Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

Tải bản đầy đủ - 0trang

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài.

Theo thời gian, con người đã nhận thức rằng mơi trường đóng vai trò đặc biệt

quan trọng đới với đời sớng con người và sự phát triển bền vững về kinh tế, văn hoáxã hội của đất nước. Môi trường tập hợp những điều kiện tự nhiên và xã hội mà trong

đó có con người, sinh vật tồn tại, phát triển, hiện môi trường đang là mối quan tâm

bức xúc của nhân loại và trở thành vấn đề toàn cầu. Cùng với quá tình tăng trưởng

nhanh chóng của nền kinh tế tồn cầu là sự suy thoái môi trường. Những tác động

của môi trường tự nhiên như, hạn hán, lụt lội, sạt lở đất, bão tớ, lớc xoáy, sóng thần

… đã và đang đặt con người trước những thảm họa khơn lường. Chính vì vậy, bảo vệ

mơi trường nhằm hướng tới phát triển bền vững ngày càng thu hút sự quan tâm của

các nước và đã trở thành mục tiêu của thiên niên kỷ.

Việt Nam tiến hành quá trình Cơng nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước đồng

thời với quá trình mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế nên bên cạnh những thành quả

đạt được về kinh tế là sự xuống cấp về nơi trường. Cùng với việc hình thành ngày

càng nhiều các khu công nghiệp, cụm điểm công nghiệp, khu chế xuất là quá trình

gia tăng chất thải. Cùng với việc đẩy mạnh xuất, nhập khẩu là sự cạn kiệt về tài

nguyên và sự nhập khẩu công nghệ lạc hậu, hang hóa kém chất lượng phế thải… Sự

x́ng cấp của môi trường đang trở thành vấn đề bức xúc và tạo ra nguy cơ phát

triển “chệch hướng bền vững” của nước ta.

Để kết hợp hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường, bên cạnh

những nổ lực của tồn dân, của cộng đồng doanh nghiệp, thì vai trò quan trọng nhất

thuộc về nhà nước. Trước thực tế đó, Đảng và Chính phủ nước ta đã ban hành nhiều

chủ trương, chính sách quan trọng như: Nghị quyết sớ 41/NQ-TW ngày 15 tháng 11

năm 2004 của Bộ chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh cơng nghiệp

hóa, hiện đại hóa đất nước; Luật bảo vệ môi trường năm 1995 và sửa đổi năm 2005;

Quyết định số 1216/QĐ-TTg ngày 05 tháng 9 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ về

phê duyệt Chiến lược Bảo vệ mơi trường q́c gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm

2030 và nhiều văn bản khác.

Trong các công cụ quản lý nhà nước về mơi trường như biện pháp hành chính,

thanh tra, kiểm tra, giám sát,tuyên truyền ,giáo dục… thì các cơng cụ kinh tế đóng

một vai trò quan trọng. Nội dung chủ yếu của các công cụ kinh tế trong quản lý mơi

5



trường là tác động tới chi phí và lợi ích trong hoạt động của tổ chức kinh tế để tạo ra

các tác động tới hành vi ứng xử của nhà sản xuất có lợi cho mơi trường. Một số công

cụ kinh tế trong quản lý môi trường là: Thuế và phí mơi trường; Giấy phép chất thải

có thể mua bán được hay "cota ô nhiễm"; Ký quỹ môi trường; Trợ cấp môi trường;

Nhãn sinh thái…Việc sử dụng các cơng cụ kinh tế có tác động tích cực đến các hành

vi môi trường được thuế điều chỉnh một cách tự giác, các chi phí của xã hội cho cơng

tác bảo vệ mơi trường có hiệu quả hơn, khuyến khích việc nghiên cứu triển khai kỹ

thuật cơng nghệ có lợi cho bảo vệ môi trường, gia tăng nguồn thu nhập phục vụ cho

công tác bảo vệ môi trường và cho ngân sách nhà nước, duy trì tớt giá trị mơi trường

của quốc gia.

Ở nước ta, việc áp dụng các công cụ kinh tế trong quản lý mơi trường đã

được Chính phủ quan tâm. Một số công cụ kinh tế đã được triển khai áp dụng ở các

quy mô khác nhau. Bước đầu, các cơng cụ kinh tế đã có tác dụng tích cực giúp hạn

chế ơ nhiễm, suy thoái mơi trường. Tuy nhiên, do chưa có nghiên cứu đầy đủ về các

công cụ kinh tế trước khi ban hành nên quá trình triển khai các cơng cụ này còn gặp

nhiều khó khăn và hiệu quả thực thi chưa cao. Ngồi ra, năng lực nghiên cứu và

thực thi các công cụ kinh tế còn hạn chế, một sớ cơng cụ kinh tế chưa được áp dụng.

Nhìn chung vai trò của các cơng cụ kinh tế trong quản lý mơi trường còn hạn chế.

Để phát huy vai trò của các cơng cụ kinh tế trong quản lý môi trường ở nước

ta hiện nay cần nghiên cứu làm rõ bản chất, nội dung các công cụ kinh tế trong quản

lý môi trường, phân tích đánh giá thực trạng việc áp dụng các cơng cụ kinh tế trong

quản lý môi trường ở nước ta thời gian qua; chỉ rõ các nguyên nhân hạn chế của

việc áp dụng các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường; đề xuất định hướng và

giải pháp nhằm nâng cao vai trò của các cơng cụ kinh tế trong quản lý môi trường ở

nước ta trong thời gian tới.

Vì những lý do trên, tác giả tiến hành thực hiện đề tài “ Vai trò của các cơng

cụ kinh tế trong quản lý môi trường ở Việt Nam” để làm luận văn tốt nghiệp

Thạc sỹ chuyên ngành Quản lý kinh tế.

- Sự phù hợp của tên đề tài với chuyên ngành đào tạo: đề tài hoàn toàn phù

hợp với chuyên ngành quản lý kinh tế mà học viên được đào tạo.

- Câu hỏi nghiên cứu của học viên đối với vấn đề nghiên cứu :

+ Thực trạng vai trò của các công cụ kinh tế trong quan lý môi trường ở nước

ta hiện nay ra sao?

6



+ Cần có giải pháp gì để nâng cao vai trò của các cơng cụ kinh tế trong quản

lý môi trường nước ta trong thời gian tới?

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn.

2.1. Mục đích

Nghiên cứu về các cơng cụ kinh tế trong quản lý mơi trường. Phân tích thực

trạng vai trò của các cơng cụ kinh tế trong quan lý môi trường ở nước ta. Đề xuất

các quan điểm, kiến nghị và giải pháp nâng cao cao vai trò của các công cụ kinh tế

trong quản lý môi trường.

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài sẽ:

- Làm rõ khái niệm, vai trò của các cơng cụ kinh tế trong quản lý mơi trường;

- Phân tích, đánh giá thực trạng về vai trò của các cơng cụ kinh tế trong quan

lý môi trường ở nước ta hiện nay;

- Chỉ ra các ngun nhân làm hạn chế vai trò của các cơng cụ kinh tế trong

quản lý môi trường ở nước ta;

- Đề xuất định hướng và giải pháp nhằm nâng cao vai trò của các cơng cụ

kinh tế trong quản lý môi trường nước ta trong thời gian tới.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn.

3.1. Đối tượng nghiên cứu: Vai trò các cơng cụ kinh tế trong quản lý môi trường ở

nước ta.

3.2. Phạm vi nghiên cứu luận văn

- Về không gian, thời gian: tại Việt Nam, giai đoạn từ năm 2005 – 2014.

- Về nội dung: Nghiên cứu, phân tích thực trạng các cơng cụ kinh tế QLMT ở

nước ta và đưa ra quan điểm, kiến nghị đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao vai trò

của các cơng cụ kinh tế trong quản lý mơi trường.

4. Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp sau:

- Kết hợp các phương pháp phân tích và mơ hình hóa lý thuyết.

- Phương pháp nghiên cứu tiến trình lịch sử để nghiên cứu quá trình hình

thành và phát triển của các công cụ kinh tế gắn với quản lý mơi trường.

- Phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp hệ thống để đưa ra quan

niệm về công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường, pháp luật về sử dụng công cụ

kinh tế trong bảo vệ môi trường ở Việt Nam.

7



- Tiếp xúc với các chuyên gia kinh tế tại Viện Kinh tế Việt Nam, Viện Kinh

tế và Chính trị thế giới.

- Phân tích sử dụng các tài liệu của Việt Nam kết hợp với việc khai thác các

nguồn tài liệu của nước ngoài.

Nguồn tài liệu chính được sử dụng trong luận văn là tài liệu thứ cấp. Bên cạnh

đó luận văn còn sử dụng nguồn dữ liệu là kết quả phỏng vấn với các chuyên gia.

5. Đóng góp mới

Nghiên cứu có sự so sánh làm rõ, chỉ ra những nguyên nhân, hạn chế, tồn tại

trong thực trạng vai trò của các cơng cụ kinh tế trong quản lý môi trường ở nước ta

hiện nay, từ đó đưa ra các kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao vai trò của các cơng

cụ kinh tế trong quản lý môi trường.

Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các

nhà nghiên cứu kinh tế và các giảng viên về kinh tế môi trường và kinh tế phát triển.

6. Kết cấu và nội dung của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục các tài liệu tham khảo,

nội dung của luận văn gồm có 4 chương:

Chương 1 : Cơ sở lý luận và tổng quan tài liệu.

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu.

Chương 3: Thực trạng áp dụng các cơng cụ kinh tế và vai trò của nó trong

quản lý môi trường ở nước ta.

Chương 4: Định hướng và giải pháp nhằm nâng cao vai trò của các công

cụ kinh tế trong quản lý môi trường ở nước ta.



8



CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Cơ sở lý luận về tổng quan vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Môi trường và phát triển bền vững

1.1.1.1. Môi trường

Môi trường là khái niệm được nhiều ngành khoa học quan tâm nghiên cứu

dưới nhiều góc độ khác nhau. Nhìn chung có những quan niệm như sau:

- Mơi trường bao gồm các vật chất hữu cơ và vô cơ quanh sinh vật. Theo

định nghĩa này thì khơng thể nào xác định được mơi trường một cách cụ

thể, vì mỗi cá thể, mỗi lồi, mỗi chi vẫn có một mơi trường và một quần thể, một

quần xã lại có một mơi trường rộng lớn hơn.

- Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tớ vật chất nhân tạo có

quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản

xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên (Điều 1, Luật Bảo

Vệ Môi Trường của Việt Nam, 1993)

Trong Từ điển Bách khoa Việt Nam, môi trường được định nghĩa “bao gồm

các yếu tố tự nhiên và các yếu tố vật chất nhân tạo có quan hệ mật thiết với nhau,

bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sớng sản xuất, sự tồn tại và phát triển

của con người và thiên nhiên” [70, tr.940]. Hiểu theo nghĩa rộng, môi trường là khái

niệm “chỉ tồn bộ các điều kiện vơ cơ và hữu cơ có liên quan đến sự tồn tại và phát

triển của các cơ thể sống, bao gồm tất cả những gì đang tồn tại khách quan, là tồn

bộ thế giới với tất cả các hình thức biểu hiện mn màu của nó” [45, tr.7].

Luật Bảo vệ mơi trường (2005) của nước ta thì cho rằng, mơi trường “bao

gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng

đến đời sớng, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật” [113, tr.8].

Theo quan niệm của UNESCO, môi trường của con người bao gồm tồn bộ các hệ

thớng tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra, những cái hữu hình (đơ thị, hồ

chứa...) và những cái vơ hình (tập quán, niềm tin, nghệ thuật...), trong đó con người

bằng lao động, tiến hành khai thác các loại tài nguyên nhằm thoả mãn những nhu

cầu của mình. Với nghĩa này, môi trường sống đối với con người không chỉ là nơi

tồn tại, sinh trưởng, phát triển mà còn là khung cảnh của cuộc sống, của lao động và

sự nghỉ ngơi của con người.

9



Như vậy, môi trường là khái niệm có nội hàm rộng lớn. Từ khái niệm này

người ta chia ra thành các khái niệm hẹp hơn như “môi trường tự nhiên”, “môi trường

xã hội”, “môi trường nhân tạo”, “môi trường sinh thái”, “môi trường sinh thái nhân

văn”… Mỗi khái niệm đó lại được nghiên cứu ở các góc độ khác nhau. Không thể đi

sâu vào từng khái niệm, đề tài chỉ đề cập tới những khái niệm điển hình nhất, được

nhiều người thừa nhận và có mới liên quan chặt chẽ tới đối tượng nghiên cứu.

Luật Bảo vệ môi trường (năm 2005) ở nước ta quy định: “Hoạt động bảo vệ

môi trường là hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp; phòng ngừa, hạn

chế tác động xấu đến mơi trường, ứng phó sự cớ mơi trường; khắc phục ô nhiễm,

suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm

tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ đa dạng sinh học” [113, tr.8-9]. Ở khái niệm này, bảo

vệ môi trường không chỉ là khái niệm mang tính hành động của con người nhằm tác

động trực tiếp vào môi trường, khắc phục sự ơ nhiễm, suy thoái mơi trường mà còn

bao hàm cả việc khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo

tồn đa dạng sinh học.

1.1.1.2. Phát triển bền vững

Khái niệm về phát triển bền vững: Phát triển bền vững là một khái niệm mới

nhằm định nghĩa một sự phát triển về mọi mặt trong hiện tại mà vẫn phải bảo đảm

sự tiếp tục phát triển trong tương lai xa. Khái niệm này hiện đang là mục tiêu hướng

tới nhiều quốc gia trên thế giới, mỗi quốc gia sẽ dựa theo đặc thù kinh tế, xã hội,

chính trị, địa lý, văn hóa... riêng để hoạch định chiến lược phù hợp nhất với q́c

gia đó.

Khái niệm này được phổ biến rộng rãi vào năm 1987 nhờ Báo cáo

Brundtland. Báo cáo này ghi rõ: Phát triển bền vững là: "Sự phát triển có thể đáp

ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả

năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai...".

Nói cách khác, phát triển bền vững phải bảo đảm có sự phát triển kinh tế

hiệu quả, xã hội cơng bằng và mơi trường được bảo vệ, gìn giữ. Để đạt được điều

này, tất cả các thành phần kinh tế - xã hội, nhà cầm quyền, các tổ chức xã hội... phải

bắt tay nhau thực hiện nhằm mục đích dung hòa 3 lĩnh vực chính: kinh tế - xã hội mơi trường. “Phát triển bền vững” có nội hàm rất rộng, mỗi thành tớ trong đó đều

có một ý nghĩa riêng, trong đó những thành tớ xem xét chủ yếu sẽ gắn với (hệ thống

kinh tế, phát triển kinh tế, mối quan hệ giữa môi trường và hệ thống kinh tế).

10



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×