Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
THỰC TRẠNG ÁP DỤNG CÁC CÔNG CỤ KINH TẾ VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ TRONG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM

THỰC TRẠNG ÁP DỤNG CÁC CÔNG CỤ KINH TẾ VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ TRONG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ - 0trang

Bảng 3.1. Mức thuế áp dụng đối với từng nhóm hàng hóa



Mức



thuế



Đơn vị (đồng/1 đơn



TT



Hàng hóa



I



Xăng, dầu, mỡ nhờn



1



tính



vị hàng hóa)



Xăng, trừ etanol



Lít



1.000-4.000



2



Nhiên liệu bay



Lít



1.000-3.000



3



Dầu diezel



Lít



500-2.000



4



Dầu hỏa



Lít



300-2.000



5



Dầu mazut



Lít



300-2.000



6



Dầu nhờn



Lít



300-2.000



7



Mỡ nhờn



kg



300-2.000



II



Than đá



1



Than nâu



Tấn



10.000-30.000



2



Than an-tra-xít (antraxit)



Tấn



20.000-50.000



3



Than mỡ



Tấn



10.000-30.000



4



Than đá khác



Tấn



10.000-30.000



III



Dung



dịch



Hydro-chloro-fluoro-carbon kg



1.000-5.000



(HCFC)

IV



Túi ni lơng thuộc diện chịu thuế



kg



30.000-50.000



V



Thuốc diệt cỏ thuộc loại hạn chế sử dụng



kg



500-2.000



VI



Thuốc trừ mối thuộc loại hạn chế sử dụng



kg



1.000-3.000



VII



Thuốc bảo quản lâm sản thuộc loại hạn chế kg



1.000-3.000



sử dụng

VIII Thuốc khử trùng kho thuộc loại hạn chế sử kg



1.000-3.000



dụng

Nguồn: Luật số 57/2010/QH12 của Quốc hội ngày 15 tháng 12 năm 2010 về thuế bảo vệ

mơi trường



- Phí mơi trường

Phí bảo vệ môi trường đánh vào chủ thể gây ô nhiễm nhằm mục đích thúc

đẩy các đới tượng gây ơ nhiễm giảm thiểu khối lượng chất ô nhiễm thải ra và đóng

góp một phần tài chính vào việc xử lý ô nhiễm môi trường. Hiện nay, trong lĩnh vực

43



môi trường đã thực hiện thu phí BVMT đới với nước thải, chất thải rắn và phí

BVMT đới với khai thác khoáng sản.

Ở Việt Nam, ngày 13/6/2003 Chính Phủ đã ban hành Nghị định sớ

67/2003/NĐ - CP về thu phí BVMT đới với nước thải. Bộ Tài chính – Bộ Tài

nguyên và Môi trường cũng đã ban hành Thông tư liên tịch số 125/2003/TTLTBTC-BTN&MT ngày 18/12/2003 hướng dẫn thực hiện Nghị định sớ 67/2003/NĐCP ngày 13/06/2003 của Chính phủ về phí BVMT đới với nước thải. Ngày

29/3/2012, Chính phủ ban hành Nghị định số 25/2013/NĐ – CP thay thế Nghị định

67/2003/NĐ – CP (có hiệu lực 1/7/2013)

Phí BVMT đối với nước thải sinh hoạt

Việc thu phí nước thải sinh hoạt đã được thực hiện vào thời gian đầu năm

2004 nhưng quá trình thực hiện còn gặp nhiều khó khăn. Trước khi Nghị định

88/2007/NĐ-CP ra đời, việc thu phí nước thải sinh hoạt gặp nhiều khó khăn trong

cách thu cũng như quản lý số tiền thu được. Tuy nhiên sau khi ban hành Nghị định

88/2007/NĐ-CP, việc thu phí nước thải sinh hoạt đã đạt nhiều thành tựu đáng kể, tỷ

lệ thu phí nước thải đạt cao, đặc biệt là các thành phố lớn trong cả nước, tỷ lệ đạt

trên 85%[107, năm 2009]. Đây là một Nghị định quan trọng góp phần thành cơng

trong việc thu và quản lý phí nước thải sinh hoạt hiện nay, góp phần thực hiện tớt

quá trình kinh tế hóa trong lĩnh vực nước (nước thải), cụ thể là nước thải sinh hoạt.

Sớ phí nước thải sinh hoạt thu được lên đến 90%, đặc biệt mức thu cao nhất trong

cả nước là Tp. Hồ Chí Minh, Hải Phòng và một sớ thành phớ lớn khác[113].

Do phương pháp thu phí quy định đã phát huy được những kết quả nước

thải sinh hoạt thu từ đối tượng sử dụng nước sạch qua hóa đơn sử dụng nước, cơng

ty cấp nước là đơn vị chịu trách nhiệm tổ chức thu phí BVMT. Theo Tổng cơng ty

cấp nước Sài Gòn, từ khi áp dụng thu phí nước thải sinh hoạt năm 2004 đến nay,

công ty đã thu, nộp ngân sách gần 560 tỷ đồng, trong đó gần 100% sớ hộ dân sử

dụng nước đóng tiền đầy đủ, góp phần cải thiện mơi trường nước. Theo đó mức thu

phí nước thải sinh hoạt hàng năm sẽ điều chỉnh tăng từ đầu năm tới mức thu năm

2008 tăng cao hơn. Cụ thể mức thu phí tính theo mỗi m3 thứ tự theo các năm 2008

– 2009 - 2010 là: đới với hộ gia đình sử dụng nước sinh hoạt trong định mức 4m3/

người/ tháng đóng phí 300 – 350 – 400 đồng. Vượt định mức 600 – 700 – 800 đồng;

nước phục vụ sản xuất đóng phí 700 – 800 – 900 đồng. Từ năm 2009 – 2010, áp

dụng mức thu 650đ/m3 nước sử dụng đới với đới tượng hộ gia đình sử dụng nước

44



sinh hoạt trong định mức; thu 950đ/m3 nước sử dụng đối với nước sinh hoạt sử

dụng vượt định mức và đối tượng khác. Theo tính toán của UBND Tp. Hồ Chí

Minh, nếu áp dụng mức thu phí như đề xuất, tổng thu phí nước hộ gia đình sử dụng

sinh hoạt trong năm 2008 là 107,3 tỉ đồng (tổng mức thu tất cả các đối tượng năm

2007 là 97,07 tỉ đồng), năm 2009 là 140,28 tỉ đồng và năm 2010 là 166,29 tỉ đồng.

Tương ứng các năm 2008 – 2009 – 2010, tổng thu phí nước phục vụ sản xuất là

45,28 – 57,99 – 67,66 tỉ đồng; tổng thu phí nước kinh doanh dịch vụ là 21,69 –

38,38 – 53,07 tỉ đồng và tổng thu phí nước phục vụ các cơ quan hành chính sự nghiệp

là 15,98 – 20,89 – 24,77 tỉ đồng. Áp dụng mức phí mới, tổng sớ phí BVMT đối với

nước thải sinh hoạt thu được từ Tổng công ty cấp nước Sài gòn và Trung tâm nước sinh

hoạt vệ sinh môi trường nông thôn trong năm 2011 là 228.354.003.241 VND và từ

1/08/2004 đến năm 2011 là 997.108.440.122 VND [100].

Phí BVMT đối với nước thải cơng nghiệp

Mặc dù quy định về việc thu phí nước thải cơng nghiệp được Nhà nước ban

hành Nghị định 67/2003/NĐ-CP và có hiệu lực từ ngày 1/1/2004 nhưng trong quá

trình thực hiện gặp nhiều khó khăn, vì thế hiệu quả thu phí nước thải cơng nghiệp

còn rất thấp, các nhà quản lý còn lúng túng trong cách thu và tính phí, các DN tìm

cách trớn tránh và nợ phí.

Ngày 18 tháng 12 năm 2003, Bộ Tài chính và Bộ TN&MT đã ban hành

Thơng tư liên tịch số 125/2003/TTLT-BTC-BTNMT hướng dẫn thực hiện Nghị định

số 67/2003/NĐ-CP. Ngày 06/09/2007, Bộ Tài chính và Bộ TN&MT ban hành

Thông tư liên tịch số 126/2007/TTLT-BTC-BTNMT. Thông tư xác định rõ đới

tượng cần nộp phí cũng như các mức phí cụ thể áp dụng với từng loại môi trường

tiếp nhận,cách tính phí, kê khai, thẩm định. Mức phí: Mức thu phí BVMT đới với

nước thải cơng nghiệp tính theo từng chất gây ơ nhiễm có trong nước thải quy định

trong Bảng 3.2.

Nghị định 25/2013/NĐ-CP có một sớ điểm mới cơ bản như sau: (1)bổ sung

vào đới tượng khơng chịu phí: nước làm mát thiết bị, máy móc khơng tiếp xúc với

chất gây ô nhiễm trước khi thải ra môi trường và nước mưa tự nhiên chảy tràn;

(2)xác định rõ về trường hợp các DN sản xuất có sử dụng nước từ đơn vị cung cấp

nước sạch thì chỉ phải nộp phí BVMT đới với nước thải cơng nghiệp (khơng phải

nộp phí BVMT đới với nước thải sinh hoạt trên hoá đơn tiền nước); (3)thay đổi cách

tính và mức phí đới với nước thải cơng nghiệp.

45



Bảng 3.2: Mức phí BVMT đối với nước thải cơng nghiệp

STT



Chất gây ơ nhiễm



Mức thu



có trong nước thải

Tên gọi







(đồng/kg chất gây ơ nhiễm có trong nước thải)

Môi

Môi trường Môi trường Môi trường



hiệu



trường tiếp tiếp nhận B



tiếp nhận C



tiếp nhận D



200



100



nhận A

1



Nhu cầu ơxy hóa học

(Chemical



300



oxygen ACOD



250



2



demand)

Chất rắn lơ lửng



3



(Suspende d solids)

Thủy ngân



ATSS

AHg



400

350

20.000.000 18.000.000



300

15.000.000



200

10.000.000



4



(Mercury)

Chì



APb



500.000



450.000



400.000



300.000



5

6



(Lead)

Arsenic

Cadmium



AAs

ACd



1.000.000

1.000.000



900.000

900.000



800.000

800.000



600.000

600.000



Nguồn: Báo cáo tổng kết Bộ tài ngun mơi trường (2011)

Bảng 3.3: Tình hình thu phí nước thải tại một vài địa phương (triệu đồng)

STT Tỉnh/Thành phố

1

2

3

4

5

6

7

8



Hà Nội

Bình Dương

Đồng Nai

TP. Hồ Chí Minh

Quảng Ninh

Thái Ngun

Thừa Thiên Huế

Hải Dương



Ngày bắt đầu có Tổng phí thu được

hiệu lực



năm 2004



01/05/2004

01/01/2004

01/01/2004

01/01/2004

01/01/2004

02/03/2004

01/01/2005

01/01/2005



0

800

1730

290

983

395

0

0



Nguồn: Bộ tài nguyên và môi trường (2008)

Theo thống kê của Bộ TN&MT, trước năm 2008 tỷ lệ thu phí nước thải

cơng nghiệp trên cả nước đạt từ 15% đến 20%. Theo Báo cáo sơ bộ của Cục

Kiểm soát ơ nhiễm thuộc Tổng cục Mơi trường, lượng phí nước thải thu được,

được chuyển về TW (Quỹ BVMT Việt Nam) đã được 3 lần với tổng số khoảng

40,76 tỷ đồng, Cụ thể:

Bảng 3.4: Tổng nguồn thu từ phí nước thải được chuyển về Quỹ BVMT

Năm



Tổng lượng phí được chuyển về Trung ương

(Quỹ BVMT Việt Nam) (đơn vị: đồng)



2006



475.487.372

46



16/10/2008



25.842.365.973



23/12/2008



14.442.976.728



Nguồn: Bộ tài ngun và mơi trường (2008)

Phí bảo vệ mơi trường đối với chất thải rắn

Phí BVMT đới với CTR được triển khai thực hiện bắt đầu từ năm 2007 và

được quy định cụ thể trong các văn bản sau:

- Nghị định sớ 174/2007/NĐ-CP của Chính phủ ngày 29 tháng 11 năm

2007 về phí bảo vệ mơi trường đới với chất thải rắn;

- Thông tư số 39/2008/TT-BTC ngày 9 tháng 5 năm 2008 của Bộ Tài

chính về hướng dẫn thực hiện Nghị định sớ 174/2007/NĐ-CP.

Theo đó, đới tượng chịu phí BVMT là chất thải rắn thông thường và chất thải rắn

nguy hại được thải ra từ quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ hoặc các hoạt động

khác (trừ chất thải rắn thông thường phát thải trong sinh hoạt của cá nhân, hộ gia đình).

Mức phí BVMT đới với chất thải rắn thông thường phát thải từ hoạt động của cơ quan,

cơ sở kinh doanh, dịch vụ, cơ sở sản xuất công nghiệp, làng nghề dưới 40.000 đồng/

tấn; đối với chất thải rắn nguy hại dưới 6.000.0000 đồng/tấn.

Phí BVMT đới với chất thải rắn là khoản thu thuộc ngân sách Nhà

nước, được quản lý, sử dụng như sau:

- Để lại một phần sớ phí thu được cho cơ quan, đơn vị trực tiếp thu phí để

trang trải chi phí cho việc thu phí;

- Phần còn lại là khoản thu ngân sách địa phương hưởng 100% để chi

dùng cho các nội dung sau đây: chi phí cho việc xử lý chất thải rắn đảm bảo tiêu

chuẩn môi trường, hỗ trợ cho việc phân loại chất thải rắn, đầu tư xây dựng các

bãi chơn lấp, cơng trình xử lý chất thải rắn, sử dụng công nghệ tái chế, tái sử

dụng, xử lý và tiêu hủy chất thải rắn.

Căn cứ vào các quy định của pháp luật và điều kiện thực tế về xử lý, tiêu

hủy CTR ở địa phương, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương

sẽ xây dựng mức thu phí áp dụng đới với từng loại CTR ở từng địa bàn, từng

loại đới tượng nộp phí tại địa phương và xác định việc quản lý, sử dụng tiền phí

cho phù hợp để trình Hội đồng nhân dân tỉnh quyết định. Sớ phí thu được một

phần để lại cho cơ quan, đơn vị trực tiếp thu phí để trang trải chi phí cho việc

thu phí; phần còn lại do ngân sách địa phương hưởng 100% để chi phí cho việc

xử lý CTR đảm bảo tiêu chuẩn môi trường như: đớt, khử khuẩn, trung hóa, chơn

47



lấp hợp vệ sinh...; chi hỗ trợ cho việc phân loại CTR, bao gồm cả hoạt động

tuyên truyền, phổ biến nâng cao nhận thức của nhân dân trong việc phân loại

CTR ngay tại nguồn; chi hỗ trợ đầu tư xây dựng các bãi chôn lấp, cơng trình xử

lý CTR, sử dụng cơng nghệ tái chế, tái sử dụng, xử lý và tiêu hủy CTR.

Phí bảo vệ mơi trường đối với hoạt động khai thác khống sản

Hoạt động khai thác khoáng sản là hoạt động vừa tác động trực tiếp đến

nguồn tài nguyên khoáng sản vì làm suy giảm trữ lượng tài nguyên vừa ảnh hưởng

trực tiếp nặng nề đến đất, nước, môi sinh, môi trường tại khu vực diễn ra hoạt động

khai thác khoáng sản. Đây chính là hoạt động làm phát sinh các tác động xấu đới

với mơi trường. Chính vì vậy, chủ thể tiến hành khai thác khoáng sản trở thành đối

tượng nộp phí BVMT theo Điều 113 Luật Bảo vệ mơi trường năm 2005: “Tổ chức

cá nhân xả thải ra môi trường hoặc có hoạt động làm phát sinh nguồn tác động

xấu đối với mơi trường phải nộp phí BVMT”. Nhằm thể chế hóa quy định trên,

Chính phủ ban hành Nghị định sớ 74/2011/NĐ-CP ngày 25/8/2011 về phí BVMT

đới với khai thác khoáng sản và Bộ Tài chính ban hành Thơng tư số 158/2011/TTBTC ngày 16/11/2011 hướng dẫn thực hiện Nghị định sớ 74/2011/NĐ-CP của

Chính phủ.

3.1.1.2. Giấy phép xả thải

Giấy phép xả thải có thể chuyển nhượng được áp dụng ở Việt Nam chủyếu

đới với mơi trường khơng khí và được thể hiện trong văn bản sau:

Quyết định số 130/2007/QĐ-TTg ngày 02 tháng 8 năm 2007 của Thủ

tướng Chính phủ về một sớ cơ chế, chính sách tài chính đới với dự án đầu tư theo

cơ chế phát triển sạch.

Thực tế cho thấy, để được hưởng những ưu đãi, nhà đầu tư dự án CDM gặp rất

nhiều khó khăn. Những khó khăn này xuất phát từ quy định của pháp luật. Ví dụ như

Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp không quy định việc hưởng ưu đãi thuế thu nhập

doanh nghiệp cho các dự án CDM và do vậy, nhà đầu tư không được hưởng

những ưu đãi theo quy định của Quyết định số 130/2007/QĐ-TTg.

Thủ tục được hưởng những ưu đãi rất phức tạp. Đối với các nhà đầu tư công

nghệ vào Việt Nam để thực hiện các dự án cơ chế phát triển sạch (CDM) thì cơ chế tự

động áp dụng cho việc hưởng ưu đãi khơng có, hướng dẫn cụ thể về việc hưởng ưu đãi

cũng chưa có. Tất cả những khó khăn nêu trên đã dẫn đến việc các dự án CDM ở

Việt Nam kém hấp dẫn và cạnh tranh hơn so với các q́c gia khác.

48



Ngồi ra một khó khăn mà Việt Nam cũng gặp phải khi tiếp cận các dự án

CDM là thiếu chỉ tiêu phát thải nền khí nhà kính (CO2 - một trong các loại khí do

hoạt động của con người phát thải vào khí quyển, gây biến đổi bất thường của khí

hậu thời gian gần đây), cơ sở để các doanh nghiệp so sánh khi xây dựng dự án

giảm phát thải nhằm nhận được hỗ trợ tài chính từ các nước phát triển.

Việc tính toán phát thải nền để xác định mức giảm phát thải CO2 và các khí

nhà kính khác khi xây dựng các dự án CDM cho nhiều lĩnh vực rất khó khăn, và

khó thuyết phục các cơ quan trọng tài q́c tế.

Chỉ trên cơ sở tính toán mức phát thải nền có cơ sở khoa học và được công

nhận, các doanh nghiệp mới tính toán được mức giảm phát thải khí nhà kính mà họ

phấn đấu so với mức nền.

Hiện nay việc mua bán, trao đổi CERs tại Việt Nam đã bắt đầu được

quan tâm nhưng vẫn chậm phát triển do những bất cập của việc thực hiện CDM như

rào cản về thủ tục hành chính, khó tiếp cận các ưu đãi, và thiếu chỉ tiêu phát thải

nền,v.v.. cũng như thiếu kinh nghiệm, linh hoạt trong thị trường CERs.

Lần đầu tiên tại Việt Nam, 350.000 chứng nhận giảm phát thải (CERs)

của dự án thu hồi và sử dụng khí đồng hành mỏ Rạng Đông, tỉnh Bà Rịa-Vũng

Tàu đã được mang ra đấu giá tại Hà Nội trong tháng 5/2010, giá 1 CERs

Rạng Đơng đạt 13,5 euro đã bán cho Tập đồn Dầu khí Năng lượng Mercuria.

Tính đến ngày 31/10/2012, Việt Nam có 160 dự án được EB công nhận là

dự án CDM với tổng lượng khí nhà kính được giảm khoảng 76 triệu tấn CO2 trong

thời kỳ tín dụng và 4 chương trình hoạt động (PoA) được EB cơng nhận.

Việt Nam là nước đứng thứ tư trên thế giới về số dự án áp dụng CDM được

EB cơng nhận đăng kí sau Trung Quốc, Ấn Độ và Bra-xin, chiếm 3,18% trong tổng

số 4920 dự án trên toàn thế giới.Với 7203167 CERs được EB cấp, Việt Nam đứng

thứ 9 trên thế giới về số lượng CERs đã được EB cấp và xếp thứ 2 về số lượng

PoA.

Bảng 3.5. Danh sách các PoA ở Việt Nam được EB cơng nhận



49



Hình 3.1. Số dự án được đăng kí tính theo nước chủ nhà (4920 dự án)

(tính đến 31/10/2012)

Nguồn: http:\\ cdm.unfcccint



Tính đến hết tháng 10/2012, trong tổng số 160 dự án CDM được EB công

nhận, các dự án về năng lượng chiếm tỷ trọng cao nhất với 85.89%, tiếp đến là các

dự án xử lý và loại bỏ rác thải 11.87%, sau cùng chỉ có 01 dự án thuộc lĩnh vực

công nghiệp chế tạo, phát thải từ nhiên liệu rắn, dầu và khí, trồng rừng và tái trồng

rừng và nông nghiệp.

Thị trường CDM trên thế giới đang hoạt động khá mạnh mẽ nhưng đối với

Việt Nam hình thức mua bán CERs này còn mới nên giá thành các CERs còn khá

rẻ và tính rủi ro cũng rất cao. Một thực tế mà doanh nghiệp Việt Nam cần tính đến

là, khi các q́c gia phát triển đã thu đủ hạn ngạch (quota) khí thải, họ sẽ khơng

mặn mà mua thêm. Lúc đó, giá giao dịch CERs trên thị trường thứ cấp (thị trường

giao dịch của các nước phát triển) sẽ thấp, dẫn tới giá bán CERs tại thị trường sơ

cấp như Việt Nam cũng giảm theo.

3.1.1.3. Ký quỹ môi trường

Theo Điều 360 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “Ký quỹ được hiểu là

việc bên có nghĩa vụ gửi một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có

giá khác vào tài khoản phong toả tại một Ngân hàng để bảo đảm thực hiện nghĩa

vụ dân sự”.

50



Trong lĩnh vực môi trường, ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường trong hoạt

động khai thác tài nguyên là một trong những CCKT hữu hiệu để quản lý và

BVMT. Ký quỹ để phục hồi môi trường được quy định lần đầu tiên trong Luật

Khoáng sản, Điều 114 Luật BVMT năm 2005, Khoản 2 Điều 2 Quyết định

18/2013/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 29/3/ 2013 về cải tạo, phục hồi

môi trường và ký quỹ phục hồi môi trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản.

Theo đó, “ký quỹ cải tạo, phục hồi mơi trường trong hoạt động khai thác hoáng sản

là việc tổ chức, cá nhân được phép khai thác khoáng sản nộp một khoản tiền vào

Quỹ BVMT Việt Nam hoặc Quỹ BVMT của địa phương để đảm bảo công tác cải

tạo, phục hồi môi trường” [92, Điều 2].

Việc quy định ký quỹ để đảm bảo việc BVMT đới với các đới tượng có hoạt

động khai thác tài nguyên thiên nhiên mang tính chất bắt buộc. Tất cả các đới tượng

có hoạt động khai thác tài nguyên thiên nhiên đều có nghĩa vụ ký quỹ để đảm bảo

nghĩa vụ BVMT. Vì vậy, khoản 1 Điều 114 Luật BVMT năm 2005 quy định: “Tổ

chức, cá nhân khai thác tài nguyên thiên nhiên phải thực hiện ký quỹ cải tạo, phục

hồi môi trường”.

Tổng số tiền ký quỹ tùy thuộc vào phương án cải tạo, phục hồi môi trường

được lựa chọn, tổng dự toán cải tạo, phục hồi mơi trường (M cp) bằng tổng các chi

phí thực hiện các hạng mục chính dưới đây: [92, Điều 8]

Mcp = Mkt + Mbt + Mcn + Mxq + Mhc + Mk

Trong đó:

Mkt: Chi phí cải tạo, phục hồi mơi trường khai trường khai thác, bao gồm các

chi phí: san lấp, củng cố bờ moong trong tầng đất phủ, trong tầng đất, đá; xây dựng

kè hoặc đê bao, lập hàng rào, biển báo kiên cố xung quanh; trồng cây xung quanh

và khu vực khai trường; xây dựng các cơng trình thoát nước, xử lý nước; san gạt,

phủ đất màu; đối với mỏ khai thác hầm lò, chi phí lấp kín cửa đường lò, các lò

nhánh (nếu cần thiết) theo quy phạm khai thác hầm lò; lu lèn chớng thấm và xây

dựng hệ thớng ngăn ngừa, xử lý dòng thải axit mỏ đối với các mỏ khai thác khoáng

vật sulfua và các mỏ có tính phóng xạ; tái tạo thảm thực vật, hệ sinh thái,...;

Mbt: Chi phí cải tạo, phục hồi mơi trường khu vực bãi thải đất đá, bãi thải

quặng, bao gồm các chi phí: san lấp mặt bằng, cắt tầng đảm bảo các yêu cầu an

toàn; xây dựng đê, kè chân tầng để đảm bảo an toàn, tránh trượt lở chân bãi thải;

xây dựng hệ thống thu gom nước trên mặt tầng và chân tầng; xử lý nước từ bãi thải

51



trước khi xả ra môi trường; lu lèn, chống thấm và xây dựng hệ thớng ngăn ngừa, xử

lý dòng thải axit mỏ đối với các mỏ khai thác khoáng vật sulfua và các mỏ có tính

phóng xạ; trồng cây trên mặt tầng, sườn tầng các bãi thải,...;

Mcn: Chi phí cải tạo, phục hồi môi trường mặt bằng sân công nghiệp, khu vực

phân loại, làm giàu, khu vực phụ trợ, bao gồm các chi phí: tháo dỡ các cơng trình,

thiết bị trên mặt bằng và vận chuyển đến nơi lưu chứa; xử lý chất thải và khu vực bị

ô nhiễm; san gạt tạo mặt bằng, phủ đất màu, trồng cây; xây dựng hệ thống thu gom,

thoát nước; tái tạo thảm thực vật, hệ sinh thái,...;

Mxq: Chi phí cải tạo, phục hồi mơi trường khu vực ngồi biên giới mỏ nơi bị

ảnh hưởng do hoạt động khai thác, bao gồm các chi phí: khắc phục suy thoái và

phục hồi mơi trường, nạo vét, khơi thơng các dòng śi, sơng; duy tu, bảo dưỡng

các tuyến đường vận chuyển; trồng cây tái tạo lại hệ sinh thái, thảm thực vật tại các

khu vực xung quanh mỏ,...;

Mhc: Chi phí hành chính phục vụ cho cơng tác cải tạo, phục hồi mơi trường,

chi phí thiết kế, thẩm định thiết kế; chi phí dự phòng do phát sinh khới lượng, do

trượt giá; chi phí vận hành hệ thớng xử lý nước thải; chi phí duy tu, bảo trì các cơng

trình cải tạo, phục hồi mơi trường sau khi kết thúc hoạt động cải tạo, phục hồi môi

trường (được tính bằng 10% tổng chi phí cải tạo, phục hồi mơi trường),...

Mk: Những khoản chi phí khác.

Về nội dung của biện pháp ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường trong hoạt

động khai thác khoáng sản, theo quy định tại khoản 1 Điều 114 Luật BVMT năm

2005 thì:

- Trước khi tiến hành khai thác tài nguyên thiên nhiên, các tổ chức, cá nhân

phải thực hiện việc ký quỹ tại tổ chức tín dụng trong nước hoặc Quỹ BVMT địa

phương nơi có khai thác tài nguyên thiên nhiên.

- Trong quá trình thực hiện khai thác tài nguyên thiên nhiên, nếu các chủ thể

có các biện pháp chủ động ngăn chặn, khắc phục, không để xảy ra ô nhiễm hoặc suy

thoái mơi trường, hồn ngun mơi trường đúng như cam kết thì sau khi kết thúc

quá trình khai thác họ sẽ nhận lại sớ tiền đã ký quỹ đó cộng với sớ khoản lãi phát

sinh từ sớ tiền ký quỹ đó trong thời hạn ký quỹ theo sự thoả thuận giữa bên ký quỹ

(tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên thiên nhiên) với bên nhận ký quỹ (tổ chức tín

dụng hoặc Quỹ BVMT địa phương) hoặc theo quy định của pháp luật. Ngược lại,

nếu bên ký quỹ không thực hiện đúng cam kết cải tạo phục hồi mơi trường thì tồn

52



bộ hoặc một phần sớ tiền ký quỹ được sử dụng để cải tạo, phục hồi môi trường nơi

các chủ thể đó khai thác.

Mục đích chính của việc ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường trong hoạt động

khai thác khoáng sản là để đảm bảo tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản thực hiện

việc cải tạo, phục hồi môi trường theo quy định của pháp luật.

Từ những phân tích trên cho thấy ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường trong

hoạt động khai thác khoáng sản – với tư cách là một CCKT trong quản lý và BVMT

có những ưu điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, ký quỹ cải tạo phục hồi môi trường trong hoạt động khai thác

khoáng sản đảm bảo việc tái tạo, hồn ngun mơi trường. Điều này xuất phát từ

nội dung của biện pháp ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường trong hoạt động khai

thác khoảng sản là buộc các chủ thể có hoạt động khai thác khoáng sản trước khi

tiến hành khai thác phải nộp một khoản tiền vào Quỹ BVMT Việt Nam hoặc Quỹ

BVMT của địa phương để đảm bảo công tác cải tạo, phục hồi môi trường. Bởi lẽ chỉ

thông qua một lợi ích vật chất mới có thể bảo đảm được một lợi ích vật chất. Mặt

khác, bản thân quy định về ký quỹ đảm bảo việc sử dụng số tiền để phục hồi, hồn

ngun mơi trường đúng mục đích, đúng thời điểm.

Thứ hai, ký quỹ cải tạo, phục hồi mơi trường trong hoạt động khai thác

khoáng sản khuyến khích các đối tượng khai thác khoáng sản không để ô nhiễm

môi trường trước và trong khi tiến hành khai thác khoáng sản. Vì mức tiền ký quỹ

cải tạo, phục hồi môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản thường được xác

định căn cứ vào chi phí phục hồi mơi trường nêu trong báo cáo đánh giá tác động

môi trường. Nếu đới tượng có hoạt động khai thác khoáng sản mà khắc phục được

ngay trong quá trình khai thác của mình thì sớ tiền phục hồi sẽ giảm, thậm chí

khơng mất chi phí.

Thứ ba, ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường trong hoạt động khai thác

khoáng sản tạo ra lợi ích cho Nhà nước và bản thân các tổ chức, cá nhân khai thác

tài nguyên thiên nhiên. Trước tiên về phiá Nhà nước, việc bắt buộc các chủ thể có

hoạt động khai thác khoáng sản phải ký quỹ cải tạo, phục hồi mơi trường tạo ra lợi

ích cho Nhà nước vì khơng phải đầu tư kinh phí khắc phục mơi trường từ ngân sách,

từ đó có nguồn tài chính để đầu tư cho các lĩnh vực khác nhằm thúc đẩy tăng trưởng

kinh tế của đất nước. Đối với các tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản sẽ có lợi do

lấy lại được vốn khi không để xảy ra ô nhiễm hoặc suy thoái môi trường.

53



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

THỰC TRẠNG ÁP DỤNG CÁC CÔNG CỤ KINH TẾ VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ TRONG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×