Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 1.2: Các công cụ kinh tế được áp dụng ở các nước OECD

Bảng 1.2: Các công cụ kinh tế được áp dụng ở các nước OECD

Tải bản đầy đủ - 0trang

Các loại thuế và phí chính được áp dụng tại Canada gồm: phí sử dụng nước;

phí hoa lợi cải tạo đất; phí sử dụng nước mưa; phí khơi phục hoặc loại bỏ chất thải;

phí phát thải; phí cho phép đổ chất thải (ví dụ: đổ chất thải x́ng biển); thuế liên

bang và 6 loại thuế cấp tỉnh đánh vào xăng dầu; thuế đới với chất đớt khơng hiệu

quả; phí phát tán đặc biệt là đới với việc phát thải khí NO2, SO2, VOC, CO...; thuế

đới với xăng pha chì.

Việc áp dụng các loại thuế và phí ở Canada đã có những tác động nhất định

tới hành vi ứng xử của người sản xuất và người tiêu dùng. Ví dụ như trường hợp áp

dụng thu thuế đới với xăng pha chì, từ tháng 12 năm 1991 xăng pha chì đã bị loại

hẳn ra khỏi thị trường của Canada.

 Thuế và phí BVMT ở Thụy Điển

Việc đánh thuế phát thải khí sulfur tại Thụy Điển cũng đem lại những kết

quả khả quan trong kiểm soát ơ nhiễm. Ước tính có tác động làm giảm 30%

lượng phát thải trong thời gian từ năm 1989 đến năm 1995 [20]. Thụy Điển cũng

áp dụng công cụ thuế môi trường trong kiểm soát ô nhiễm. Loại thuế này áp

dụng cho tất cả hoạt động gây ô nhiễm như: sử dụng năng lượng, hoạt động

gây ô nhiễm, sử dụng tài nguyên, sử dụng các phương tiện giao thơng.

 Phí BVMT ở Hàn Quốc

Phí đánh vào nguồn gây ô nhiễm được Hàn Quốc áp dụng từ năm 1983 đới với

chất thải khí và nước thải. Ban đầu, thu phí được áp dụng dưới dạng phạt do khơng

thực hiện cam kết. Từ năm 1986, biện pháp này được thay thế bằng thu phí đới với

phần thải vượt tiêu chuẩn. Mức phí được xác định trên cơ sở nồng độ chất gây ơ nhiễm,

vị trí thải ơ nhiễm, thời gian vượt tiêu chuẩn cho phép và tùy thuộc vào số lần vi phạm

tiêu chuẩn. Đến năm 1990, sớ phí này được điều chỉnh cao hơn chi phí vận hành hệ

thớng xử lý ơ nhiễm để có tác dụng khuyến khích giảm ơ nhiễm.

 Phí ơ nhiễm ở Singapore

Singapore có biểu giá phí ơ nhiễm đánh vào nhu cầu ơxy hóa (BOD) và tổng

chất rắn lơ lửng (TSS) áp dụng với tất cả các cơ sở cơng nghiệp. Mức phí được xác

định tùy theo lượng nước thải và nồng độ các chất gây ô nhiễm. Lượng BOD và

TSS cho phép được thải vào hệ thớng cơng cộng là 400 mg/lít. Nếu cơ sở có nồng

độ BOD từ 401-600 mg/lít thì phải trả sớ phí là 0,12$ Singapore/m 3. Nếu nồng độ

BOD từ 1.601-1.800 mg/lít thì phí sẽ tăng lên là 0,84$ Singapore/m 3. Nếu nồng độ

chất gây ô nhiễm nằm trong khoảng 601-1.600 mg/lít thì sớ phí sẽ tăng lên một cấp

32



cho mỗi 200 mg/lít. Hạn chế của chương trình này là phí được áp dụng như nhau

đới với mọi cơ sở công nghiệp, không phân biệt quy mô, cơ sở mới hay cũ.

1.3.2.3. Kinh nghiệm sử dụng nhóm các cơng cụ nâng cao trách nhiệm xã hội trong

hoạt động BVMT

 Hệ thống đặt cọc - hồn trả

Mọi đới tượng trong sản xuất, kinh doanh hoặc tiêu dùng các loại sản phẩm

có khả năng gây ơ nhiễm mơi trường phải nộp vào Quỹ BVMT một khoản tiền đặt

cọc nhất định. Điều này bảo đảm sự cam kết của họ trong sản xuất kinh doanh hoặc

tiêu dùng không vi phạm các quy định của pháp luật về BVMT. Nếu hết thời hạn

cam kết mà họ thực hiện đúng các quy định về BVMT thì sẽ được nhận lại sớ tiền

đặt cọc, còn nếu vi phạm cam kết thì sớ tiền đặt cọc sẽ được sung vào Quỹ BVMT.

Ở các nước OECD, phần lớn quy định của pháp luật về hệ thống đặt cọc hoàn trả được áp dụng cho các loại nước uống như bia, rượu và đã phát huy tác

dụng trong việc thu gom bao bì và chất thải sau sử dụng sản phẩm. Hiện nay, các

nước OECD đã và đang mở rộng việc áp dụng quy định của pháp luật trong hệ

thớng đặt cọc - hồn trả sang các lĩnh vực khác như vỏ tàu hoặc ô tô cũ, sử dụng

dầu, ắc quy, thùng đựng thuốc trừ sâu, đồ gia dụng bằng điện và thiết bị năng lượng.

Kinh nghiệm cho thấy, hiệu quả của việc sử dụng công cụ này tùy thuộc vào

việc xác định đúng mức đặt cọc. Nếu mức đặt cọc thấp sẽ không tạo ra động cơ đủ

mạnh cho việc quản lý và BVMT. Ngược lại, nếu mức đặt cọc quá cao sẽ dẫn đến

cản trở sự phát triển. Ngoài ra, hiệu quả của việc sử dụng cơng cụ này còn tùy thuộc

vào nhận thức và ý thức của người sản xuất và người tiêu dùng.

 Ký quỹ môi trường

Về cơ bản, cơ chế thực hiện của ký quỹ môi trường tương tự như hệ

thống đặt cọc - hồn trả nhưng có sự can thiệp sâu của Nhà nước. Trong lĩnh vực

BVMT, việc quy định ký quỹ nhằm đảm bảo nghĩa vụ BVMT đối với các đối

tượng gây ô nhiễm môi trường do Nhà nước qui định bắt buộc. Nơi ký quỹ do

Nhà nước quy định cụ thể, thường là các Ngân hàng thương mại, Kho bạc Nhà

nước nơi các đới tượng ký quỹ có tài khoản giao dịch.

Ký quỹ môi trường tại Quebec (Canada) [12]

Ký quỹ môi trường đã được áp dụng trong ngành khai thác khoáng sản tại

Quebec (Canada) từ đầu những năm 1990. Theo quy định của Bộ Tài nguyên và

Bộ Môi trường Quebec, trong Luật Khai thác mỏ thì từ ngày 9 tháng 4 năm 1995

33



bất kỳ cá nhân tham gia khai thác mỏ hoặc điều hành hệ thớng khai thác phải đệ

trình kế hoạch phục hồi và một khoản tài chính đảm bảo chiếm 70% chi phí

phục hồi khu vực khai thác.

Ký quỹ môi trường tại Philipin [128]

Ký quỹ môi trường cũng được áp dụng trong lĩnh vực khai thác khoáng

sản tại Philipin. Theo Nghị định sửa đổi số 7942 nhằm triển khai thực hiện Luật

Khai thác mỏ năm 1995 của Philipin, tại điều 13 qui định về khoản ký quỹ mà

người khai thác khoáng sản phải chi trả để được thực hiện dự án có nội dung như

sau: người ký hợp đồng sẽ phải chi trả cho Chính phủ một khoản tiền đặt cọc có

giá trị tới thiểu bằng 5% giá trị thị trường của toàn bộ sản lượng khoáng sản khai

thác hoặc các sản phẩm chế biến không bao gồm tất cả các loại thuế khác. 10%

khoản tiền trên và 10% doanh thu khác như quản lý hành chính, vệ sinh, khai thác

và các phí liên quan khác được thu từ hoạt động thăm dò, khai thác, phát triển

và sử dụng các nguồn tài nguyên khoáng sản cùng với khoáng sản dự trữ sẽ

được Chính phủ quản lý như một quỹ tín dụng và sẽ được ký quỹ vào ngân quỹ

của Chính phủ để phân phới cho các dự án đặc biệt và các chi phí hành chính khác

liên quan đến thăm dò, khai thác, phát triển và quản lý môi trường khoáng sản.

 Nhãn sinh thái

Đây là một dạng cơng cụ kinh tế thơng qua việc khuyến khích tiêu dùng các sản

phẩm thân thiện với môi trường tác động đến nhà sản xuất trong việc thay đổi quy trình

cơng nghệ nhằm đáp ứng được các tiêu chí mơi trường, giảm thiểu các tác động môi

trường, giảm tiêu thụ năng lượng, giảm sử dụng nguyên nhiên liệu đầu vào.

Nhãn sinh thái Châu Âu

Nhãn sinh thái Châu Âu đã được Hội đồng Bộ trưởng môi trường Châu Âu

thông qua theo Quyết định số 880/92 ngày 23 tháng 3 năm 1992 bao gồm các

sản phẩm tẩy rửa, giấy, dệt, các sản phẩm trong nhà và làm vườn, thiết bị, chất

bôi trơn và các dịch vụ như nhà ở du lịch.

Đến đầu năm 2010, đã có hơn 1000 nhãn sinh thái Châu Âu được cấp cho

26 chủng loại sản phẩm, trong đó dịch vụ du lịch chiếm 37% tổng số giấy chứng

nhận. Ý và Pháp là hai q́c gia có sớ chủ sở hữu nhãn sinh thái lớn nhất, với

331 và 203 giấy phép tương ứng. Đứng thứ ba là Tây Ban Nha và Đức với hơn

60 giấy phép.

34



Hình 1.2. Sự phát triển về số lượng nhãn sinh thái Châu Âu được cấp từ năm

1992 đến 2010 (tính đến 30/7/2010) [124]

Nguồn: Báo cáo phát triển VDC (2011)

Nhãn sinh thái của Mỹ (Con dấu xanh – Green Seal) [55, tr.101]

Chương trình “Con dấu xanh” là một trong những chương trình tiên

phong trong việc thúc đẩy nền kinh tế bền vững tại Mỹ. Năm 1989, “Con dấu

xanh” được thành lập với tư cách là một tổ chức phi Chính phủ độc lập có mục

tiêu hỗ trợ người tiêu dùng tìm thấy được những sản phẩm thực sự xanh. Hiện

nay, chương trình này cung cấp tiêu chí và hướng dẫn cho các nhà sản xuất, nhà

cung cấp dịch vụ hướng tới tính bền vững trong sản phẩm và dịch vụ. “Con dấu

xanh” có 30 tiêu chuẩn đã ban hành cho hơn 193 loại sản phẩm và dịch vụ.

Đới tượng tập trung đầu tiên của Chương trình “Con dấu xanh” là nội

dung mua sắm của người tiêu dùng. Chương trình xây dựng các hướng dẫn mua

sắm cho cộng đồng thông qua việc khuyến cáo và chứng nhận các sản phẩm

hoặc dịch vụ thân thiện môi trường qua các tờ rơi, tạp chí, quảng cáo. Những

thơng tin này được thu thập vào biên soạn thành “Báo cáo lựa chọn xanh” phát

hành hàng năm.

1.3.2.4. Kinh nghiệm sử dụng chế tài xử phạt trong bảo vệ môi trường

Chế tài xử phạt vi phạm pháp luật BVMT là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến

thái độ, hành vi của cá nhân, tổ chức trong các hoạt động có liên quan đến môi

trường. Kinh nghiệm ở nhiều nước cho thấy, việc áp dụng chế tài xử phạt đủ mạnh,

đảm bảo sức răn đe sẽ có tác dụng tích cực trong việc thực thi pháp luật BVMT.

Kinh nghiệm của Hoa Kỳ

Hệ thống cưỡng chế môi trường của Hoa Kỳ gồm ba cấp: Liên bang, bang và

chính quyền địa phương (hạt). Mỗi cấp có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn rất cụ

thể. Ở cấp liên bang: có Cục Bảo vệ mơi trường Liên bang (EPA). Đây là cơ quan

35



Chính phủ quản lý chung về môi trường, xử lý các vụ việc môi trường lớn, có tính

chất nghiêm trọng, xảy ra ở phạm vi lớn hơn một bang.

Ở cấp bang: có Cục Bảo vệ mơi trường bang. Cục này có nhiệm vụ giải quyết

các vấn đề môi trường trong địa phận của bang.

Ở cấp hạt: ở các hạt có lực lượng thanh tra, cảnh sát môi trường, luật sư, công

tố viên chịu trách nhiệm về các vấn đề môi trường của địa phương.

Bên cạnh Cục Bảo vệ môi trường Liên bang, một số bộ, ngành khác cũng

tham gia quản lý và xử lý vi phạm môi trường như: Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ, Cảnh

sát bảo vệ bờ biển. Các cơ quan này đều có lực lượng thanh tra, cảnh sát và công tố

viên để điều tra và xử lý vi phạm môi trường trong lĩnh vực mình phụ trách.

Các vi phạm pháp luật về mơi trường ở Hoa Kỳ có thể bị xử phạt theo từng

cấp độ khác nhau, tùy thuộc vào tính chất và phạm vi của người vi phạm. Các hình

thức xử phạt vi phạm môi trường của họ được chia thành ba loại: (1) Xử lý hành

chính (2) Xử lý dân sự (3) Xử lý hình sự.

- Kinh nghiệm của Philippin

Ở Philippine, các tội phạm trong lĩnh vực BVMT chỉ được quy định trong

các đạo luật về môi trường, không được quy định trong Luật Hình sự. Nhìn chung,

các hình phạt mà Philippin áp dụng đối với tội phạm môi trường rất nặng.

Điều 47 Luật Khơng khí sạch năm 1999 quy định: người nào có hành vi gây

ơ nhiễm khơng khí thì tùy theo mức độ vi phạm mà bị phạt tiền từ 10.000 pesos đến

100.000 pesos hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến sáu năm, hoặc bị áp dụng cả hai hình

phạt trên. Nếu người vi phạm là pháp nhân thì người quản lý đứng đầu pháp nhân,

nhân viên kiểm soát ơ nhiễm sẽ phải chịu hình phạt này. Nếu pháp nhân có ba lần vi

phạm trong một năm hoặc vi phạm ba năm liên tiếp trở lên, coi thường lệnh của các

cơ quan quản lý môi trường về việc đình chỉ hoạt động của cơ sở thì theo quy định

của Điều 48 người phạm tội bị phạt tù từ sáu tháng đến 10 năm.

1.3.3. Tiểu kết chương

Kinh nghiệm của nước ngoài về sử dụng các CCKT vào hoạch định chính sách mơi

trường cho thấy: đới với các nước đang phát triển và các nước đang trong quá trình

chuyển đổi sang cơ chế thị trường như Việt Nam, do điều kiện luật pháp, thể chế chưa

hồn thiện, trình độ dân trí chưa cao nên có nhiều vấn đề đặt ra cần cân nhắc kỹ trước khi

xây dựng và vận dụng pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT.



36



Thứ nhất, việc sử dụng các CCKT trong BVMT phải được thực hiện từng

bước, cẩn trọng. Thực tế cho thấy đối với các nước đang phát triển, do điều kiện

luật pháp, chính sách, thể chế chưa hồn thiện, cộng với trình độ dân trí hạn chế…

cho nên việc sử dụng các CCKT trong BVMT phải được thực hiện từng bước, cẩn

trọng dựa trên những cân nhắc kỹ lưỡng về kinh tế, kỹ thuật, xã hội, chính trị… sao

cho phù hợp, tránh nóng vội. Trung Q́c, Hàn Q́c, Malaixia… đều tiến hành

từng bước trong việc áp dụng các công cụ kinh tế. Nếu nóng vội sẽ bị thất bại.

Thứ hai, các vấn đề liên quan tới thuế, phí và lệ phí mơi trường

- Các vấn đề kỹ thuật: Cơ sở để xác định mức thuế là cần phải nắm được chi

phí hoạt động của người gây ơ nhiễm, phải có hệ thớng giám sát ô nhiễm

(monitoring), các điều kiện địa lý, tỷ lệ lạm phát… Đây thực sự là vấn đề khó xác

định đối với cơ quan nhà nước chịu trách nhiệm về BVMT. Căn cứ để tính mức phí

phải đầy đủ, toàn diện, dựa trên chất lượng thải và nồng độ chất thải. Nếu chỉ dựa

vào nồng độ chất thải hoặc lượng chất thải thì sẽ tạo ra kẻ hở cho các đới tượng tìm

cách lẩn tránh khoản phí này. Bài học của các nước đang phát triển, đặc biệt là Hàn

Q́c cho ta thấy rõ điều này. Bên cạnh đó, mức phí phải cao hơn chi phí vận hành

hệ thớng xử lý ơ nhiễm và phải tính theo lũy tiến. Nếu mức phí quá thấp, thấp hơn

cả chi phí vận hành hệ thớng xử lý ơ nhiễm thì các cơ sở sẽ sẵn sang nộp phí chứ

khơng vận hành hệ thống xử lý ô nhiễm – kết quả là không thể giảm ơ nhiễm.

- Các vấn đề chính trị: Đó là sự phản ứng của cơng chúng, các nhóm xã hội

khi đánh thuế môi trường do nhận thức về môi trường còn thấp. Các DN có thể

phản đới thuế mơi trường vì chúng tăng thêm gánh nặng chi phí sản xuất đối với họ,

làm tăng khả năng cạnh tranh trên thương trường.

Thứ ba, các tác động về mặt phân phối, trợ cấp

Từ kinh nghiệm của các nước đã và đang sử dụng pháp luật về CCKT nhằm

BVMT cho thấy nó có thể gây tác động tiêu cực tới nhóm dân cư thu nhập thấp. Để

khắc phục tình trạng đó, chúng ta có thể áp dụng các biện pháp đặc biệt để giảm nhẹ

gánh nặng này, chẳng hạn thông qua các ngành có mức độ giảm thuế, ưu đãi, tín

dụng hoặc trợ cấp nhất định. Ví dụ: có thể trợ giá điện để khuyến khích người

nghèo sử dụng các loại năng lượng này nhằm hạn chế củi gỗ, than là một trong

những ngun nhân gây ơ nhiễm khơng khí.

Thứ tư, các vấn đề về thể chế, trách nhiệm pháp lý với môi trường



37



Sử dụng pháp luật về các CCKT trong BVMT đòi hỏi phải có các cơ cấu thể chế

phù hợp, đặc biệt là giám sát thi hành các chính sách. Việt Nam đã có Luật BVMT

nhưng thực tế hiệu lực của nó còn thấp. Điều đó đòi hỏi phải tiếp tục nghiên cứu và đề

ra những chủ trương chính sách phù hợp nhằm đưa Luật BVMT vào cuộc sống.

Mục tiêu chủ yếu của việc sử dụng pháp luật về các CCKT trong BVMT

nhằm đạt được một sự liên kết hữu hiệu giữa các chính sách kinh tế và các chính

sách môi trường. Thông qua kinh nghiệm quốc tế, khi sử dụng các CCKT trong

BVMT cần chú ý đến các tác động sau đây: Bổ sung và hồn thiện chính sách Nhà

nước, cần phải có cơ cấu thể chế và các kỹ năng hành chính phù hợp, Xây dựng hệ

thống các CCKT ngày càng hồn chỉnh cho BVMT, đảm bảo tính bình đẳng giữa

các thành phần kinh tế, kết hợp hài hòa giữa các chức năng, Kết hợp vận dụng các

CCKT với cải cách tài khóa

Thứ năm, bài học về sử dụng chế tài xử phạt nhằm nâng cao tính nghiêm minh

của pháp luật và răn đe, phòng ngừa các hành vi vi phạm pháp luật BVMT.

Thứ sáu, việc áp dụng các CCKT với tư cách bổ sung chứ không phải thay thế

cho các cơng cụ “Mệnh lệnh – kiểm sốt” và kèm theo nó có thể sử dụng thêm cơng

cụ trợ cấp tài chính. Kinh nghiệm này được hầu hết các nước đang phát triển áp

dụng. Tùy theo tính chất của từng vấn đề môi trường cần giải quyết, mà các Chính

phủ lựa chọn điểm cân bằng hai hệ thớng công cụ này.

Những bài học rút ra cho Việt Nam đã trình bày ở trên là dựa trên cơ sở nghiên

cứu kinh nghiệm của các nước thuộc OECD và các nước đang phát triển đã sử dụng

CCKT trong BVMT. Đồng thời căn cứ vào thực trạng phát triển kinh tế, những vấn

đề môi trường cấp bách ở Việt Nam, chúng ta cũng có những bài học đầu tiên về sử

dụng CCKT trong BVMT kết hợp với công cụ “Mệnh lệnh - kiểm sốt”. Tuy nhiên

về nội dung cũng như hình thức, để sử dụng có hiệu quả các CCKT trong BVMT

cần phải tiếp tục nghiên cứu ở mức độ sâu sắc hơn những cơ sở, phương pháp luận

và cách thức áp dụng chúng vào thực tiễn nước ta, đặc biệt là trong giai đoạn

chuyển đổi nền kinh tế sang cơ chế thị trường.



38



CHƯƠNG 2

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Cách tiếp cận nghiên cứu

2.1.1. Cách tiếp cận hệ thống.



Với cách tiếp cận này đề tài sẽ nghiên cứu: i) các công cụ quản lý kinh tế và

vai trò của nó trong quản lý môi trường; ii) các công cụ quản lý kinh tế trong quản

lý môi trường gắn với các ngành nghề và địa phương, mới quan hệ với chính sách

phát triển các ngành kinh tế khác; iii) Sự phát triển kinh tế gắn với đòi hỏi nâng cao

hiệu quả quản lý môi trường. Cách tiếp cận hệ thống này xuất phát từ những đặc

điểm cơ bản của nền kinh tế Việt Nam hiện nay: i) Một nền kinh tế đang trong quá

trình cơng nghiệp hóa với mục tiêu trở thành một nền kinh tế công nghiệp vào năm

2020; ii) Một nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị

trường với mục tiêu trở thành nền kinh tế thị trường vào năm 2018 (theo các tiêu chí

của WTO); iii) Một nền kinh tế đang hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế

thế giới. Những đặc điểm cơ bản này sẽ tác động tới sự phát triển của kinh tế nước

nhà nói chung và chính sách đối với sự phát triển theo các quy luật của kinh tế thị

trường và ngày càng nâng cao khả năng cạnh tranh. Cách tiếp cận này sẽ cho thấy,

mặc dù có những đặc điểm phát triển riêng nhưng vấn đề mơi trường và phát triển

kinh tế có liên quan mật thiết với nhau và không thể tách rời khỏi định hướng phát

triển chung của nền kinh tế Việt Nam.

2.1.2. Cách tiếp cận lịch sử.

Đề tài sẽ kết hợp phân tích lý luận và phân tích thực tiễn phát triển của các

công cụ kinh tế quản lý môi trường theo phạm vi xác định (giai đoạn 2005-2014),

lấy phân tích lý luận làm khung khổ cho phân tích thực tiễn và lấy thực tiễn để minh

chứng và điều chỉnh lý luận. Chẳng hạn, các vấn đề đặt ra như vai trò của các công

cụ kinh tế quản lý môi trường đối với phát triển kinh tế, thực trạng áp dụng các

công cụ kinh tế quản lý môi trường đều được nghiên cứu ở cả 2 khía cạnh: lý luận

và thực tiễn (cả trong nước và quốc tế). Việc đưa ra các tiêu chí đề xuất cho chính

sách sẽ phải chủ yếu dựa trên những điều kiện và hoàn cảnh thực tế ở Việt Nam bên

cạnh việc tham khảo kinh nghiệm quốc tế và các lý luận về phát triển kinh tế.

2.1.3 Cách tiếp cận hiệu quả và phát triển bền vững.

Phát triển kinh tế luôn đi kèm với những hệ quả về môi trường. Mặc dù các

CCKT đã được phát hiện và ứng dụng đầu tiên ở các nước công nghiệp phát triển

39



OECD, song chúng cũng có thể đem lại lợi ích cho các nước đang phát triển và các

nước đang chuyển đổi nền kinh tế như Việt Nam. Cải cách kinh tế đang được tiến

hành theo chiều rộng lẫn chiều sâu ở Việt Nam là cơ hội rất thuận lợi cho việc sử

dụng các CCKT trong BVMT một cách có hiệu quả hơn so với các quy chế mang

tính chất mệnh lệnh và kiểm soát vì ở các nước đang phát triển cũng như các nước

có nền kinh tế chuyển đổi đang còn rất thiếu cơ sở hạ tầng chính và luật pháp có

hiệu quả. Chính vì vậy, mà việc áp dụng các công cụ kinh tế trong quản lý môi

trường cần phải được phát triển theo hướng hiệu quả, chất lượng và góp phần nâng

cao khả năng cạnh tranh của các ngành kinh tế hướng tới một môi trường sạch.

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.2.1. Phương pháp phân tích hệ thống.



Từ cách tiếp cận hệ thống, đề tài sẽ sử dụng phương pháp phân tích hệ thớng.

Phương pháp này sẽ nghiên cứu tiến trình lịch sử để nghiên cứu quá trình hình

thành và phát triển của các cơng cụ kinh tế gắn với quản lý môi trường. Trên cơ sở

áp dụng phương pháp hệ thống để đưa ra quan niệm về công cụ kinh tế trong bảo vệ

môi trường, pháp luật về sử dụng công cụ kinh tế trong bảo vệ mơi trường ở Việt

Nam. .

2.2.2. Phương pháp phân tích tổng hợp và so sánh phối hợp với phương pháp ý kiến

chuyên gia.



- Đề tài sẽ sử dụng phương pháp này để so sánh vấn đề áp dụng các công cụ

kinh tế trong quản lý môi trường của Việt Nam với sự phát triển chung trên thế giới

cũng như ở một sớ nước nói riêng. Trên cơ sở đó, xác định những mặt tích cực và

hạn chế trong việc áp dụng các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường và đưa ra

những hàm ý về chính sách.

- Đề tài sẽ sử dụng phương pháp trao đổi và tiếp xúc với các chuyên gia kinh

tế tại Viện Kinh tế Việt Nam, Viện Kinh tế và Chính trị thế giới,… với những người

làm công tác quản lý, kinh doanh, đào tạo, nghiên cứu… kinh tế tài ngun mơi

trường, từ đó hình thành các ý tưởng, trao đổi với các chuyên gia chuyên sâu để đưa

ra các kết luận.

2.2.3. Đánh giá Dự báo Tác động Chính sách và Điều tiết (Regulatory Impact

Assessment – RIA).



Đây là phương pháp đánh giá dự báo những tác động có thể có của sự thay đổi

chính sách hoặc điều tiết trên cơ sở so sánh với bối cảnh giả định khơng có những

40



thay đổi chính sách và điều tiết đó. Trên cơ sở các sớ liệu thu thập và tổng hợp

được, đề tài sẽ sử dụng phương pháp này để đánh giá những tác động có thể có của

những thay đổi trong chính sách đới với quản lý kinh tế môi trường. Chẳng hạn như

những điều chỉnh trong chính sách và điều tiết sau khi Việt Nam gia nhập AEC.

2.3. Kỹ thuật sử dụng

Đề tài sẽ sử dụng kỹ thuật thớng kê để tìm kiếm thơng tin, số liệu từ các địa

phương, cơ quan quản lý Nhà nước, các doanh nghiệp và các cá nhân hoạt động

trong lĩnh vực liên quan kinh tế môi trường để thu thập các dữ liệu cần thiết cho

nghiên cứu.

Đề tài sẽ sử dụng công cụ tra cứu trực tuyến thông qua mạng Internet để phục

vụ cho nghiên cứu. Đề tài sẽ sử dụng tới đa cơng cụ này để tìm kiếm và cập nhật

các tài liệu cần thiết (cả trong và ngoài nước), đặc biệt là để tổng thuật những vấn

đề có liên quan đến lý luận về các cơng cụ kinh tế trong quản lý mơi trường, chính

sách và thực trạng áp dụng các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường ở nước ta;

kinh nghiệm quốc tế trong việc áp dụng các công cụ kinh tế trong quản lý môi

trường, đặc biệt trong một nền kinh tế kém phát triển, chuyển đổi và hội nhập kinh

tế quốc tế.

Đề tài sẽ sử dụng các nguồn tư liệu sẵn có trong nước và q́c tế như tư liệu

chính thức của Đảng và Nhà nước, tư liệu của các cơ quan hoạch định chính sách và

quản lý, tư liệu nghiên cứu của các tổ chức quốc tế (Ngân hàng Thế giới, Quỹ tiền

tệ Quốc tế, Liên hiệp quốc…), của các viện nghiên cứu, các trường đại học và các

cá nhân trong và ngoài nước.

Đề tài cũng sẽ sử dụng các cơ sở dữ liệu và sớ liệu sẵn có từ các cuộc điều tra

của những nghiên cứu đã được thực hiện từ trước, đặc biệt là cơ sở dữ liệu của

Tổng cục Thống Kê và những cơ quan quản lý và nghiên cứu chuyên sâu về áp

dụng các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường được lựa chọn.



41



CHƯƠNG 3

THỰC TRẠNG ÁP DỤNG CÁC CÔNG CỤ KINH TẾ VÀ VAI TRỊ CỦA NĨ

TRONG QUẢN LÝ MƠI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM

3.1. Thực trạng các công công kinh tế và việc áp dụng trong quản lý môi

trường ở Việt Nam

3.1.1 Thực trạng chính sách sử dụng các cơng cụ kinh tế áp dụng trong quản lý

môi trường ở nước ta

3.1.1.1 Thuế và phí mơi trường

- Thuế mơi trường

Luật thuế bảo vệ Mơi trường được Quốc hội khoá XII thông qua và ban

hành ngày 15 tháng 11 năm 2010 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 ngày 01

năm 2012. Luật thuế BVMT quy định cụ thể danh mục 8 nhóm đới tượng phnộp

thuế BVMT gồm: xăng, dầu, mỡ nhờn; than đá; dung dịch Hydor- cholorofluoro-carbon (HCFC); túi ni lông thuộc diện chịu thuế; thuốc diệt cỏ thuộc loại

hạn chế sử dụng; thuốc trừ mối thuộc loại hạn chế sử dụng; thuốc bảo quản lâm

sản thuộc loại hạn chế sử dụng; thuốc khử trùng kho thuộc loại hạn chế sử dụng.

Căn cứ tính thuế: là sớ lượng hàng hóa tính thuế và mức thuế tuyệt đới.

Phương pháp tính thuế: Sớ thuế bảo vệ môi trường phải nộp bằng số lượng đơn vị

hàng hóa chịu thuế nhân với mức thuế tuyệt đới quy định trên một đơn vị hàng hóa

Biểu khung thuế BVMT được áp dụng đới với từng nhóm hàng hóa với các

mức thuế tuyệt đối tối thiểu và mức thuế tuyệt đối tối đa được quy định

trong bảng 5. Các mức thuế tuyệt đối tối thiểu và tối đa được xây dựng

theo nguyên tắc phân biệt theo mức độ gây tác động xấu đến mơi trường hoặc chi

phí khắc phục hậu quả do sử dụng hàng hóa gây ra. Ngồi ra, Biểu khung thuế này

còn căn cứ vào mức thu hiện hành đới với phí BVMT. Cụ thể là, mức thu phí

BVMT đới với xăng, dầu đã được ban hành và triển khai thực hiện trước đó theo

Nghị định sớ 78/2000/NĐ-CP ngày 26 tháng 12 năm 2000 của Thủ tướng Chính

phủ về phí xăng, dầu. Theo Nghị định này, đới tượng chịu thuế là các tổ chức, cá

nhân kinh doanh xăng, dầu (như nhập khẩu, sản xuất, chế biến xăng dầu)

có nghĩa vụ kê khai, nộp phí theo quy định của pháp luật. Mức thu phí theo Nghị

định này, đới với xăng là 500 đồng/lít; đới với dầu diezel là 300 đồng/lít và dầu

hỏa, dầu mazut và dầu mỡ chưa bị thu phí.



42



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 1.2: Các công cụ kinh tế được áp dụng ở các nước OECD

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×