Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

Tải bản đầy đủ - 0trang

Những cam kết quan trọng để trong hội nhập kinh tế quốc tế là: (i)

không phân biệt đối xử trong thương mại và các quan hệ kinh tế khác; (ii)

giảm và tiến tới xóa bỏ hồn tồn thuế quan và các rào cản phi thuế quan; (iii)

tự do hóa về đầu tư, dịch vụ; (iv) thực hiện các biện pháp thuận lợi cho

thương mại và đầu tư; (v) thuận lợi hóa và tự do hóa đi lại của doanh nhân và

nhân công; (vi) bảo đảm công khai và minh bạch hóa. (vii) xây dựng các tiêu

chuẩn thống nhất và hợp với tiêu chuẩn quốc tế; (viii) giải quyết các tranh

chấp thương mại theo qui định quốc tế.

Trong khi toàn cầu hóa diễn ra như một tiến trình khách quan là xu thế

lớn chi phối toàn bộ các mối quan hệ quốc tế, như một làn sóng cuốn các

quốc gia vào, thì hội nhập kinh tế quốc tế là hoạt động mang nhiều tính chủ

quan nhưng cần thiết, vì trên thực tế nếu khơng muốn bị thua thiệt trong cuộc

chơi thì các quốc gia phải chủ động hội nhập. Sự khác nhau giữa các nước là

cần tiến hành hội nhập lúc nào và như thế nào để bảo đảm lợi thế so sánh của

nước mình.

Việt Nam thực sự hội nhập kinh tế quốc tế theo các nguyên tắc tự do

hóa kinh tế từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới. Trong thời kỳ đầu chúng ta thực

hiện hội nhập chủ yếu thơng qua việc tự do hóa đơn phương. Từ giữa những

năm 90 đến nay, hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra đa dạng dưới nhiều hình

thức: vừa tiếp tục đơn phương tiến hành tự do hóa, vừa phát triển mối liên kết

kinh tế đa phương, vừa tăng cường hợp tác và liên kết kinh tế song phương,

như ký Hiệp định thương mại Việt - Mỹ, đồng thời vừa tham gia vào các liên

kết kinh tế vùng, liên kết khu vực. Phát triển mối liên kết đa phương gồm liên

kết khu vực, liên khu vực và toàn cầu, như tham gia AFTA, APEC, ASEM,

ACFTA, đàm phán gia nhập WTO. Mức độ hội nhập của từng tiến trình có

khác nhau, mức cao nhất hiện nay là hội nhập AFTA.



95



Các cam kết hội nhập của Việt Nam cho đến nay chủ yếu là về thực

hiện không phân biệt đối xử; cắt giảm thuế quan và hàng rào phi thuế quan

theo các lộ trình khác nhau; tuân thủ các qui định về trợ cấp, chống phá giá,

cạnh tranh; tự do hóa đầu tư và dịch vụ; thực thi các quyền sở hữu trí tuệ; đơn

giản hóa các thủ tục hải quan; đảm bảo tuân thủ các qui tắc xuất xứ, tiêu

chuẩn và hợp chuẩn; cơng khai minh bạch hóa.

* Cơ hội của hội nhập kinh tế đối với ngành Thuế

Trong lĩnh vực Thuế, hội nhập kinh tế quốc tế là cải cách thủ tục hành

chính thuế nhằm đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của công tác quản lý

thuế, phục vụ người nộp thuế theo những thông lệ quốc tế, nhằm cải thiện môi

trường đầu tư và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Cải cách thủ tục hành chính thể hiện ở nhiều phương diện như đơn giản

hóa các thủ tục kê khai đối với thuế giá trị gia tăng, bảo hiểm bắt buộc và thuế

thu nhập doanh nghiệp; phần mềm mới của thuế đã gắn kết với phần mềm kế

toán của doanh nghiệp để tự động tính tốn theo u cầu của kê khai thuế;

triển khai hệ thống khai thuế qua mạng…tham gia vào quá trình hợp tác và

liên kết khu vực và quốc tế về tài chính, tiền tệ để góp phần vào việc phát

triển kinh tế của đất nước. Chủ trương của Tổng cục Thuế là nghiên cứu, sửa

đổi các quy trình nghiệp vụ quản lý thuế, thực hiện chuyển đổi dần từ quản lý

dựa trên hóa đơn sang quản lý theo đối tượng, theo đánh giá rủi ro; đặc biệt là

việc phòng ngừa, chống thất thu, chống gian lận về khấu trừ, hoàn thuế giá trị

gia tăng khi bỏ quy định doanh nghiệp gửi bảng kê hóa đơn hàng hóa, dịch vụ

mua vào, bán ra.

Từ năm 1989, khi Chính phủ thực hiện chính sách mở cửa trong lĩnh

vực tài chính, Tổng cục Thuế cũng hợp tác tích cực với các cơ quan hữu quan

trong hội nhập khu vực và toàn cầu, như ASEM, APEC, ASEAN, BTA và

WTO. Các cam kết trong hội nhập của Tổng cục Thuế là cải cách thủ tục hành

chính thuế với các chỉ tiêu cụ thể để đến cuối năm 2014 giảm thời gian thực

96



hiện thủ tục khai thuế, nộp thuế xuống còn không quá 300 giờ/năm và đến

năm 2015 bằng với mức trung bình của nhóm nước ASEAN-6 (171 giờ/năm);

giảm số lần nộp thuế xuống tối thiểu bằng với mức trung bình của các nước

trong khu vực.

Ngay từ những năm đầu 1990, trước yêu cầu mở cửa nền kinh tế và

thu hút đầu tư nước ngồi, dưới sự chỉ đạo của Chính phủ và của Bộ Tài

chính, Tổng cục Thuế đã chủ trì xúc tiến đàm phán các Hiệp định tránh đánh

thuế hai lần với các nước và vùng lãnh thổ nhằm tạo nền tảng pháp lý cơ bản

về thuế đối với các hoạt động đầu tư và thương mại song phương. Đây chính

là các bước tiến thiết yếu, tạo điều kiện thúc đẩy và phát triển quá trình hội

nhập kinh tế của Việt Nam ngay từ giai đoạn đầu, đặc biệt trong việc thu hút

đầu tư từ các đối tác lớn. Từ năm 1992 đến nay, Việt Nam đã ký kết 71 Hiệp

định và kết thúc đàm phán 10 Hiệp định, đặt nền móng pháp lý quan trọng

và góp phần thiết thực vào quá trình hội nhập ngày càng sâu, rộng của nền

kinh tế Việt Nam trong thời gian qua. Cũng trong giai đoạn này, với các

bước cái cách hệ thống thuế giai đoạn 1 cùng với sự hợp tác của các tổ chức

quốc tế và một số đối tác quan trọng (Quỹ Tiền tệ Quốc tế, Thuỵ Điển..), hệ

thống chính sách thuế và cơ chế quản lý thuế đã từng bước được hoàn thiện

phù hợp với cơ chế kinh tế nhiều thành phần và từng bước mở cửa, đảm bảo

vừa phù hợp với các nguyên tắc cơ bản trong thông lệ quốc tế, vừa phù hợp

với các điều kiện và trình độ phát triển của Việt Nam, đồng thời đảm bảo

u cầu thu ngân sách.

Ngồi ra, trong q trình hội nhập kinh tế đa phương của Việt Nam với

khu vực đặc biệt là các bước đầu tiên khi gia nhập ASEAN, AFTA và sau đó

là WTO (năm 2007), hệ thống thuế đã được rà soát và từng bước sửa đổi cho

phù hợp với các cam kết hội nhập của Việt Nam, nhất là đối với các điều

khoản về đối xử quốc gia và các ưu đãi thuế có thể dẫn đến vi phạm các cam



97



kết về trợ cấp đối với xuất khẩu hoặc ngành, lĩnh vực cụ thể. Vì vậy, đến năm

2005, các luật thuế đã được sửa đổi, loại bỏ các yếu tố còn chưa phù hợp với

các nguyên tắc của WTO, hoàn thành một cách cơ bản và tương đối tồn diện

hệ thống chính sách thuế phù hợp với các cam kết WTO của Việt Nam.

Từ năm 2006, Luật Quản lý thuế đã được ban hành và có hiệu lực từ

1/7/2007, đặt bước tiến quan trọng, đánh dấu bước ngoặt cải thiện về chất

trong việc thực hiện Chiến lược cải cách, hiện đại hệ thống thuế giai đoạn 2,

đáp ứng yêu cầu quản lý đối với số lượng người nộp thuế ngày càng tăng, đặc

biệt là sự bùng nổ của số doanh nghiệp trong nước và đầu tư nước ngoài sau

khi Việt Nam hoàn thành các cam kết đối với khu vực mậu dịch tự do AFTA

của ASEAN vào năm 2006 và gia nhập WTO vào năm 2007. Cùng với quá

trình hội nhập chung của nền kinh tế, ngành Thuế đang nỗ lực tập trung cải

cách theo hướng ngày càng minh bạch và đơn giản hoá các thủ tục hành chính

thuế nhằm tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp và người nộp thuế, phấn đấu

đạt trình độ quản lý thuế của các nước tiên tiến trong khu vực ASEAN.

Tiếp tục hiện đại hóa quản lý thuế, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ

thông tin; triển khai rộng rãi kê khai, nộp thuế điện tử, phấn đấu đến cuối năm

2014 có 95% số doanh nghiệp tham gia vào kê khai thuế điện tử; đồng thời

đẩy mạnh phát triển hệ thống đại lý thuế. Tăng cường kiểm tra, thanh tra thuế

theo phương thức hậu kiểm. Đẩy mạnh chống thất thu thuế, chuyển giá quyết

liệt và hiệu quả hơn nữa, tăng cường và đổi mới công tác thông tin, tuyên

truyền về lĩnh vực thuế để làm sao lan toả đến người dân, cộng đồng doanh

nghiệp và nhà đầu tư nước ngoài hiểu và tự giác chấp hành pháp luật về thuế.

* Thách thức của hội nhập kinh tế đối với ngành Thuế

Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đang đặt ra thách thức ngày càng cao

đối với ngành Thuế trong bối cảnh tồn cầu hố các hoạt động kinh tế ngày

càng tăng để đảm bảo các quyền và lợi ích quốc gia trong việc duy trì và đảm

bảo nguồn thu thuế. Xu thế này đòi hòi hỏi cơng tác quản lý thuế phải ngày



98



càng được hoàn thiện, đáp ứng hiệu quả đối với tiến trình hội nhập của ngành

Tài chính và của cả nền kinh tế Việt Nam.

Việc mở rộng không ngừng mạng lưới các Hiệp định thuế, với số lượng

trên 40 Hiệp định vào trước năm 2007, đến nay đã đạt số 81 Hiệp định đã

hoặc đang chờ ký kết đặt ra thách thức lớn đối với ngành Thuế trong việc

nâng cao không ngừng chất lượng và hiệu quả quản lý thuế quốc tế. Thêm vào

đó, q trình hội nhập kinh tế ngày càng càng sâu, rộng, các hoạt động kinh

doanh, đầu tư và thương mại giữa Việt Nam và các nền kinh tế ngày càng tăng

cường về phạm vi và mức độ, dẫn đến các hoạt động kinh tế xuyên biên giới

ngày càng phức tạp, đa dạng và thường xuyên biến động, đặt ra thách thức lớn

đối với hệ thống thuế và quản lý thuế trong việc vừa đảm bảo tính đồng bộ,

ổn định của chính sách, đồng thời đảm bảo hiệu lực và hiệu quả của quản lý

thuế; đặc biệt đối với các giao dịch qua biên giới, các đối tượng không cư trú

và các công ty đa quốc gia.

Trên thực tế, quá trình hội nhập kinh tế sẽ giúp Việt Nam tiếp cận thị

trường quốc tế tốt hơn. Qua đó, hoạt động xuất khẩu, đầu tư nước ngồi sẽ

khởi sắc và tác động tích cực tới tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, những thách

thức do hội nhập mang lại cũng không đơn giản. Tổng thu ngân sách nhà

nước sẽ bị ảnh hưởng khá mạnh do những cam kết cắt giảm thuế. Trên thực

tế, tại nhiều quốc gia, nguồn thu từ hàng hóa xuất nhập khẩu chiếm tỷ lệ lớn

trong tổng thu ngân sách nhà nước. Việc tham gia nhiều FTA cùng một lúc sẽ

gây khó khăn lớn cho điều hành thu - chi ngân sách nhà nước, nhất là khi phải

cắt giảm thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu trong một thời gian ngắn. Đặc biệt,

với TPP, tỷ lệ xóa bỏ thuế nhập khẩu có thể lên tới gần 100%. Còn FTA với

EU, tỷ lệ cắt giảm thuế dự kiến là trên 90%

Thách thức cũng sẽ đến khi một số nhà đầu tư nước ngồi hành xử

khơng phù hợp với đạo đức kinh doanh khi có thu nhập rất lớn nhưng lại sử

99



dụng các biện pháp để chuyển giá, tìm cách giảm mạnh, thậm chí kê khai thuế

ở mức khơng có thu nhập để khơng phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp.

4.1..2. Cơ hội và thách thức của hội nhập kinh tế quốc tế đối với phát

triển nguồn nhân lực của Tổng cục Thuế

* Cơ hội đối với phát triển nguồn nhân lực

Sau gần 20 năm tiến hành công cuộc đổi mới chất lượng nguồn nhân

lực của Việt Nam đã có sự tiến bộ vượt bậc. Điều đó thể hiện rõ ràng qua sự

gia tăng thứ bậc của chỉ số HDI của Việt Nam qua các năm. Năm 1995, chỉ số

HDI là 0,646 xếp thứ 7 trong khu vực Đông Nam Á, thứ 32 ở Châu Á và thứ

122 trên thế giới. Năm 2003 chỉ số HDI là 0,689 với các thứ bậc tương ứng là

6, 28 và 109. Năm 2013 Việt Nam đứng 127/187 quốc gia, chỉ số HDI của

Việt Nam đã tăng 41% trong vòng hai thập kỷ qua.

Định hướng phát triển nguồn lực con người Việt Nam đến năm 2020 là

nâng cao chất lượng dân số về thể chất, trí tuệ và tinh thần, phấn đấu đạt chỉ

số HDI ở mức trung bình tiên tiến của thế giới; tuổi thọ trung bình của dân số

là 75; tỷ lệ sinh viên trên 1 vạn dân là 400 người, tăng gần 4 lần; tỷ lệ người

lao động qua đào tạo khoảng 70%; [34]. Qua sự gia tăng của mức sống dân cư

và điều kiện thuận lợi của giáo dục, chăm sóc y tế xã hội nên nhìn chung thế

hệ trẻ của Việt Nam ngày nay có trình độ chun mơn, tầm vóc, sức khỏe

khơng thua kém so với các nước khác trong khu vực. Một đội ngũ tri thức trẻ

có trình độ ngoại ngữ, có kiến thức về nền kinh tế thị trường, có tư duy năng

động và tồn cầu, đó là nguồn nhân lực xã hội dồi dào bổ sung cho nguồn

nhân lực của hệ thống Tổng cục Thuế.

Việc mở rộng hợp tác với các tổ chức thuế các quốc gia trên thế giới đã

cho Tổng cục Thuế nhiều cơ hội để lựa chọn hình thức hợp tác và đối tác phù

hợp trong việc tiếp cận các nguồn thông tin và nâng cao tri thức cho đội ngũ

nhân lực. Đội ngũ công chức của Tổng cục Thuế ln được tạo điều kiện để

100



nâng cao trình độ qua các khóa thực tập ở các cơ quan thuế của các nước

trong khối ASEAN, các nước đang chuyển đổi có cùng điều kiện gần giống

Việt Nam hoặc các nước có hệ thống thuế phát triển cao, như Úc, Pháp, Thụy

Sĩ. Các tổ chức tài chính quốc tế, khu vực (IMF, WB, BIS, ADB…) luôn coi

Tổng cục Thuế là đối tác thân thiện trong việc cử học viên tham gia các khóa

đào tạo của họ.

Hợp tác trên lĩnh vực đào tạo là con đường ngắn nhất dẫn đưa công

chức của Tổng cục Thuế tiếp cận với khoa học kỹ thuật, công nghệ tiên tiến

hiện đại và kiến thức kỹ năng nghiệp vụ, quản trị điều hành tiên tiến của nước

bạn. Qua đó chúng ta cũng như nhận rõ được những yếu điểm, rút ra kinh

nghiệm bổ ích để nhanh chóng rút ngắn khoảng cách trong phát triển và hội

nhập vào kinh tế quốc tế.

Tính năng động cao của chính sách phát triển nguồn nhân lực của

Chính phủ và của Ban lãnh đạo Tổng cục Thuế, thể hiện qua chủ trương

khuyến khích tuyển dụng cán bộ trẻ, có trình độ, có chính sách đào tạo hướng

mục tiêu với đội ngũ nhân lực nghiên cứu và hoạch định chính sách, ưu tiên

trong phát triển giới đối với phụ nữ ở các cấp lãnh đạo cũng như trong lĩnh

vực nghiên cứu chuyên môn của Tổng cục Thuế. Xác định công tác phát triển

nguồn nhân lực là chìa khóa cho mọi thành cơng, là nhiệm vụ quan trọng

hàng đầu của sự nghiệp đổi mới, Ban lãnh đạo Tổng cục Thuế đã dành một số

dự án của nước ngoài tài trợ cho đào tạo và phát triển nhân lực, như dự án

Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) về hỗ trợ, bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng

cao về chuyên ngành tài chính, kinh tế, chính sách nhằm đóng góp cho sự

phát triển bền vững của các nước Châu Á. Chương trình học bổng của JDS

dành cho cán bộ công chức đang công tác tại các cơ quan nhà nước Việt Nam.

Thường xuyên cử cán bộ tham gia các khoá học do OECD tổ chức bồi dưỡng

nâng cao nghiệp vụ về thuế quốc tế. Các dự án trên đã và đang cung cấp nhiều

101



thông tin và kinh nghiệm về nâng cao trình độ cho đội ngũ nhân lực của Tổng

cục Thuế trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay.

* Thách thức đối với phát triển nguồn nhân lực

Bên cạnh những cơ hội thuận lợi, hội nhập kinh tế quốc tế đang đặt ra

nhiều thách thức to lớn đối với nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực

của Tổng cục Thuế. Xuất phát từ yêu cầu về thực hiện các chức năng nhiệm

vụ của Tổng cục Thuế, đội ngũ nhân lực chất lượng cao là yếu tố quyết định

sự thành công của Tổng cục Thuế trong sự phát triển và hội nhập kinh tế

quốc tế. Sự thay đổi môi trường hoạt động đã và sẽ chỉ ra ngày càng rõ hơn

những "khoảng trống" năng lực, "sự tụt hậu" của trình độ, năng lực cán bộ

cơng chức, từ cấp hoạch định chính sách đến tác nghiệp, thừa hành. Sự thiếu

hụt đó thể hiện rõ ở tình trạng "hụt hơi" về yếu tố nhân sự, trình độ và năng

lực chưa theo kịp qui mơ phát triển, nhất là khi tốc độ phát triển kinh tế đang

có sự đột biến cả về chiều rộng và chiều sâu hiện nay. Tất cả những điều đó

đặt ra cho phát triển nguồn nhân lực của Tổng cục Thuế những thách thức to

lớn, như sau:

- Trên cơ sở môi trường pháp lý và xã hội hiện hành cần thiết phải xây

dựng và phát triển một đội ngũ nhân lực chất lượng cao, đặc biệt ở hai nhóm

nhân sự chủ chốt là nhóm cán bộ quản lý điều hành và nhóm hoạch định

chính sách. Một số lớn trong đội ngũ cán bộ quản lý hiện nay trưởng thành

qua thực tiễn hoạt động quản lý, chưa được đào tạo về quản trị một cách bài

bản, nên thiếu tính chuyên nghiệp trong điều hành và quản trị nguồn lực. Hơn

nữa, vốn là công chức nhà nước hoạt động trọng lĩnh vực thuế có thời gian bổ

nhiệm 5 năm một lần, nên tính năng động sáng tạo còn bị giới hạn. Quyền lợi

và nghĩa vụ của họ chưa được rõ ràng, bên cạnh đó chưa có những cơng cụ để

giám sát đánh giá nên chưa khuyến khích sự sáng tạo, dám nghĩ dám làm,

dám chịu trách nhiệm đối với cơng việc của mình.

102



- Về chất lượng của đội ngũ nghiên cứu hoạch định chính sách, có sự

thiếu hụt về năng lực nghiên cứu phân tích kinh tế, thiếu hụt tri thức về các

lĩnh vực luật pháp quốc tế, quan hệ kinh tế đối ngoại; nhất là lĩnh vực hội

nhập nhận thức còn hạn chế, cả về tiêu chuẩn lẫn trình độ chun mơn. Do

đó, trong phương án tham gia đàm phán về tự do hóa trong lĩnh vực Thuế còn

dựa trên kinh nghiệm, những kiến nghị đưa ra chỉ mới nhằm giải quyết những

khó khăn hiện tại hoặc những vấn đề nảy sinh trong đàm phán chứ chưa có

tính dài hạn, có tầm vĩ mơ. Những thiếu hụt về năng lực đó của đội ngũ nhân

lực cần phải được cải thiện một cách nhanh chóng mới đáp ứng được các yêu

cầu của hội nhập.

- Năng suất lao động và hiệu quả công tác của đội ngũ cán bộ cơng

chức còn nhiều vấn đề bất cập, thể hiện qua năng suất lao động thấp, tư duy

ngắn hạn, chủ nghĩa bình qn, thiếu tính chun nghiệp trong tư duy và tác

nghiệp. Đây là những khó khăn trong việc nâng cao tính cạnh tranh của cơng

chức Tổng cục Thuế trong điều kiện hội nhập.

- Trong cuộc đua thu hút nhân lực, Tổng cục Thuế đang phải đối đầu

với luồng di chuyển nhân sự từ khu vực nhà nước sang khu vực phi nhà nước,

từ Tổng cục Thuế sang các đơn vị ngồi khu vực hành chính. Ngun nhân ở

đây là sự vận động của qui luật cạnh tranh trong lĩnh vực nhân lực, mà Tổng

cục Thuế không thể khơng bị ảnh hưởng, nó tác động vào tư duy, nhận thức

của người lao động, tạo nên sự so sánh giữa điều kiện ổn định nhưng thiếu

linh hoạt của chế độ lương, thưởng cũng như ở cách thức quản lý nhân lực

của Tổng cục Thuế với sự "thoáng" hơn của các Doanh nghiệp và đặc biệt là

các tổ chức kinh tế, tài chính nước ngồi. Thách thức với hoạt động phát triển

nguồn nhân lực nguồn nhân lực là cần xây dựng trên cơ sở điều kiện thực tế

của công tác tổ chức cán bộ hiện nay một phương thức quản lý nhân lực sáng

tạo, khoa học, minh bạch rõ ràng để tạo ra môi trường làm việc tốt cho đội

103



ngũ nhân viên. Một mơi trường duy trì ni dưỡng nguồn nhân lực tích cực sẽ

thuyết phục được người lao động trong việc lựa chọn và gắn bó với nơi làm

việc, giảm bớt luồng chuyển dịch nhân sự từ Tổng cục Thuế sang các đơn vị

khác trong Bộ Tài chính, các doanh nghiệp hoặc các tổ chức tài chính khác.

- Chất lượng của nguồn nhân lực thể hiện qua phẩm chất, năng lực của

đội ngũ nhân lực đã được đào tạo, tôi luyện trên tất cả các mặt, từ nghiệp vụ

chuyên môn với kỹ năng thành thạo đến đạo đức, tác phong lành mạnh, trung

thực. Đánh giá chất lượng nhân sự có vai trò rất quan trọng trong việc qui

hoạch, bố trí và sử dụng nhân sự. Nhưng với phương thức và biện pháp đánh

giá như hiện nay, thì khó thay đổi chất lượng của công tác đánh giá cũng như

các chức năng khác của quản lý nhân sự. Là một cơ quan trực thuộc Bộ Tài

chính, cơng tác quản lý nhân sự của Tổng cục Thuế phải tuân thủ theo các qui

định chung giống như các đơn vị khác trực thuộc Bộ Tài chính; điều đó tác

động khơng nhỏ tới các nội dung của hoạt động phát triển nhân lực của Tổng

cục Thuế.

Những thách thức về chất lượng của đội ngũ nhân lực và hoạt động

phát triển nguồn nhân lực nêu trên có thể tóm lại thành một thách thức lớn

nhất, đó là u cầu phải vượt lên chính mình, phải đáp ứng được những đòi

hỏi cao hơn về năng lực, về đạo đức nghề nghiệp, về phẩm chất con người,

về sự thích ứng mơi trường. Đặc biệt, trong một số đối tượng (nhóm nhân

lực) còn đòi hỏi sự đổi mới cơ bản cách thức tư duy và điều hành, gạt bỏ

bệnh quan liêu, duy ý chí, thậm chí phải hy sinh một số lợi ích cục bộ, cá

nhân để tạo đà cho sự phát triển của các yếu tố mới, sự tiến bộ và lợi ích

chung của hệ thống.

4.1.3. Định hướng phát triển nguồn nhân lực Tổng cục Thuế trong

điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

Quyết định số 732/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 17/5/2011

104



về việc phê duyệt chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011-2020 nêu

rõ: “Xây dựng và tổ chức bộ máy quản lý thuế hiện đại, hiệu lực, hiệu quả

phù hợp với yêu cầu thực thi nhiệm vụ của cơ quan thuế và định hướng phát

triển kinh tế - xã hội của đất nước, đáp ứng yêu cầu quản lý thuế hiện đại theo

nguyên tắc tập trung thống nhất; cơ cấu nguồn nhân lực phù hợp với nhiệm vụ

quản lý thuế, đẩy mạnh phân cấp quản lý cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ

công chức thuế chuyên nghiệp, chuyên sâu, trung thực, trong sạch;”;Xây

dựng và phát triển kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới, trong nhiều

văn kiện của Đảng đã khẳng định: “Tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới,

khơi dậy và phát huy tối đa nội lực. Nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, ra sức

cần kiệm để đầy mạnh cơng nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Nâng cao

hiệu quả sức cạnh tranh của nền kinh tế kết hợp chặt chẽ với phát triển văn hóa

giáo dục, thực hiện cơng bằng và tiến bộ xã hội, ưu tiến phát triển lực lượng

sản xuất đi đôi với xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng xã hội

chủ nghĩa. Nâng cao ý chí tự lực tự cường, giữ gìn bản sắc dân tộc trong tiến

trình hội nhập quốc tế, bảo đảm an ninh quốc phòng vững chắc. Kết hợp chặt

chẽ đổi mới kinh tế - xã hội với cải cách bộ máy hành chính”.

Tư tưởng chỉ đạo trên là căn cứ xác định nhiệm vụ chính trị của các

ngành. Trong giai đoạn phát triển mới Tổng cục Thuế cần phải xây dựng đội

ngũ cơng chức có năng lực và trình độ, phẩm chất đáp ứng yêu cầu thực hiện

nhiệm vụ chính trị.

Trong q trình thực hiện chiến lược cải cách cơng tác thuế đến năm

2020 của Chính phủ đã thơng qua chiến lược cải cách cơng tác thuế đến năm

2020. Vì vậy,vấn đề phát triển nguồn nhân lực ngành thuế là một bộ phận và

là biện pháp để thực hiện chiến lược cải cách hành chính thuế.

Mục tiêu tổng quát của phát triển nguồn nhân lực: Là

xXây dựng một đội ngũ cán bộ thuế có phẩm chất tốt, trách nhiệm cao,

105



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×