Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2 Một số công cụ kinh tế và vai trò của nó trong quản lý môi trường

2 Một số công cụ kinh tế và vai trò của nó trong quản lý môi trường

Tải bản đầy đủ - 0trang

NSNN thơng qua việc đưa chi phí mơi trường vào trong giá thành sản phẩm theo

nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền”.

* Thuế môi trường

Thuế môi trường (Environmental Tax) là một công cụ kinh tế để giải quyết

các vấn đề môi trường. Đây là khoản thu cho NSNN từ những đối tượng gây ô

nhiễm, làm thiệt hại cho mơi trường. Nó góp phần hạn chế, giảm thiểu các tác nhân

gây ơ nhiễm, suy thoái mơi trường, khuyến khích các hoạt động BVMT.

Thuế môi trường được thiết kế để nội hóa chi phí mơi trường và tạo ra động lực

kinh tế cho cá nhân, tổ chức thúc đẩy các hoạt động sinh thái bền vững.

Thuế môi trường thông thường đánh chủ yếu vào các chất gây ô nhiễm môi trường

hay các sản phẩm hàng hóa mà việc sản xuất, sử dụng chúng có tác động tiêu cực

đến mơi trường, gây ô nhiễm môi trường như: thuế đánh vào nguồn gây ô

nhiễm (thuế Sunfua, thuế CFCs, thuế CO2…) và thuế đánh vào các sản phẩm gây

ô nhiễm môi trường (thuế xăng, dầu, than, th́c bảo vệ thực vật…).

* Phí mơi trường

Phí mơi trường là khoản thu của NSNN dành cho hoạt động bảo vệ môi

trường như để thu gom và xử lý phế thải, nước thải, khắc phục ô nhiễm

môi trường.... Mục đích chính của việc thu phí mơi trường là hạn chế các tác nhân

gây ô nhiễm môi trường, ngăn ngừa việc xả các chất thải ra môi trường, mà các chất

thải này có khả năng xử lý được. Phí mơi trường buộc những người gây ơ nhiễm

mơi trường phải xử lý các chất thải trước khi thải ra môi trường hay hạn chế sử

dụng các nguồn nguyên liệu có nguy cơ gây ra ơ nhiễm, vì vậy cơng cụ này khuyến

khích các cơ sở sản xuất kinh doanh, những người gây ô nhiễm phải xử lý các chất

ô nhiễm trong nguồn thải trước khi thải ra môi trường. Phí mơi trường được tính

toán dựa trên lượng phát thải của chất ơ nhiễm và chi phí xử lý ơ nhiễm, khắc phục

ơ nhiễm...

Một sớ loại thuế/phí ơ nhiễm mơi trường phổ biến bao gồm: phí nước thải,

phí gây ơ nhiễm khơng khí, thuế cacbon, thuế sulphur, phí gây suy thoái tầng ôzôn,

thuế chôn lấp rác, thuế xăng dầu, thuế sử dụng khí gas, thuế mơi trường, gần đây là

việc áp dụng mới các loại thuế liên quan đến chất thải rắn (CTR), và tăng thuế suất

đối với thuế CTR. Đới với thuế đánh vào nguồn gây ơ nhiễm: có 2 loại thuế chủ yếu

được áp dụng ở các nước trên thế giới đó là thuế sulphur và thuế CO2.



20



1.2.2 Giấy phép xả thải

Giấy phép xả thải là loại giấy phép cấp cho các đơn vị sản xuất,

kinh doanh, dịch vụ, quy định mỗi một đơn vị cụ thể được phép xả thải đến một

mức độ nhất định phù hợp với tiêu chuẩn mơi trường tại khu vực đó. Việc phân phối

giấy phép xả thải thường dựa vào mức độ ô nhiễm hoặc hiện trạng tác động môi

trường của từng doanh nghiệp, đơn vị. Một số đơn vị, cơ sở sản xuất kinh doanh

muốn thải ra lượng thải lớn hơn lượng thải cho phép được quy định đối với đơn vị,

cơ sở đó và một sớ đơn vị, cơ sở sản



xuất kinh doanh có mức xả thải thấp hơn



lượng thải được phép xả theo qui định. Vì vậy, xuất hiện nhu cầu mua bán, trao đổi,

chuyển nhượng giấy phép xả thải giữa các đơn vị, cơ sở sản xuất kinh doanh trong

đó, người mua là các đơn vị cần giấy phép xả thải còn người bán là các đơn vị sở

hữu giấy phép xả thải và hình thành thị trường mua bán giấy phép xả thải. Thị

trường này vận hành theo quy luật cung cầu như các thị trường thông

thường khác, tuy nhiên hàng hóa giao dịch trên thị trường này đặc biệt hơn các thị

trường khác, đó là việc mua bán các chứng chỉ hay giấy phép mang một giá trị nhất

định với giá cả được định đoạt theo chủ quan, kỳ vọng và dự báo của các bên tham

gia giao dịch, hay nói cách khác, giá cả của giấy phép xả thải được quyết định trên

quan hệ cung cầu của thị trường. Thị trường mua bán, chuyển nhượng giấy phép xả

thải cho phép các đơn vị, cơ sở sản xuất kinh doanh lựa chọn các phương án là mua

thêm giấy phép xả thải để tiếp tục thải hay tìm cách cải thiện chất lượng mơi

trường bằng cách giảm thải, từ đó tạo ra động cơ khuyến khích các đơn vị, cơ sở

sản xuất kinh doanh, dịch vụ hạn chế hành vi gây ô nhiễm môi trường. Thông qua

việc mua bán trao đổi giấy phép xả thải chất lượng môi trường vẫn được đảm bảo

đồng thời cả người mua và người bán đều có lợi.

1.2.3. Ký quỹ mơi trường:

Ký quĩ/ trái phiếu mơi trường là khoản tài chính mà các doanh nghiệp, các

cơ sở sản xuất kinh doanh phải nộp/ đặt cọc tại các Ngân hàng hay các tổ chức tín

dụng trước khi tiến hành các hoạt động có thể gây ô nhiễm môi trường nhằm bảo

đảm cam kết về thực hiện các biện pháp để hạn chế ô nhiễm và suy thoái môi

trường. Số tiền ký quỹ phải lớn hơn hoặc xấp xỉ với kinh phí cần để khắc phục môi

trường nếu doanh nghiệp, các cơ sở kinh doanh gây ra ô nhiễm suy thoái môi

trường. Trong quá trình thực hiện đầu tư và sản xuất, nếu doanh nghiệp có các biện

pháp chủ động khắc phục khơng để xảy ra ô nhiễm, suy thoái môi trường đúng như

21



cam kết thì sớ tiền ký quỹ được hồn trả lại còn ngược lại nếu doanh nghiệp khơng

thực hiện đúng như cam kết hoặc phá sản thì sớ tiền đó được rút ra khỏi tài khoản

ngân hàng chi cho công tác khắc phục sự cố ô nhiễm.

Về cơ bản, cơ chế thực hiện của ký quĩ/ trái phiếu môi trường tương tự như

hệ thớng đặt cọc hồn trả, nhưng có sự can thiệp sâu của Nhà nước. Trong lĩnh vực

bảo vệ môi trường, việc qui định ký quỹ nhằm đảm bảo nghĩa vụ bảo vệ môi trường

đối với các đối tượng gây ô nhiễm môi trường do Nhà nước qui định bắt buộc. Nơi

ký quĩ do Nhà nước quy định cụ thể, thường là các ngân hàng thương mại,

kho bạc Nhà nước, nơi các đới tượng ký quĩ có tài khoản giao dịch.

Ký quỹ/ trái phiếu môi trường thường được áp dụng trong các ngành kinh tế

dễ gây ô nhiễm môi trường trầm trọng như: khai thác khoáng sản, xây dựng các nhà

máy tiềm ẩn mức độ ô nhiễm môi trường cao…và là công cụ kinh tế cần thiết trong

quản lý môi trường, tác động trực tiếp đến việc thực hiện trách nhiệm BVMT của

doanh nghiệp thơng qua việc khuyến khích họ tìm ra những biện pháp thích

hợp nhằm hạn chế ô nhiễm, suy thoái môi trường để nhận lại số tiền đã ký quỹ.

1.2.4. Bồi thường thiệt hại cho môi trường:

Bồi thường thiệt hại môi trường là công cụ kinh tế áp dụng đới với các tổ

chức, cá nhân có hành vi gây tổn hại đến môi trường được quy định trong pháp

luật. Theo TS. Vũ Thị Hạnh (2007), hiện nay, trên thế giới, tồn tại 2 quan điểm liên

quan đến bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm suy thoái môi trường (38).

Quan điểm thứ nhất, bồi thường thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi

trường chỉ bao gồm việc bồi thường do những hành vi gây ảnh hưởng đến chất

lượng môi trường (như môi trường đất, nước, không khí....)

Quan điểm thứ hai, bồi thường thiệt hại do ơ nhiễm, suy thoái môi trường

bao gồm cả việc bồi thường do những hành vi gây ảnh hưởng đến chất lượng môi

trường và những hành vi gây ảnh hưởng đến sức khỏe, thiệt hại về tài sản của cá

nhân. Thiệt hại đới với sức khoẻ và tính mạng con người do cơ thể hấp thu hoặc bị

tác động bởi các chất độc hại dẫn đến phát sinh các bệnh tật hoặc tổn thương khác.

Thiệt hại về tài sản như do tác động của ô nhiễm lên môi trường sống của hệ sinh

thái dẫn đến sự suy thoái, giảm năng suất cây trồng, vật nuôi, thoái hoá đất…

Tùy thuộc vào cách thức xác định thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật gây ô

nhiễm, suy thoái môi trường, các nước đều có quy định cụ thể về trách nhiệm bồi

thường; phương pháp xác định thiệt hại; cơ quan có thẩm quyền giải quyết; cơ chế,

22



trình tự, thủ tục giải quyết... Tuy nhiên, thực tế cho thấy rằng vấn đề xác định thiệt hại

do ô nhiễm là vấn đề không đơn giản ngay cả ở những nước phát triển, nhất là vấn đề

lượng hóa thiệt hại về mơi trường theo chức năng, tính hữu ích của mỗi thành

phần mơi trường khi bị ô nhiễm, suy thoái; thiệt hại về vật chất tính theo chi phí bị

mất, chi phí khắc phục hậu quả của thiệt hại, cải tạo môi trường...

1.2.5. Nhãn sinh thái

Tổ chức Tiêu chuẩn quốc tế (ISO) đưa ra khái niệm:“Nhãn sinh thái là sự

khẳng định, biểu thị thuộc tính mơi trường của sản phẩm hoặc dịch vụ có thể dưới

dạng một bản công bố, biểu tượng hoặc biểu đồ trên sản phẩm hoặc nhãn bao gói,

trong tài liệu về sản phẩm, tạp chí kỹ thuật, quảng cáo hoặc các hình thức khác”.

Đây là một dạng công cụ kinh tế thông qua việc khuyến khích tiêu dùng các

sản phẩm thân thiện với môi trường tác động đến nhà sản xuất trong việc thay đổi

quy trình cơng nghệ nhằm đáp ứng được các tiêu chí mơi trường, giảm thiểu các tác

động mơi trường, giảm tiêu thụ năng lượng, giảm sử dụng nguyên nhiên liệu đầu

vào.... Nhãn sinh thái khẳng định uy tín của sản phẩm và của nhà sản xuất, giúp cho

nhà sản xuất có thể tạo dựng hình ảnh và có vị thế trên thị trường vì những sản

phầm loại này thường có sức cạnh tranh cao và giá thành cũng cao hơn so với các

sản phẩm cùng loại khác.

Nhãn sinh thái ngày càng phổ biến trên tồn cầu, có khoảng hơn 40

chương trình nhãn sinh thái đã chính thức được công bố hoặc đang được

xây dựng. Năm 2003, ý tưởng này đã được Chính phủ các nước đưa ra thảo luận tại

Hội nghị thượng đỉnh Johannesburg về phát triển bền vững. Nhãn sinh thái đã thực

sự trở thành một hệ thớng tiêu chuẩn kỹ thuật mang tính bắt buộc, thớng nhất quốc

tế với mục tiêu đảm bảo quyền lợi chung của cộng đồng tồn thế giới, tạo nên mơi

trường sinh thái bền vững, nâng cao chất lượng cuộc sống thông qua việc cung cấp

đầy đủ các thông tin về đặc tính mơi trường của sản phẩm từ đó nâng cao nhận

thức thay đổi hành vi trong hoạt động bảo vệ môi trường của người tiêu dùng.

1.2.6. Các công cụ kinh tế khác

- Chi trả dịch vụ môi trường (chi trả dịch vụ sinh thái)

Chi trả dịch vụ môi trường (Payments for Environment Services-PES) hay

còn gọi là (Payments for Ecosystems Services-PES) chi trả dịch vụ sinh thái là

công cụ kinh tế sử dụng để những người được hưởng lợi từ các dịch vụ hệ sinh

thái chi trả cho những người tham gia duy trì, bảo vệ và phát triển các

23



chức năng của hệ sinh thái đó. Đây là cơ chế chuyển giao nguồn tài chính từ

những người được hưởng lợi từ dịch vụ sinh thái nhất định cho những

người cung cấp các dịch vụ sinh thái.

PES chia thành 4 loại chính: chi trả cho bảo vệ rừng đầu nguồn

(watershed protection); chi trả cho cảnh quan môi trường (landscape beauty); chi

trả cho bảo tồn đa dạng sinh học (biodiversity); chi trả cho hấp thụ cacbon

(carbon sequenstration).

Bảng 1.1. Các loại cơ chế chi trả cho dịch vụ môi trường

Cơ chế



Đặc điểm

Các khu rừng đầu nguồn cung cấp rất nhiều dịch vụ cho



Chi trả cho bảo vệ xã hội bao gồm kiểm soát xói mòn đất, duy trì chất lượng

rừng



đầu



nguồn



nước và điều chỉnh dòng chảy của nước. Những giá trị này



(watershed



có thể thu được thông qua nhiều cơ chế khác nhau như



protection)



thanh toán trực tiếp hay các loại phí sử dụng nước.

Du khách tới thăm những cảnh quan thiên nhiên đẹp/những



Chi trả cho cảnh khu bảo tồn, vườn quốc gia lưu trữ các giá trị cảnh quan và đa

quan



môi



trường dạng sinh học. Những giá trị này có thể thu được thơng qua



(landscape beauty)

phí vào cửa hoặc trả tiền cho quyền tiếp cận.

Chi trả cho bảo Người dân sẵn lòng chi trả cho việc duy trì và bảo tồn

tồn đa dạng sinh



đa dạng sinh học của thiên nhiên.



học(biodiversity)

Chi trả cho hấp Tài nguyên rừng có chức năng sinh thái quan trọng là hấp thụ

thụ



cacbon



cacbon. Nghị định thư Kyoto hạn chế lượng phát thải cacbon



(carbon



tạo ra thị trường mua bán giấy phép phát thải khí nhà



sequenstration)



kính thông qua Cơ chế Phát triển sạch (CDM).



Nguồn: Nguyễn Công Thành (2008)

- Đặt cọc hoàn trả

Đặt cọc hoàn trả là khoản phụ phí thêm vào trong giá thành sản phẩm có

khả năng gây ơ nhiễm mơi trường, người tiêu dùng các sản phẩm này phải trả

thêm một khoản tiền (đặt cọc) khi mua hàng nhằm đảm bảo cam kết sau khi tiêu

dùng sẽ đem sản phẩm đó (hoặc phần còn lại của sản phẩm đó) trả lại cho các đơn

vị thu gom phế thải hoặc tới những địa điểm đã quy định để tái chế, tái sử dụng

hoặc tiêu hủy theo cách an tồn đới với mơi trường. Nếu thực hiện đúng, người

tiêu dùng sẽ được nhận lại khoản đặt cọc do các tổ chức thu gom hồn trả lại.

24



Cơng cụ đặt cọc hồn trả và hệ thớng hồn trả lại nhà sản xuất (take back)

là công cụ hiệu quả trong việc tạo ra động cơ làm giảm phát sinh chất thải và tăng

cường tái chế, tái sử dụng.

Đặt cọc hoàn trả phổ biến ở các nước như Australia, Áo, Canada

(Quebec, New Brunswick, British Columbia), Séc, Đan Mạch, Phần Lan,

Hungary, Aixơlen, Ý, Hàn Quốc, Mehico, Hà Lan, Nauy, Ba Lan, Thuỵ Điển, Thổ

Nhĩ Kỳ, Hoa Kỳ…Hệ thống này phù hợp nhất đới với các sản phẩm có thể

tái chế, tái sử dụng. Áp dụng phổ biến đối với các bao bì (nhơm, thuỷ tinh,

nhựa), bao bì chứa th́c bảo vệ thực vật, vỏ ô tô, lốp và các thùng chứa axit v.v...

Đới với những cơng ty nước ngồi ḿn đưa sản phẩm của họ vào thị

trường nước Đức thì hoặc là phải nhận lại những bao bì và trả một mức phí thu

gom, vận chuyển cao hoặc là có thể giao cho một cơng ty nào đó của Đức đóng

gói sản phẩm với chi phí rất lớn.

Ưu điểm của hệ thớng đặt cọc hồn trả là tăng cường mục tiêu bảo vệ môi

trường, giảm thiểu vấn đề CTR và việc thải bỏ bằng biện pháp chôn lấp, nâng cao

tỷ lệ thu hồi của các chương trình tái chế. Tuy nhiên, các chi phí sẽ gia tăng đới

với người tiêu dùng cũng như nhà sản xuất.

1.3 Tình hình nghiên cứu và một số vấn đề liên quan đến kinh nghiệm sử dụng

các công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường của một số quốc gia trên thế

giới

1.3.1. Tình hình nghiên cứu

1.3.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Cho đến nay có một sớ nghiên cứu q́c tế và khu vực đề cập từng khía cạnh

khác nhau về sử dụng các CCKT trong BVMT, tác giả chỉ xin nêu một số cơng trình

liên quan mật thiết đến đề tài như: “Economic instruments in environmental policy and

law with a sort review of Serbia and Montenegro” của Assistant Professor Dragoljub todic,

PhD, Geoeconomics Faculty, Megatrend University of Applied Sciences,

Belgrade, Megatrend Review, vol 2(1) 2005; “Environmental Policy in Transition

Economies: The Effectiveness of Pollution Charges” của tác giả Patrik Suderholm Assistant Professor Division of Economics Lulea University of Technology;

“Applying market-based instruments to environmental policies in China and OECD

countries” của OECD (1999); Các nghiên cứu trên đều có điểm chung nêu rõ chi

phí ơ nhiễm được coi là một phần của chi phí sản xuất, đó đã là một quy tắc quốc tế

25



được chấp nhận ở các nước phát triển. Tuy nhiên, việc áp dụng các CCKT trong

thực tế đã bị giới hạn bởi các nước có nền kinh tế kém phát triển và khoa học công

nghệ chưa phát triển. Ngồi ra trong các phân tích đã liệt kê một số CCKT trong

BVMT chỉ được coi như là một hệ thớng pháp lý và chính trị của cộng đồng quốc tế

cũng như chưa nêu lên được cách tiếp cận cũng như phân tích thành tựu trong lĩnh

vực môi trường, áp dụng đồng bộ các CCKT trong BVMT.

Một cơng trình có giá trị tham khảo lớn đới với đề tài nghiên cứu đó là ćn

sách “Economic instrument in Environmental policy: Lessons from OECD,

experience and relevance to Economies in transition” của tác giả Jean-Philippe,

Barde Research programme on: Environmental Management in Developing

Countries, OECD (93)193, năm 1994. Đây là cuốn sách chứa nhiều nội dung lý luận

quan trọng và hiện đại về các CCKT trong BVMT của các nước OECD. Nội dung

của cuốn sách đề cập đến việc áp dụng các CCKT trong các chính sách mơi trường

của các nước thành viên OECD ngày càng được áp dụng một cách rộng rãi. Cuốn

sách đã chỉ ra rằng các nước đang phát triển cần phải học hỏi kinh nghiệm từ OECD

và việc áp dụng các CCKT trong BVMT thường phải đối mặt với những thách thức,

cũng như mở ra những cơ hội nhất định trong việc áp dụng các cơng cụ đó. Tác giả

cũng khẳng định, trong BVMT các nước OECD áp dụng nguyên tắc PPP, phát triển

và triển khai "công cụ chính sách" để thực hiện và thực thi chính sách về mơi

trường. Ćn sách này có giá trị tham khảo khi hoàn thiện các quy định của pháp

luật về áp dụng các CCKT trong BVMT ở Việt Nam. Bình luận về cơng cụ kinh tế

trong bảo vệ mơi trường còn được tìm thấy trong phát biểu của các nhà lãnh đạo các

nước tại các hội nghị, diễn đàn khu vực, gần đây như hội nghị các Bộ trưởng kinh

tế, các chuyên gia kinh tế và lãnh đạo khu vực. Cụ thể như: “Policy Instruments for

Environmental and Natural Resource Management” của tác giả Sterner T.2003; bài

viết “Environmental Taxes in Developing and Transition Economies” của Randall

A. Bluffstone, Department of Economics University of Redlands; bài viết

“Economic Valuation of the Environment: methods and case studies”, của tác giả

Garrod, G. and Willis, K.G.,1999, Edward Elgar, Cheltenham, UK. Những bài viết

này khẳng định thuế môi trường là thành phần trong bảo vệ môi trường và được

nhiều nước trên thế giới áp dụng trong quản lý BVMT. Ngồi ra những bài viết trên

cũng cung cấp một sớ ý kiến sơ bộ về tầm quan trọng của việc áp dụng thuế môi

trường ở các nước Châu Âu và nêu lên những kinh nghiệm của Châu Âu trong việc

26



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 Một số công cụ kinh tế và vai trò của nó trong quản lý môi trường

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×