Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 3.4: Tổng nguồn thu từ phí nước thải được chuyển về Quỹ BVMT

Bảng 3.4: Tổng nguồn thu từ phí nước thải được chuyển về Quỹ BVMT

Tải bản đầy đủ - 0trang

16/10/2008



25.842.365.973



23/12/2008



14.442.976.728



Nguồn: Bộ tài ngun và mơi trường (2008)

Phí bảo vệ mơi trường đối với chất thải rắn

Phí BVMT đới với CTR được triển khai thực hiện bắt đầu từ năm 2007 và

được quy định cụ thể trong các văn bản sau:

- Nghị định sớ 174/2007/NĐ-CP của Chính phủ ngày 29 tháng 11 năm

2007 về phí bảo vệ mơi trường đới với chất thải rắn;

- Thông tư số 39/2008/TT-BTC ngày 9 tháng 5 năm 2008 của Bộ Tài

chính về hướng dẫn thực hiện Nghị định sớ 174/2007/NĐ-CP.

Theo đó, đới tượng chịu phí BVMT là chất thải rắn thơng thường và chất thải rắn

nguy hại được thải ra từ quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ hoặc các hoạt động

khác (trừ chất thải rắn thông thường phát thải trong sinh hoạt của cá nhân, hộ gia đình).

Mức phí BVMT đới với chất thải rắn thông thường phát thải từ hoạt động của cơ quan,

cơ sở kinh doanh, dịch vụ, cơ sở sản xuất công nghiệp, làng nghề dưới 40.000 đồng/

tấn; đối với chất thải rắn nguy hại dưới 6.000.0000 đồng/tấn.

Phí BVMT đối với chất thải rắn là khoản thu thuộc ngân sách Nhà

nước, được quản lý, sử dụng như sau:

- Để lại một phần sớ phí thu được cho cơ quan, đơn vị trực tiếp thu phí để

trang trải chi phí cho việc thu phí;

- Phần còn lại là khoản thu ngân sách địa phương hưởng 100% để chi

dùng cho các nội dung sau đây: chi phí cho việc xử lý chất thải rắn đảm bảo tiêu

chuẩn môi trường, hỗ trợ cho việc phân loại chất thải rắn, đầu tư xây dựng các

bãi chơn lấp, cơng trình xử lý chất thải rắn, sử dụng công nghệ tái chế, tái sử

dụng, xử lý và tiêu hủy chất thải rắn.

Căn cứ vào các quy định của pháp luật và điều kiện thực tế về xử lý, tiêu

hủy CTR ở địa phương, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương

sẽ xây dựng mức thu phí áp dụng đới với từng loại CTR ở từng địa bàn, từng

loại đới tượng nộp phí tại địa phương và xác định việc quản lý, sử dụng tiền phí

cho phù hợp để trình Hội đồng nhân dân tỉnh quyết định. Sớ phí thu được một

phần để lại cho cơ quan, đơn vị trực tiếp thu phí để trang trải chi phí cho việc

thu phí; phần còn lại do ngân sách địa phương hưởng 100% để chi phí cho việc

xử lý CTR đảm bảo tiêu chuẩn mơi trường như: đớt, khử khuẩn, trung hóa, chơn

47



lấp hợp vệ sinh...; chi hỗ trợ cho việc phân loại CTR, bao gồm cả hoạt động

tuyên truyền, phổ biến nâng cao nhận thức của nhân dân trong việc phân loại

CTR ngay tại nguồn; chi hỗ trợ đầu tư xây dựng các bãi chơn lấp, cơng trình xử

lý CTR, sử dụng cơng nghệ tái chế, tái sử dụng, xử lý và tiêu hủy CTR.

Phí bảo vệ mơi trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản

Hoạt động khai thác khoáng sản là hoạt động vừa tác động trực tiếp đến

nguồn tài nguyên khoáng sản vì làm suy giảm trữ lượng tài nguyên vừa ảnh hưởng

trực tiếp nặng nề đến đất, nước, môi sinh, môi trường tại khu vực diễn ra hoạt động

khai thác khoáng sản. Đây chính là hoạt động làm phát sinh các tác động xấu đới

với mơi trường. Chính vì vậy, chủ thể tiến hành khai thác khoáng sản trở thành đới

tượng nộp phí BVMT theo Điều 113 Luật Bảo vệ môi trường năm 2005: “Tổ chức

cá nhân xả thải ra mơi trường hoặc có hoạt động làm phát sinh nguồn tác động

xấu đối với mơi trường phải nộp phí BVMT”. Nhằm thể chế hóa quy định trên,

Chính phủ ban hành Nghị định sớ 74/2011/NĐ-CP ngày 25/8/2011 về phí BVMT

đới với khai thác khoáng sản và Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 158/2011/TTBTC ngày 16/11/2011 hướng dẫn thực hiện Nghị định sớ 74/2011/NĐ-CP của

Chính phủ.

3.1.1.2. Giấy phép xả thải

Giấy phép xả thải có thể chuyển nhượng được áp dụng ở Việt Nam chủyếu

đới với mơi trường khơng khí và được thể hiện trong văn bản sau:

Quyết định số 130/2007/QĐ-TTg ngày 02 tháng 8 năm 2007 của Thủ

tướng Chính phủ về một sớ cơ chế, chính sách tài chính đới với dự án đầu tư theo

cơ chế phát triển sạch.

Thực tế cho thấy, để được hưởng những ưu đãi, nhà đầu tư dự án CDM gặp rất

nhiều khó khăn. Những khó khăn này xuất phát từ quy định của pháp luật. Ví dụ như

Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp khơng quy định việc hưởng ưu đãi thuế thu nhập

doanh nghiệp cho các dự án CDM và do vậy, nhà đầu tư không được hưởng

những ưu đãi theo quy định của Quyết định số 130/2007/QĐ-TTg.

Thủ tục được hưởng những ưu đãi rất phức tạp. Đối với các nhà đầu tư công

nghệ vào Việt Nam để thực hiện các dự án cơ chế phát triển sạch (CDM) thì cơ chế tự

động áp dụng cho việc hưởng ưu đãi khơng có, hướng dẫn cụ thể về việc hưởng ưu đãi

cũng chưa có. Tất cả những khó khăn nêu trên đã dẫn đến việc các dự án CDM ở

Việt Nam kém hấp dẫn và cạnh tranh hơn so với các q́c gia khác.

48



Ngồi ra một khó khăn mà Việt Nam cũng gặp phải khi tiếp cận các dự án

CDM là thiếu chỉ tiêu phát thải nền khí nhà kính (CO2 - một trong các loại khí do

hoạt động của con người phát thải vào khí quyển, gây biến đổi bất thường của khí

hậu thời gian gần đây), cơ sở để các doanh nghiệp so sánh khi xây dựng dự án

giảm phát thải nhằm nhận được hỗ trợ tài chính từ các nước phát triển.

Việc tính toán phát thải nền để xác định mức giảm phát thải CO2 và các khí

nhà kính khác khi xây dựng các dự án CDM cho nhiều lĩnh vực rất khó khăn, và

khó thuyết phục các cơ quan trọng tài q́c tế.

Chỉ trên cơ sở tính toán mức phát thải nền có cơ sở khoa học và được cơng

nhận, các doanh nghiệp mới tính toán được mức giảm phát thải khí nhà kính mà họ

phấn đấu so với mức nền.

Hiện nay việc mua bán, trao đổi CERs tại Việt Nam đã bắt đầu được

quan tâm nhưng vẫn chậm phát triển do những bất cập của việc thực hiện CDM như

rào cản về thủ tục hành chính, khó tiếp cận các ưu đãi, và thiếu chỉ tiêu phát thải

nền,v.v.. cũng như thiếu kinh nghiệm, linh hoạt trong thị trường CERs.

Lần đầu tiên tại Việt Nam, 350.000 chứng nhận giảm phát thải (CERs)

của dự án thu hồi và sử dụng khí đồng hành mỏ Rạng Đông, tỉnh Bà Rịa-Vũng

Tàu đã được mang ra đấu giá tại Hà Nội trong tháng 5/2010, giá 1 CERs

Rạng Đông đạt 13,5 euro đã bán cho Tập đồn Dầu khí Năng lượng Mercuria.

Tính đến ngày 31/10/2012, Việt Nam có 160 dự án được EB cơng nhận là

dự án CDM với tổng lượng khí nhà kính được giảm khoảng 76 triệu tấn CO2 trong

thời kỳ tín dụng và 4 chương trình hoạt động (PoA) được EB cơng nhận.

Việt Nam là nước đứng thứ tư trên thế giới về số dự án áp dụng CDM được

EB công nhận đăng kí sau Trung Q́c, Ấn Độ và Bra-xin, chiếm 3,18% trong tổng

sớ 4920 dự án trên tồn thế giới.Với 7203167 CERs được EB cấp, Việt Nam đứng

thứ 9 trên thế giới về số lượng CERs đã được EB cấp và xếp thứ 2 về số lượng

PoA.

Bảng 3.5. Danh sách các PoA ở Việt Nam được EB cơng nhận



49



Hình 3.1. Số dự án được đăng kí tính theo nước chủ nhà (4920 dự án)

(tính đến 31/10/2012)

Nguồn: http:\\ cdm.unfcccint



Tính đến hết tháng 10/2012, trong tổng số 160 dự án CDM được EB công

nhận, các dự án về năng lượng chiếm tỷ trọng cao nhất với 85.89%, tiếp đến là các

dự án xử lý và loại bỏ rác thải 11.87%, sau cùng chỉ có 01 dự án thuộc lĩnh vực

cơng nghiệp chế tạo, phát thải từ nhiên liệu rắn, dầu và khí, trồng rừng và tái trồng

rừng và nông nghiệp.

Thị trường CDM trên thế giới đang hoạt động khá mạnh mẽ nhưng đối với

Việt Nam hình thức mua bán CERs này còn mới nên giá thành các CERs còn khá

rẻ và tính rủi ro cũng rất cao. Một thực tế mà doanh nghiệp Việt Nam cần tính đến

là, khi các q́c gia phát triển đã thu đủ hạn ngạch (quota) khí thải, họ sẽ khơng

mặn mà mua thêm. Lúc đó, giá giao dịch CERs trên thị trường thứ cấp (thị trường

giao dịch của các nước phát triển) sẽ thấp, dẫn tới giá bán CERs tại thị trường sơ

cấp như Việt Nam cũng giảm theo.

3.1.1.3. Ký quỹ môi trường

Theo Điều 360 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “Ký quỹ được hiểu là

việc bên có nghĩa vụ gửi một khoản tiền hoặc kim khí q, đá q hoặc giấy tờ có

giá khác vào tài khoản phong toả tại một Ngân hàng để bảo đảm thực hiện nghĩa

vụ dân sự”.

50



Trong lĩnh vực môi trường, ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường trong hoạt

động khai thác tài nguyên là một trong những CCKT hữu hiệu để quản lý và

BVMT. Ký quỹ để phục hồi môi trường được quy định lần đầu tiên trong Luật

Khoáng sản, Điều 114 Luật BVMT năm 2005, Khoản 2 Điều 2 Quyết định

18/2013/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 29/3/ 2013 về cải tạo, phục hồi

môi trường và ký quỹ phục hồi môi trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản.

Theo đó, “ký quỹ cải tạo, phục hồi mơi trường trong hoạt động khai thác hoáng sản

là việc tổ chức, cá nhân được phép khai thác khoáng sản nộp một khoản tiền vào

Quỹ BVMT Việt Nam hoặc Quỹ BVMT của địa phương để đảm bảo công tác cải

tạo, phục hồi môi trường” [92, Điều 2].

Việc quy định ký quỹ để đảm bảo việc BVMT đối với các đối tượng có hoạt

động khai thác tài ngun thiên nhiên mang tính chất bắt buộc. Tất cả các đới tượng

có hoạt động khai thác tài nguyên thiên nhiên đều có nghĩa vụ ký quỹ để đảm bảo

nghĩa vụ BVMT. Vì vậy, khoản 1 Điều 114 Luật BVMT năm 2005 quy định: “Tổ

chức, cá nhân khai thác tài nguyên thiên nhiên phải thực hiện ký quỹ cải tạo, phục

hồi môi trường”.

Tổng số tiền ký quỹ tùy thuộc vào phương án cải tạo, phục hồi môi trường

được lựa chọn, tổng dự toán cải tạo, phục hồi mơi trường (M cp) bằng tổng các chi

phí thực hiện các hạng mục chính dưới đây: [92, Điều 8]

Mcp = Mkt + Mbt + Mcn + Mxq + Mhc + Mk

Trong đó:

Mkt: Chi phí cải tạo, phục hồi mơi trường khai trường khai thác, bao gồm các

chi phí: san lấp, củng cố bờ moong trong tầng đất phủ, trong tầng đất, đá; xây dựng

kè hoặc đê bao, lập hàng rào, biển báo kiên cố xung quanh; trồng cây xung quanh

và khu vực khai trường; xây dựng các công trình thoát nước, xử lý nước; san gạt,

phủ đất màu; đới với mỏ khai thác hầm lò, chi phí lấp kín cửa đường lò, các lò

nhánh (nếu cần thiết) theo quy phạm khai thác hầm lò; lu lèn chớng thấm và xây

dựng hệ thớng ngăn ngừa, xử lý dòng thải axit mỏ đối với các mỏ khai thác khoáng

vật sulfua và các mỏ có tính phóng xạ; tái tạo thảm thực vật, hệ sinh thái,...;

Mbt: Chi phí cải tạo, phục hồi môi trường khu vực bãi thải đất đá, bãi thải

quặng, bao gồm các chi phí: san lấp mặt bằng, cắt tầng đảm bảo các yêu cầu an

toàn; xây dựng đê, kè chân tầng để đảm bảo an toàn, tránh trượt lở chân bãi thải;

xây dựng hệ thống thu gom nước trên mặt tầng và chân tầng; xử lý nước từ bãi thải

51



trước khi xả ra môi trường; lu lèn, chống thấm và xây dựng hệ thống ngăn ngừa, xử

lý dòng thải axit mỏ đới với các mỏ khai thác khoáng vật sulfua và các mỏ có tính

phóng xạ; trồng cây trên mặt tầng, sườn tầng các bãi thải,...;

Mcn: Chi phí cải tạo, phục hồi mơi trường mặt bằng sân công nghiệp, khu vực

phân loại, làm giàu, khu vực phụ trợ, bao gồm các chi phí: tháo dỡ các cơng trình,

thiết bị trên mặt bằng và vận chuyển đến nơi lưu chứa; xử lý chất thải và khu vực bị

ô nhiễm; san gạt tạo mặt bằng, phủ đất màu, trồng cây; xây dựng hệ thống thu gom,

thoát nước; tái tạo thảm thực vật, hệ sinh thái,...;

Mxq: Chi phí cải tạo, phục hồi mơi trường khu vực ngồi biên giới mỏ nơi bị

ảnh hưởng do hoạt động khai thác, bao gồm các chi phí: khắc phục suy thoái và

phục hồi mơi trường, nạo vét, khơi thơng các dòng śi, sơng; duy tu, bảo dưỡng

các tuyến đường vận chuyển; trồng cây tái tạo lại hệ sinh thái, thảm thực vật tại các

khu vực xung quanh mỏ,...;

Mhc: Chi phí hành chính phục vụ cho cơng tác cải tạo, phục hồi mơi trường,

chi phí thiết kế, thẩm định thiết kế; chi phí dự phòng do phát sinh khới lượng, do

trượt giá; chi phí vận hành hệ thớng xử lý nước thải; chi phí duy tu, bảo trì các cơng

trình cải tạo, phục hồi mơi trường sau khi kết thúc hoạt động cải tạo, phục hồi mơi

trường (được tính bằng 10% tổng chi phí cải tạo, phục hồi mơi trường),...

Mk: Những khoản chi phí khác.

Về nội dung của biện pháp ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường trong hoạt

động khai thác khoáng sản, theo quy định tại khoản 1 Điều 114 Luật BVMT năm

2005 thì:

- Trước khi tiến hành khai thác tài nguyên thiên nhiên, các tổ chức, cá nhân

phải thực hiện việc ký quỹ tại tổ chức tín dụng trong nước hoặc Quỹ BVMT địa

phương nơi có khai thác tài nguyên thiên nhiên.

- Trong quá trình thực hiện khai thác tài nguyên thiên nhiên, nếu các chủ thể

có các biện pháp chủ động ngăn chặn, khắc phục, không để xảy ra ô nhiễm hoặc suy

thoái mơi trường, hồn ngun mơi trường đúng như cam kết thì sau khi kết thúc

quá trình khai thác họ sẽ nhận lại sớ tiền đã ký quỹ đó cộng với số khoản lãi phát

sinh từ số tiền ký quỹ đó trong thời hạn ký quỹ theo sự thoả thuận giữa bên ký quỹ

(tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên thiên nhiên) với bên nhận ký quỹ (tổ chức tín

dụng hoặc Quỹ BVMT địa phương) hoặc theo quy định của pháp luật. Ngược lại,

nếu bên ký quỹ không thực hiện đúng cam kết cải tạo phục hồi môi trường thì tồn

52



bộ hoặc một phần sớ tiền ký quỹ được sử dụng để cải tạo, phục hồi môi trường nơi

các chủ thể đó khai thác.

Mục đích chính của việc ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường trong hoạt động

khai thác khoáng sản là để đảm bảo tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản thực hiện

việc cải tạo, phục hồi môi trường theo quy định của pháp luật.

Từ những phân tích trên cho thấy ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường trong

hoạt động khai thác khoáng sản – với tư cách là một CCKT trong quản lý và BVMT

có những ưu điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, ký quỹ cải tạo phục hồi môi trường trong hoạt động khai thác

khoáng sản đảm bảo việc tái tạo, hoàn nguyên môi trường. Điều này xuất phát từ

nội dung của biện pháp ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường trong hoạt động khai

thác khoảng sản là buộc các chủ thể có hoạt động khai thác khoáng sản trước khi

tiến hành khai thác phải nộp một khoản tiền vào Quỹ BVMT Việt Nam hoặc Quỹ

BVMT của địa phương để đảm bảo công tác cải tạo, phục hồi môi trường. Bởi lẽ chỉ

thơng qua một lợi ích vật chất mới có thể bảo đảm được một lợi ích vật chất. Mặt

khác, bản thân quy định về ký quỹ đảm bảo việc sử dụng sớ tiền để phục hồi, hồn

ngun mơi trường đúng mục đích, đúng thời điểm.

Thứ hai, ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường trong hoạt động khai thác

khoáng sản khuyến khích các đới tượng khai thác khoáng sản khơng để ô nhiễm

môi trường trước và trong khi tiến hành khai thác khoáng sản. Vì mức tiền ký quỹ

cải tạo, phục hồi môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản thường được xác

định căn cứ vào chi phí phục hồi môi trường nêu trong báo cáo đánh giá tác động

mơi trường. Nếu đới tượng có hoạt động khai thác khoáng sản mà khắc phục được

ngay trong quá trình khai thác của mình thì sớ tiền phục hồi sẽ giảm, thậm chí

khơng mất chi phí.

Thứ ba, ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường trong hoạt động khai thác

khoáng sản tạo ra lợi ích cho Nhà nước và bản thân các tổ chức, cá nhân khai thác

tài nguyên thiên nhiên. Trước tiên về phiá Nhà nước, việc bắt buộc các chủ thể có

hoạt động khai thác khoáng sản phải ký quỹ cải tạo, phục hồi mơi trường tạo ra lợi

ích cho Nhà nước vì khơng phải đầu tư kinh phí khắc phục mơi trường từ ngân sách,

từ đó có nguồn tài chính để đầu tư cho các lĩnh vực khác nhằm thúc đẩy tăng trưởng

kinh tế của đất nước. Đối với các tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản sẽ có lợi do

lấy lại được vớn khi khơng để xảy ra ô nhiễm hoặc suy thoái môi trường.

53



Bên cạnh những ưu điểm trên, ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường trong

hoạt động khai thác khoáng sản vẫn tồn tại một số hạn chế nhất định:

Thứ nhất, việc buộc các tổ chức, cá nhân có hoạt động khai thác khoáng sản

phải ký quỹ làm ảnh hưởng tới khả năng tài chính của các chủ thể này. Nhiều khi sự

hạn chế về nguồn lực tài chính này đã khiến cho các chủ thể không thực hiện được

các biện pháp BVMT trong quá trình khai thác khoáng sản mặc dù họ rất muốn.

Thứ hai, việc sử dụng số tiền ký quỹ trên thực tế còn chưa hiệu quả. Theo quy định

của pháp luật Việt Nam hiện hành thì tổ chức, cá nhân ký quỹ được rút tiền để thực

hiện việc phục hồi môi trường nhưng trên thực tế số tiền này có được sử dụng đúng

mục đích hay khơng thì hiện nay pháp luật chưa có cơ chế kiểm soát. Còn trong

trường hợp các chủ thể khai thác khoáng sản từ bỏ sớ tiền ký quỹ này thì thường là

những trường hợp chi phí để cải tạo, phục hồi mơi trường trên thực tế cao hơn số

tiền ký quỹ. Trong những trường hợp này, cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ lựa

chọn (thơng qua hình thức đấu thầu) đơn vị thực hiện việc phục hồi mơi trường.

Đương nhiên kinh phí để tổ chức đấu thầu sẽ lấy từ số tiền ký quỹ và do đó sớ tiền

thực tế được sử dụng để phục hồi môi trường chỉ là một phần số tiền ký quỹ.

3.1.1.4. Bồi thường thiệt hại cho môi trường

Quy định này được pháp luật ghi nhận lần đầu tiên tại Luật BVMT năm

1993, theo đó “tổ chức, cá nhân gây tổn hại môi trường do hoạt động của mình phải

bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật”. Đến năm 2005, Luật

BVMT (2005) đã đề cập một cách rõ ràng hơn, các quy định về bồi thường thiệt hại

do ô nhiễm, suy thoái môi trường được quy định từ Điều 131 đến Điều 135 Mục

2. Nghị định cũng qui định ngun tắc tính toán thiệt hại đới với mơi

trường như sau:

+ Việc tính toán thiệt hại đới với mơi trường căn cứ vào chi phí khắc phục ô

nhiễm, suy thoái và phục hồi môi trường tại nơi xảy ra ô nhiễm, suy thoái để đạt các

quy chuẩn kỹ thuật về môi trường đối với chất lượng môi trường nước; mơi trường

đất; chi phí để phục hồi hệ sinh thái và loài được ưu tiên bảo vệ về bằng hoặc tương

đương với trạng thái ban đầu.

+ Việc tính toán thiệt hại đối với môi trường dựa trên các dữ liệu, chứng cứ

đã được thu thập, ước tính thẩm định theo quy định

+ Thiệt hại đối với môi trường của một khu vực địa lý bằng tổng thiệt hại

đối với từng thành phần môi trường ở khu vực địa lý đó.

54



Ngồi ra tại Điều 624 Bộ Luật Dân sự (2005) có quy định “Cá nhân, pháp

nhân và các chủ thể khác làm ô nhiễm môi trường gây thiệt hại thì phải

bồi thường theo quy định của pháp luật, kể cả trường hợp người gây ơ nhiễm mơi

trường khơng có lỗi”. Khác với các quan hệ pháp lý khác có liên quan đến bồi

thường thiệt hại, trong lĩnh vực môi trường người làm ô nhiễm môi trường gây thiệt

hại thường phải thực hiện đồng thời cả hai biện pháp: khắc phục tình trạng mơi

trường bị ơ nhiễm và bồi thường thiệt hại về môi trường.

Tuy nhiên, việc xác định thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường là vấn đề

không đơn giản ngay cả ở những nước phát triển, nơi mà lý thuyết về lượng giá các

nguồn tài nguyên thiên nhiên, các yếu tố môi trường đã được định hình và củng cớ.

Một tình trạng khá phổ biến trong lĩnh vực môi trường hiện nay là nhiều cá nhân, tổ

chức cùng gây ô nhiễm môi trường và cơ quan quản lý nhà nước về BVMT có trách

nhiệm phới hợp với các bên liên quan để làm rõ trách nhiệm của từng đối tượng

trong việc khắc phục ô nhiễm và phục hồi môi trường. Trên thực tế không dễ dàng

xác định chính xác mức độ gây hại đến mơi trường của từng đối tượng và trong

trường hợp này pháp luật dân sự đã tính đến giải pháp các đới tượng phải bồi

thường thiệt hại theo phần bằng nhau. Do đó chưa đảm bảo sự công bằng trong áp

dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại về môi trường mà các cá nhân, tổ chức chỉ

phải bồi thường thiệt hại theo phần tương ứng với mức độ gây hại khi họ chứng

minh được mức độ mà mình gây thiệt hại đới với môi trường.

Từ năm 1997 đến nay, ở Việt Nam đã xảy ra 50 vụ tràn dầu tại các vùng sông

và biển ven bờ gây thiệt hại lớn về kinh tế cũng như ô nhiễm nghiêm trọng và lâu

dài cho môi trường biển, 77% sự cố tràn dầu trên hải phận nước ta chưa được bồi

thường hoặc đang trong quá trình giải quyết...94. Để giải quyết thực trạng

của sự cố tràn dầu, các cơ quan có thẩm quyền đã ban hành một số văn bản quy

phạm pháp luật như: Thông tư số 2370-TT/Mtg ngày 22/12/1995 của Bộ

Khoa học, Công nghệ và Môi trường hướng dẫn tạm thời về khắc phục sự cố chảy

xăng dầu, Quyết định 129/2001/QĐ-TTg phê duyệt quốc gia về ứng phó sự cớ tràn

dầu 2001-2010. Ngày 02/05/2005, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục ban hành Quyết

định 103/2005/QĐ-TTg về quy chế ứng phó sự cớ tràn dầu. Việc tổ chức ứng

phó được tổ chức ở 3 cấp: cấp cơ sở (địa phương - xử lý tràn dầu dưới 100 tấn), cấp

khu vực vực (xử lý tràn dầu từ 100 - 2.000 tấn) và cấp quốc gia (xử lý tràn dầu từ

2.000 tấn trở lên). Ngồi ra, ngày 17/06/2004 Cơng ước quốc tế về trách nhiệm dân

55



sự đối với thiệt hại do ơ nhiễm dầu 1992 có hiệu lực tại Việt Nam (International

Convention on Civil Liability for Oil Pollution Damage – CLC 92). Trong công

ước CLC 91 quy định: (i) khi xảy ra ơ nhiễm dầu thì chủ sở hữu của tàu không chỉ

phải đền bù thiệt hại do ảnh hưởng đến mơi trường mà còn phải đền bù các thiệt hại

về kinh tế do ô nhiễm dầu gây nên; (ii) mức bồi thường ngoài căn cứ vào lượng dầu

tràn còn căn cứ vào trọng tải của tàu (với mức bồi thường cao nhất: 3,8 triệu USD

với tàu có trọng tải dưới 5.000 tấn, 76,5 triệu USD với tàu có trọng tảu 140.000 tấn

trở lên), (iii) phạm vi khu vực bị ơ nhiễm được tính bồi thường bao gồm cả vùng

đặc quyền kinh tế thay vì là chỉ trong phạm vi lãnh hải của quốc gia bị ô nhiễm.

Ở Việt Nam trong thời gian qua, cũng xảy ra vụ kiện đòi bồi thường thiệt hại

mơi trường của người dân do việc gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng của công

ty Vedan. Công ty Vedan là một doanh nghiệp Đài Loan chuyên sản xuất các mặt

hàng như: bột ngọt, tinh bột, nước đường, xút (NAOH), axit…. có nhà máy sản xuất

tại Việt Nam đóng tại huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. Trong những năm vừa

qua, công ty đã xả nước thải chưa qua xử lý theo quy định và có chứa rất nhiều chất

độc hại ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sớng bên ngồi, nhất là dòng sơng

Thị Vải.

Theo báo cáo của Tổng cục Môi trường, sau những vi phạm gây ô nhiễm môi

trường nghiêm trọng do Vedan gây ra đối với sông Thị Vải, ảnh hưởng đến cuộc

sống hàng chục nghìn hộ dân, ngày 9/4/2010, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu có Cơng văn

u cầu Cơng ty Vedan bồi thường thiệt hại cho 1.255 hộ dân với số tiền 53,619 tỷ

đồng; ngày 1/6/2010, UBND thành phớ Hồ Chí Minh yêu cầu Vedan bồi

thường thiệt hại cho 839 hộ dân huyện Cần Giờ với số tiền 45,74 tỷ đồng; ngày

21/6/2010, UBND tỉnh Đồng Nai có Cơng văn 4901 u cầu Vedan bồi thường thiệt

hại cho nhân dân 4 xã (thuộc hai huyện Long Thành và Nhơn Trạch với số tiền 119,

581 tỷ đồng.

Theo văn bản báo cáo Thủ tướng Chính phủ được Thứ trưởng Bộ Tài

nguyên - Môi trường Nguyễn Thái Lai ký vào ngày 1/9/2010, thì ngày

11/8/2010 Cơng ty Vedan đã thống nhất bồi thường thiệt hại 100% số tiền yêu cầu

bồi thường cho toàn bộ người dân của 3 địa phương bị ảnh hưởng trên lưu vực sông

Thị Vải là gần 219 tỉ đồng. Trong đó, nơng dân ở Bà Rịa - Vũng Tàu được bồi

thường hơn 53,6 tỉ đồng, nông dân ở Đồng Nai là hơn 119,5 tỉ đồng và nông dân

huyện Cần Giờ (TP HCM) là hơn 45,7 tỉ đồng. Số tiền bồi thường này được chia

56



thành 2 đợt. Đợt 1: 50% số tiền được chuyển cho mỗi địa phương trong

vòng 7 ngày kể từ ngày ký biên bản thỏa thuận bồi thường. Đợt 2 sẽ

chuyển từ ngày 10 đến ngày 14/1/2011 và được bảo lãnh của ngân hàng

theo quy định.

Hiện nay, công ty Vedan đang phải tiến hành từng bước trách nhiệm bồi

thường thiệt hại ô nhiễm môi trường do quá trình hoạt động sản xuất của công ty

gây ra cho từng hộ dân sống ở 3 tỉnh Thành phớ Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bà Rịa

Vũng Tàu. Ngồi việc bồi thường thiệt hại ơ nhiễm mơi trường bằng tiền cho các hộ

dân, thì cơng ty Vedan còn có các biện pháp khắc phục ơ nhiễm mơi trường như: cải

tạo tồn bộ hệ thớng thu gom, xử lý nước thải đảm bảo quy chuẩn kỹ thuật về chất

thải theo quy đinh, hệ thống thu gom và cửa xả nước thải phải được đặt ở vị trí

thuận lợi cho việc kiểm tra, giám sát. Có thể nói, đây là vụ việc bồi thường

thiệt hại mơi trường xảy ra lớn nhất từ trước đến nay ở Việt Nam.

Bồi thường thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường tại Việt Nam là vấn đề

còn rất mới cả từ phương diện lý luận và thực tiễn. Chúng ta mới chỉ đúc rút được

kinh nghiệm từ thực tiễn tự phát giải quyết các vụ kiện đòi bồi thường thiệt hại về

sức khỏe, tài sản do ô nhiễm môi trường gây nên. Đây cũng là một vấn đề các nhà

quản lý ngành môi trường cần lưu ý trong việc xây dựng và thực hiện các công cụ

kinh tế để đẩy mạnh kinh tế hóa.

3.1.1.5. Nhãn sinh thái

Nhằm thúc đẩy DN xây dựng nhãn sinh thái cho sản phẩm của mình, năm

2009 Tổng Cục mơi trường đã khởi động Chương trình Nhãn xanh Việt Nam đã

được triển khai trên phạm vi tồn q́c từ tháng 3 năm 2009 nhằm mục tiêu liên

tục cải thiện và duy trì chất lượng mơi trường sống thông qua giảm thiểu sử dụng

và tiêu dùng năng lượng, vật liệu cũng như các loại chất thải sinh ra do quá trình

sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng các sản phẩm, dịch vụ tiêu dùng phục vụ đời

sống, năm 2011 được mở rộng trên tồn q́c và do Tổng cục Môi trường cấp.

Hàng hoá Việt Nam sẽ được ghi nhãn sinh thái theo tiêu chuẩn ISO 14024.

Thực hiện chương trình cấp nhãn sinh thái, Bộ Tài nguyên và Môi trường

đã ban hành các văn bản:

- Quyết định số 252/QĐ-BTNMT ngày 05/03/2009 của Bộ trưởng Bộ Tài

nguyên và Môi trường về việc phê duyệt chương trình cấp nhãn sinh thái



57



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 3.4: Tổng nguồn thu từ phí nước thải được chuyển về Quỹ BVMT

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×