước thải cơng nghiệp trên địa bàn

TP.HCM từ năm 2004 đến năm 2010

Nguồn: Báo cáo Bộ TNMT (2011)

3.1.2.3 Một số tỉnh, thành phố khác

Tỉnh Đồng Nai: các đới tượng phải nộp phí BVMT đới với nước thải công

nghiệp đạt tỉ lệ rất thấp. Mức thu phí BVMT đới với nước thải cơng nghiệp được

tính trên tổng lượng nước thải với hàm lượng chất gây ô nhiễm. Từ năm 2004 đến

nay, Sở TN&MT đã nhiều lần thông báo và hướng dẫn các DN kê khai nộp phí

nước thải cơng nghiệp nhưng kết quả thu phí BVMT đối với nước thải công nghiệp

vẫn đạt rất thấp như: năm 2004, phí nước thải cơng nghiệp thu được 182.7 triệu

đồng; năm 2005 thu được 3.400,2 triệu đồng. Qua kết quả giám sát của thường trực

Hội đồng nhân dân tỉnh vào thời điểm tháng 05 năm 2006 cho thấy: năm 2004 chỉ

có 85 DN nộp phí nước thải cơng nghiệp; năm 2005 có 1.420 DN được thơng báo

nhưng chỉ có 299 DN nộp phí và sớ phí nộp chỉ đạt 62.2% sớ phí kê khai, đến tháng

5 năm 2006 mới có 137 DN nộp phí nước thải cơng nghiệp. Từ năm 2006 đến năm

64



2010 phí nước thải cơng nghiệp thu được là 26.74 tỷ đồng. Nguồn ô nhiễm môi

trường cao nhất là từ lượng nước thải công nghiệp, nhất là trong tình hình hiện nay

nguồn nước thải cơng nghiệp đều chứa hàm lượng chất gây ô nhiễm vượt quá cao

so với tiêu chuẩn cho phép. Một số DN kê khai chiếu lệ gây khó khăn cho quá trình

thẩm định hoặc còn né tránh, trì hỗn. Hơn nữa, hiện nay trên địa bàn tỉnh mới chỉ

có 04 đơn vị là huyện Long Thành, huyện Nhơn Trạch, Long Khánh và Biên Hòa

đang triển khai việc kê khai nộp phí và thu mẫu thẩm định tờ khai, còn lại các

huyện chưa triển khai và chưa trình duyệt phương án thu phí bảo vệ môi trường đối

với nước thải công nghiệp [130].

Sở TN& MT Hà Nam đã mở số tài khoản 020.01.00.00035 tại Kho bạc Nhà

nước tỉnh để thu phí từ đới tượng nộp phí BVMT đới với nước thải cơng nghiệp,

đồng thời thống kê, đôn đốc, hướng dẫn các đơn vị sản xuất công nghiệp lập tờ khai

để thẩm định và ra thơng báo mức phí phải nộp cho các đơn vị, DN theo quy định.

Năm 2005, Sở tiến hành tổ chức lấy mẫu phân tích nước thải lần đầu tại 48 cơ sở để

xác định các thông số ô nhiễm chịu phí nước thải cơng nghiệp, đồng thời lấy tờ khai

để phục vụ thu phí BVMT đới với nước thải cơng nghiệp. Từ năm 2006 đến nay,

định kỳ hàng quý, Sở TN&MT tiếp tục yêu cầu đôn đốc các đơn vị sản xuất trên địa

bàn tỉnh kê khai nộp phí BVMT đối với nước thải công nghiệp theo quy định; tổ

chức thực hiện lấy mẫu xác định lại mức phí đới với những đơn vị có thay đổi về

sản xuất cũng như thay đổi về hệ thống xử lý nước thải. Hàng năm bổ sung việc kê

khai, lấy mẫu của các đơn vị mới đi vào hoạt động, đến nay đã thơng báo thu phí

trên 100 cơ sở. Sớ liệu thớng kê của Chi cục Bảo vệ môi trường cho thấy, qua 6 năm

(2004 – 2010) thực hiện kê khai, thông báo thu phí BVMT đới với nước thải cơng

nghiệp, thời gian đầu, các đơn vị sản xuất chấp hành rất tốt chủ trương này. Đơn cử

như quý 4 năm 2005, sớ phí thơng báo các cơ sở phải nộp là hơn 26 triệu đồng, thực

tế thu được hơn 25 triệu đồng, đạt 95%; năm 2006 thu phí đạt gần 96% kế hoạch đặt

ra. Tuy nhiên, những năm về sau thực hiện thu loại phí này gặp rất khó khăn, tỷ lệ

cơ sở sản xuất, kinh doanh chấp hành nộp phí cũng giảm dần, cụ thể năm 2007 chỉ

thu được 86%, năm 2008 thu được 78,6%, năm 2009 thu được 34,3%. Thấp nhất là

năm 2010, Chi cục Bảo vệ môi trường thống kê được 99 cơ sở sản xuất, kinh doanh

phải nộp loại phí này, kế hoạch đề ra thu 1.327 triệu đồng nhưng chỉ thu được 154,7

triệu đồng, đạt 11,6% [130].



65



Tỉnh Bến Tre: năm 2006 sớ phí thu được là 67,2 triệu đồng; năm 2007 sớ

phí thu được là 86,7 triệu đồng, tổng sớ phí thu được nộp vào tài khoản phí BVMT

cho đến nay là 169, 6 triệu đồng. Tính đến năm 2008, đã có 13 DN đã thực hiện kê

khai nộp phí. Tuy nhiên, một sớ cơ sở khi kê khai nộp phí nước thải còn mang tính

đới phó, kê khai chưa chính xác như: cớ tình kê khai lưu lượng và các thơng sớ ơ

nhiễm có trong nước thải thấp, kê khai thiếu, gây khó khăn cho quá trình thẩm định

hoặc còn né tránh, trì hỗn. Ngồi ra, chưa thống kê được các cơ sở nuôi tôm, cá

thâm canh để tiến hành thu phí; cấp huyện, thị xã trong tỉnh chưa triển khai được

cơng tác thu phí BVMT đới với nước thải cơng nghiệp. Một sớ khó khăn trong cơng

tác triển khai thu phí BVMT đới với nước thải công nghiệp: do nhân lực Sở chưa đủ

để thường xuyên kiểm tra việc kê khai nộp phí của các DN và hỗ trợ cho cấp huyện,

thị xã trong cơng tác thu phí, lực lượng cơng tác quản lý mơi trường cấp huyện, thị

xã còn rất mỏng, yếu kinh nghiệm, đa số là các cán bộ trẻ. Công tác thẩm định sớ

phí phải nộp của cơ sở chưa tớt do thiếu trang thiết bị phòng thí nghiệm đo nồng độ

các thơng sớ ơ nhiễm, chưa có cách tính được lượng nước thải của các cơ sở thải ra

nên đòi hỏi ý thức của chủ cơ sở tự kê khai là chính.

3.2. Đánh giá thực trạng vai trò của các công cụ kinh tế ở nước ta

3.2.1. Các thành tựu đã đạt được

Nhấn mạnh vai trò của cơng tác bảo vệ môi trường trong giai đoạn hiện nay, Hội

nghị Trung ương 7 khóa XI xác định: Đến năm 2020, Việt Nam…; có bước chuyển

biến cơ bản trong khai thác, sử dụng tài nguyên theo hướng hợp lý, hiệu quả và bền

vững; kiềm chế mức độ gia tăng ô nhiễm môi trường và suy giảm đa dạng sinh học

nhằm bảo đảm chất lượng mơi trường sớng, duy trì cân bằng sinh thái, hướng tới nền

kinh tế xanh, thân thiện môi trường Qua gần 10 năm thực hiện áp dụng các công cụ

kinh tế trong quản lý môi trường tại nước ta, theo đánh giá chủ quan của Bộ Tài

Nguyên môi trường những hiệu quả đạt được nhất định cụ thể như sau:

Có được nguồn tài chính để đầu tư cải thiện, giảm thiểu ô nhiễm môi trường

tại thành phố.

Các đối tượng nộp phí đã quan tâm nhiều hơn trong việc hạn chế xả các chất ô

nhiễm ra môi trường và sử dụng nước tiết kiệm. Một sớ đới tượng nộp phí đã quan

tâm đến việc đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải để làm giảm thiểu các chất ô

nhiễm trước khi thải ra môi trường bên ngoài. Một sớ đới tượng nộp phí đã chủ

động hơn trong việc kê khai, nộp phí đới với nước thải.

66



Nhận thức về bảo vệ mơi trường của các cấp ủy đảng, chính quyền, đồn thể

đã có chuyển biến tích cực; bước đầu hình thành ý thức bảo vệ mơi trường trong các

tầng lớp nhân dân cũng như doanh nghiệp khi các công cụ kinh tế được triển khai.

Hệ thớng chính sách, pháp luật và tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về bảo vệ

mơi trường đã được hình thành tương đới đồng bộ và đang từng bước được hoàn

thiện.

Các chủ trương, quan điểm của Đảng về bảo vệ môi trường cơ bản đã được thể

chế hóa thành chính sách, pháp luật của Nhà nước. Năm 1991, Thủ tướng Chính

phủ đã phê duyệt Kế hoạch quốc gia về môi trường và phát triển bền vững giai đoạn

1991 - 2000. Tiếp theo, Chiến lược phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011 2020, Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh, Chiến lược quốc gia về bảo vệ môi

trường đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030,… đã đề ra các định hướng về bảo vệ

môi trường. Luật Bảo vệ môi trường, Luật Đa dạng sinh học, Luật Bảo vệ và Phát

triển rừng, Luật Thủy sản và các văn bản luật có liên quan, các văn bản dưới luật đã

quy định khá đầy đủ, chi tiết, cụ thể những nội dung phòng ngừa, kiểm soát ô

nhiễm, phục hồi môi trường và cải thiện chất lượng cuộc sống của nhân dân, về bảo

tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học. Bên cạnh đó, các cơ chế, công cụ, chế tài bảo

vệ môi trường cũng được quy định trong Bộ luật Hình sự, Bộ luật Dân sự, Luật Đầu

tư, Luật Thuế bảo vệ môi trường. Hầu hết các luật này đã được bổ sung, sửa đổi, có

đạo luật được sửa đổi một sớ lần trong thời gian giữa các nhiệm kỳ Đại hội IX, X và

XI nên kịp thời thể chế hóa, góp phần sớm đưa các chủ trương, quan điểm bảo vệ

môi trường của Đảng vào cuộc sống.

Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường đã được thiết lập đồng

bộ cả ở Trung ương, địa phương và từng bước được kiện tồn. Năm 2002, Bộ Tài

ngun và Mơi trường được thành lập. Năm 2008, Tổng cục Môi trường được thành

lập, thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường. Ở các bộ, ngành đã có các đơn vị trực

thuộc chuyên trách cơng tác bảo vệ mơi trường. Lực lượng phòng chớng tội phạm

mơi trường đã được thành lập, góp phần ngăn ngừa, hạn chế hành vi gây ô nhiễm

môi trường.

Tại các địa phương, đã có Sở Tài ngun và Mơi trường ở cấp tỉnh, thành phớ

trực thuộc Trung ương, Phòng Tài nguyên và Môi trường ở các quận, huyện, thị xã,

thành phớ trực thuộc tỉnh và có cán bộ kiêm nhiệm quản lý môi trường ở xã,

phường, thị trấn. Sở Tài nguyên và Môi trường các địa phương đã sáng tạo kết hợp

67



cơng tác thu phí với cơng tác quản lý tài nguyên khoáng sản để yêu cầu các cơ sở

cơng nghiệp phải kê khai nộp phí; Việc thu phí BVMT đới với nước thải sinh hoạt

theo hóa đơn tiền nước là phù hợp, các đới tượng nộp phí đã thực hiện nghiêm

chỉnh. Đối với nước thải công nghiệp: Việc thực hiện cơng tác thu phí mơi trường

đã dần đi vào nề nếp.

Nguồn lực tài chính và các điều kiện cần thiết cho bảo vệ môi trường được bảo

đảm ngày càng tốt hơn. Nguồn chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp môi trường

được cân đối đạt mức 1% tổng chi ngân sách hằng năm, tăng nhiều lần so với trước

đây. Năm 2006 là 2.900 tỷ đồng, thì năm 2012 đã lên tới 9.050 tỷ đồng.

Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA được huy động cho bảo vệ mơi

trường cũng tăng nhanh. Một sớ thể chế tài chính về bảo vệ mơi trường được hình

thành, đi vào hoạt động, như Quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam, quỹ bảo vệ môi

trường của một số ngành, địa phương đã góp phần tăng cường các nguồn vớn hỗ trợ

thực hiện công tác bảo vệ môi trường. Một số công cụ kinh tế, như thuế, phí bảo vệ

mơi trường đã góp phần tạo nguồn thu từ xã hội để đầu tư cho bảo vệ môi trường.

Việc xã hội hoá hoạt động bảo vệ môi trường bước đầu đã đem lại kết quả

đáng ghi nhận. Ngày càng có nhiều doanh nghiệp tư nhân tham gia cung ứng dịch

vụ vệ sinh môi trường, như cấp thoát nước, xử lý nước thải, khí thải, thu gom và xử

lý chất thải rắn, chất thải nguy hại, hoạt động tư vấn, thiết kế... Nước ta đã tích cực

hội nhập, hợp tác q́c tế, tham gia 20 điều ước q́c tế về mơi trường; đã có gần 40

chương trình, dự án lớn về bảo vệ mơi trường được thực hiện với các đối tác trên cơ

sở song phương và đa phương. Việt Nam cũng tham gia tích cực vào các diễn đàn

thế giới và khu vực về bảo vệ môi trường, đặc biệt là các hoạt động hợp tác quốc tế

về bảo vệ môi trường trong khu vực châu Á, ASEAN, các nước tiểu vùng sông Mê

Công mở rộng.

Cơng tác phòng ngừa và kiểm soát ơ nhiễm đã góp phần kiềm chế, làm chậm

lại tớc độ gia tăng ô nhiễm môi trường, bảo đảm chất lượng môi trường sớng, bảo

vệ chức năng, tính hữu ích của các thành phần môi trường.

Thời gian qua, kinh tế nước ta phát triển nhanh, đơ thị hóa, cơng nghiệp hóa

diễn ra mạnh mẽ, gây áp lực lớn lên môi trường. Thông thường trong giai đoạn đầu

của cơng nghiệp hóa, ơ nhiễm mơi trường có thể gia tăng ở mức gấp nhiều lần so

với mức tăng GDP(1). Tuy nhiên, những nỗ lực bảo vệ mơi trường đã góp phần



68



kiềm chế, làm chậm lại tốc độ gia tăng ô nhiễm, suy giảm chất lượng môi trường

sống ở nước ta.

Báo cáo môi trường hằng năm được xây dựng và công bố rộng rãi. Các hệ

thống thông tin, dữ liệu về môi trường đã được hình thành, bước đầu đáp ứng yêu

cầu quản lý, bảo vệ mơi trường.

3.2.2. Các mặt còn hạn chế



3.2.2.1 Khó khăn - tồn tại chung:

Còn nhiều Doanh nghiệp chưa nhận thức được đầy đủ về vai trò của phí

BVMT và trách nhiệm của mình tỏng việc thực hiện đóng phí theo Nghị định

67/2003/NĐ-CP do đó nhiều doanh nghiệp chưa tự kê khai, hoặc kê khai khơng

đúng với thực tế xả thải.

Ngồi ra, về phía cơ quan chức năng hiện còn nhiều thiếu sót. Đáng kể

nhất là các cơng cụ phục vụ hỗ trợ cơng tác thu phí vẫn chưa đầy đủ. Phần mềm

về quản lý thu phí chưa được xây dựng. Chi cục Bảo vệ môi trường, Sở

TN&MT các tỉnh cũng chưa được trang bị, xây dựng được hệ thống thông tin,

quản lý, theo dõi quá trình thực hiện việc kê khai, nộp phí của DN.

Việc xác định lưu lượng và nồng độ chất ơ nhiễm của từng doanh nghiệp rất

khó khăn. Chưa có các quy định xử lý cụ thể đới với các doanh nghiệp đã di dời,

giải thể còn nợ phí. Việc xử lý những doanh nghiệp cớ tình khơng thực hiện việc kê

khai nộp phí gặp nhiều khó khăn, lúng túng. Cho đến nay các trường hợp vi phạm

về kê khai, nộp phí vẫn chỉ dừng lại ở mức nhắc nhỡ, thông tin trên phương tiện

thông tin đại chúng, chưa có trường hợp bị xử lý vi phạm hành chính.

Mức phí bảo vệ mơi trường đới với nước thải cơng nghiệp còn quá thấp, khơng

tạo sự cơng bằng trong đóng góp tài chính cho cơng tác bảo vệ mơi trường nên chưa

khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư nhiều vào việc xử lý nước thải nhằm hạn chế

ô nhiễm môi trường nước.

Đối với công tác khai thác khoáng sản đã và đang triển khai, nhưng toàn bộ các

giấy phép khai thác khoáng sản đều nằm trên biển, việc lập Dự án cải tạo, phục hồi môi

trường và xác định kinh phí cho cơng tác cải tạo phục hồi mơi trường đang khó khăn.

Trong khi đó khai thác cát trên sơng và biển là quá trình tự phục hồi sau khai thác.

Ngồi ra, phí vệ sinh đang áp dụng theo Quyết định 88/2008/QĐ-UBND đã

lạc hậu và khơng còn phù hợp so với thực tế do tiền lương căn bản và giá nhiên liệu

tăng nhiều so với thời điểm xây dựng mức phí năm 2007 – 2008. Chi phí hiện nay

69



trả lại cho công tác thu gom tại nguồn theo Quyết định 88/2008/QĐ-UBND đã

không đảm bảo được cuộc sống của người thu gom.

Phí vệ sinh do lực lượng rác dân lập thực hiên cho công tác thu gom tại nguồn

đối với hộ dân đã tăng so với Quyết định 88/2008/QĐ-UBND, dao động từ 25.000

đến 40.000 đồng/hộ tùy theo khu vực.

Đối với công tác vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh hoạt, Tp.HCM đang

chi trả cho công tác này bình qn 626.000 đồng/tấn (chưa bao gồm chi phí cho

cơng tác thu gom tại nguồn) và chi phí này gia tăng hàng năm do tăng giá nhiên liệu

và tiền lương căn bản.

Ngoài ra,căn cứ theo thực tế hiện nay tại thành phớ Hồ Chí Minh, chi phí xử lý

chất thải rắn bằng phương pháp chôn lấp hợp vệ sinh do Công ty TNHH MTV Môi

trường Đô thị thực hiện năm 2010 theo Hợp đồng đặt hàng cung ứng dịch vụ xử lý

chất thải (dịch vụ công) là 137.000 đồng/tấn (chưa bao gồn các chi phí liên quan

khác như xử lý rác, phu diệt ruồi khu vực bãi chôn lấp,…). Như vậy, so với mức phí

quy định tại Nghị định 174/200/NĐ-CP (khơng quá 40.000 đồng/tấn) thì phí bảo vệ

mơi trường chỉ bù đắp được một phần rất nhỏ chi phí xử lý chất thải rắn cho thành

phớ Hồ Chí Minh

3.2.2.2 Những vấn đề liên quan đến các công cụ kinh tế cụ thể:



i) Đối với công cụ kinh tế Thuế BVMT

Luật Thuế BVMT có hiệu lực từ ngày 01/01/2012. Thực tế thực hiện chưa

nhiều, tuy nhiên trong quá trình thực hiện có một sớ vấn đề hạn chế sau:

- Thứ nhất, vấn đề nổi cộm nhất hiện nay là đối tượng chịu thuế. Theo quy

định của Luật Thuế BVMT, túi nilon là 1 trong 8 nhóm hàng hóa thuộc đới tượng

chịu thuế với mức thu từ 30 – 50 nghìn đồng/kg. Sau một thời gian thực hiện, Luật

đã bộc lộ nhiều bất cập, gây lúng túng cho cả cơ quan thuế và người nộp thuế.

Về nguyên tắc, việc ban hành và thực thi Luật Thuế bảo vệ môi trường là

cần thiết nhưng các quy định trong Nghị định 67/2011/NĐ - CP ngày 8/8/2011 của

Chính phủ và Thơng tư 152/2011/TT-BTC ngày 11/11/2011 của Bộ Tài chính, đã gây

nhiều khó khăn, ảnh hưởng bất lợi đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của các DN.

Cụ thể: theo một số doanh nghiệp cho biết các quy định trong các văn bản

dưới luật đối với các sản phẩm túi nilon quá chung chung nên doanh nghiệp khơng

nắm rõ dòng sản phẩm nào của đơn vị phải chịu thuế, dòng nào khơng trong khi

70



mức áp thuế đối với tất cả các sản phẩm của DN phải chịu thuế suất 40.000 đồng/kg

thành phẩm.

Thực tế, việc bị áp thuế lên tất cả các bao bì nhựa khiến nhiều DN khó

khăn trong sản xuất, kinh doanh, nhiều khách hàng sử dụng sản phẩm túi nilon đã

lựa chọn sản phẩm khác hoặc tìm nguồn khác từ nhập khẩu và thậm chí cắt đơn

hàng với DN sản xuất. Ba hiệp hội: Chế biến và xuất khẩu Thủy sản Việt Nam

(VASEP), Dệt may Việt Nam (VITAS) và Da giày Việt Nam (LEFASO) đã khẩn

cấp gửi công văn tới các cơ quan chức năng kiến nghị, xem xét lại việc áp dụng quy

định thu thuế BVMT đới với bao bì nilon.

- Thứ hai, theo hướng dẫn tại Điểm 3 Công văn số 1199/BTC-TCT ngày

30-1-2012 của Bộ Tài chính thì các trường hợp hàng hóa nhập khẩu để gia cơng sau

đó xuất khẩu ra nước ngồi thì thuộc đới tượng khơng phải nộp thuế BVMT như

quy định tại điểm 2.4 Thông tư 152/2011/TT-BTC. Tuy nhiên, tại điểm 2.4, Điều 2,

Thông tư 152/2011/TT-BTC về đối tượng khơng chịu thuế BVMT lại quy định:

Hàng hóa xuất khẩu ra nước ngoài do cơ sở sản xuất (bao gồm cả gia công) trực tiếp

xuất khẩu…” chỉ quy định đới với hàng hóa xuất khẩu chứ khơng phải hàng nhập

khẩu. Bên cạnh đó, hàng nhập khẩu, sản xuất xuất khẩu tính chất tương tự hàng gia

cơng xuất khẩu nhưng hiện nay mới chỉ có hướng dẫn thuế BVMT đới với loại hình

hàng gia cơng. Do vậy, thuế BVMT đánh vào hàng hóa gây tác động xấu đến mơi

trường nên đối với hàng nhập khẩu để gia công, sản xuất xuất khẩu nếu không gây

tác động xấu đến môi trường thì khơng chịu thuế BVMT. Trường hợp hàng hóa

nhập khẩu là ngun liệu, vật tư trong quá trình chuyển hóa vào sản phẩm gây tác

động xấu đến mơi trường thì phải chịu thuế BVMT.

- Thứ ba, đối với mặt hàng dầu nhờn, theo quy định tại các văn bản về thuế

BVMT, mặt hàng dầu nhờn, mỡ nhờn thuộc đối tượng chịu thuế BVMT, không quy

định chi tiết theo mã số danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu. Tuy nhiên, biểu

thuế nhập khẩu ưu đãi ban hành kèm theo Thông tư 157/2011/TT-BTC ngày 14-112011 của Bộ Tài chính khơng có định danh tên hàng dầu nhờn, mỡ nhờn chỉ có định

danh tên hàng là dầu và mỡ bôi trơn nên trong thực tế rất khó xác định mặt hàng

chịu thuế BVMT.

- Thứ tư, đối với thuốc diệt cỏ theo Thông tư 152/2011/TT-BTC ngày 1111-2011 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Luật Thuế BVMT quy định “thuốc

diệt cỏ loại hạn chế sử dụng thuộc đối tượng chịu thuế BVMT”. Đồng thời Bộ cũng

71



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 3.6: Tình hình nộp phí của các DN trên địa bàn Hà Nội

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×