Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của một vị trí làm việc hay của một công việc là toàn bộ những năng lực (kiến thức, kỹ năng, thái độ hành vi) hợp thành một tổng thể thống nhất, cần thiết để có thể nắm vững một cấp độ việc làm nào đó có thể đảm nhiệm một vị

Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của một vị trí làm việc hay của một công việc là toàn bộ những năng lực (kiến thức, kỹ năng, thái độ hành vi) hợp thành một tổng thể thống nhất, cần thiết để có thể nắm vững một cấp độ việc làm nào đó có thể đảm nhiệm một vị

Tải bản đầy đủ - 0trang

chỉ có kiến thức và kỹ năng tiềm ẩn trong một người. Bởi vì trình độ chun

mơn cao nếu khơng có động cơ và mục đích trong sáng thúc đẩy và hướng dẫn

thì khó đạt được kết quả như mong muốn. [3024]

Nâng cao trình độ kiến thức nguồn nhân lực là tìm cách trang bị cho

người lao động những kiến thức mới, nâng cao trình độ chun mơn nghiệp vụ

kỹ thuật người lao động. Trình độ kiến thức bao gồm trình độ kiến thức tổng

qt, kiên thức chun mơn và kiến thức đặc thù. Sự phát triển như vũ bão của

khoa học công nghệ yêu cầu người lao động phải có trình độ học vấn cơ bản,

trình độ chun mơn kỹ thuật và kỹ năng lao động tốt, để có khả năng tiếp thu

và áp dụng công nghệ mới.

Trong các tổ chức việc nâng cao trình độ kiến thức cho người lao động có

ý nghĩa rất quan trọng, nó giúp cho người lao động có đủ năng lực cần thiết đáp

ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao. Trong xu thế hiện nay người lao động đòi hỏi

phải có trình độ kiến thức nhất định, tức là có sự am hiểu về tri thức, có năng lực

thực hành mời hồn thành nhiệm vụ được giao và có thể đảm đương các chức vụ

trong quản lý, kinh doanh, các hoạt động nghề nghiệp khác. Trình độ kiến thức

nguồn nhân lực nâng lên chỉ có thể thơng qua đào tạo và bồi dưỡng, vì vậy bất

kỳ tổ chức nào cũng phải chú trọng đến công tác đào tạo và bồi dưỡng nguồn

nhân lực. Phải xem xét quá trình đào tạo và bồi dưỡng kiến thức là một q trình

thường xun liên tục, đó là sự vận động tự nhiên trong mỗi con người để hướng

đến xu thế hồn thiện hơn. Nếu khơng tự vận động theo hướng phát triển thì

người lao động sẽ bị đào thải vì khơng đáp ứng được u cầu công việc, nhưng

để người lao động nhận thấy được điều này trước khi quá muộn thì tổ chức, đơn

vị phải có định hướng, chỉ dẫn để họ tự nhận thức, tự định vị mình trong tổ chức

từ đó tạo ra những chuyển biến tích cực hơn.

Phát triển nguồn nhân lực của tổ chức phải quan tâm đến chất lượng

nguồn nhân lực, tức là phải đề cập đến chuyên môn, nghiệp vụ của người lao

động. Phát triển trình độ chun mơn, nghiệp vụ có ý nghĩa rất quan trọng trong

việc nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả công việc, nâng cao kiến thức là

yếu tố cốt lõi của phát triển nguồn nhân lực, việc nâng cao kiến thức thực hiện

24



bằng nhiều hình thức trong đó chủ yếu thơng qua đào tạo. Thông qua việc đào

tạo, cán bộ nhân viên sẽ được nâng cao kiến thức, trình độ nghiệp vụ chun

mơn cùng các kỹ năng khác, từ đó tạo ra giá trị lớn nhất cho bản thân cán bộ

nhân viên và tổ chức. Đồng thời qua quá trình đào tạo, đào tạo lại, cán bộ nhân

viên cũng xác định được mục tiêu phát triển của bản thân phù hợp với mục tiêu

phát triển của tổ chức. Do vậy, để phát triển nguồn nhân lực thì tổ chức cần phải

quan tâm đến việc nâng cao trình độ chun mơn, nghiệp vụ của người lao động.

Đặc biệt trong điều kiện hội nhập kinh tế cần quan tâm đến phát triển nguồn

nhân lực chất lượng cao, người lao động có tư duy sáng tạo, ứng xử thơng

minh, có bản lĩnh. Nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những yếu tố

quyết định sự thành cơng của sự nghiệp cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa; là q

trình chuyển đổi căn bản, tồn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, xã hội,

từ sử dụng lao động thủ công là phổ biến sang sử dụng một cách phổ biến sức

lao động được đào tạo cùng với công nghệ tiên tiến, phương tiện và phương

pháp tiên tiến, hiện đại nhằm tạo ra năng suất lao động xã hội cao, là điều kiện

để rút ngắn khoảng cách tụt hậu, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đẩy nhanh sự

nghiệp cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nhằm phát triển bền vững.

b. Phát triển kỹ năng nghề nghiệp của người lao động

Trong quá trình làm việc, có trình độ chun mơn chưa đủ mà cần phải có

những kỹ năng. Kỹ năng của người lao động là sự thành thạo, tinh thông về các

thao tác, động tác, nghiệp vụ trong q trình hồn thành một cơng việc cụ thể

nào đó. Những kỹ năng sẽ giúp cho người lao động hồn thành tốt cơng việc của

mình, quy định tính hiệu quả của cơng việc. [3024]

Kỹ năng có thể lĩnh hội được thơng qua tình huống thực tế hoặc mơ

phỏng thực tế. Nói cách khác kỹ năng chỉ có thể hình thành thơng qua thực

hành. Kỹ năng là khả năng áp dụng các kỹ thuật, phương pháp và công cụ để

giải quyết cơng việc. Sự rèn luyện, tích lũy kinh nghiệm thực tiễn, sẽ giúp con

người nâng cao trình độ kỹ năng nghề nghiệp. Nếu như không coi trọng, khơng

dành sự quan tâm đúng mức, khơng đầu tư thích đáng, khơng tìm tòi thực sự,

khơng nghiên cứu và học hỏi đến nơi đến chốn thì khơng thể sở hữu kỹ năng

25



một cách đầy đủ.

Kỹ năng là năng lực cần thiết để thực hiện công việc, là kết quả đào tạo và

kinh nghiệm của từng cá nhân. Kỹ năng phụ thuộc vào kiến thức bởi vì trước khi

thực hiện các cơng việc cụ thể thì cá nhân đó phải biết mình cần phải làm gì và

làm như thế nào, thời gian bao lâu, điều kiện làm việc như thế nào. Kỹ năng là

việc thực hiện các công việc ở mức độ thuần thục trên nền tảng kiến thức có

được, khác hẳn với sự hiểu biết về công việc phải làm. [28][25]

Kỹ năng nghề nghiệp là một bộ phận cấu thành chất lượng nguồn nhân

lực, phát triển kỹ năng nghề nghiệp tức là góp phần làm gia tăng đáng kể về chất

lượng nguồn nhân lực của tổ chức. Kỹ năng nghề nghiệp không chỉ hiểu đơn

thuần theo nghĩa hẹp của kỹ năng chun mơn, nó bao hàm cả các kỹ năng mềm

như kỹ năng giao tiếp, kỹ năng làm việc nhóm, khả năng thích nghi, kỹ năng

giải quyết vấn đề, kỹ năng quan sát, kỹ năng quản lý thời gian để tăng cường

khả năng tiếp cận với xã hội, nó giúp con người linh hoạt hơn có thể làm chủ

hành vi giao tiếp, kiểm soát và xử lý tốt được mọi tình huống nảy sinh trong

cuộc sống.

Bên cạnh đó, việc phát triển kỹ năng bổ trợ như tin học, ngoại ngữ cũng là

một trong những yếu tố góp phần tạo nên thành cơng trong cơng việc, ngoại ngữ

và tin học có vai trò vơ cùng quan trọng trong tất cả các lĩnh vực hoạt động và

ảnh hưởng trực tiếp đến sự nghiệp cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập

quốc tế đối với tất cả các quốc gia. Tại Việt Nam, việc nâng cao trình độ ngoại

ngữ và tin học đang là mục tiêu hết sức được đầu tư chú trọng và được xây dựng

thành đề án nghiên cứu ứng dụng cấp quốc gia và nhận được sự quan tâm của

toàn xã hội.

Kỹ năng nghề nghiệp phản ánh sự hiểu biết tinh thông về tay nghề, mức

độ tinh xảo và những kinh nghiệm cần thiết để thực hiện công việc. Do vậy,

nâng cao kỹ năng nghề nghiệp là tìm cách nâng cao tay nghề, mức độ thuần thục

trong công việc, cũng như tạo điều kiện đề người lao động tích lũy các kinh

nghiệm cần thiết phục vụ cho công việc. Gia tăng kỹ năng của người lao động là

cơ sở để nâng cao năng suất lao động và hiệu quả công việc.

26



Phát triển kỹ năng của người lao động là gia tăng sự khéo léo, sự thuần

thục và sự nhuần nhuyễn. Để nâng cao kỹ năng của người lao động thì phải huấn

luyện, đào tạo, phải thường xuyên tiếp xúc, làm quen với cơng việc để tích lũy

kinh nghiệm, một trong những cách đó là thơng qua thời gian làm việc. Phát

triển kỹ năng có thể thơng qua việc đào tạo tại chỗ, người đi trước hướng dẫn

người đi sau, tuy nhiên để đạt kết quả tốt thì phải xuất phát từ tính tự giác và nỗ

lực của chính bản thân người lao động.

Trong các tổ chức việc nâng cao kỹ năng nghề nghiệp cho nguồn nhân lực

có ý nghĩa quan trọng, khi kỹ năng được nâng cao người lao động sẽ làm việc có

hiệu quả hơn áp lực cơng việc của người quản lý cũng được giảm nhẹ, tạo điều

kiện dành thời gian cho việc nghiên cứu đề xuất cải tiến hoạt động của cơ quan

tổ chức đươc tốt hơn.

1.2.5.3. Nâng cao động cơ thúc đẩy người lao động

Mục đích của q trình quản lý là nâng cao hiệu quả sử dụng lao động.

Muốn vậy cần phải thấy rõ cái gì thúc đẩy con người tham gia vào lao động. Nói

cách khác, động cơ lao động lao động của họ là gì? Vấn đề này, từ lâu C.Mác đã

chỉ ra rằng: Con người lao động là nhằm thỏa mãn nhu cầu của mình mà trước

hết là những nhu cầu về ăn, mặc, ở sau dó là đi lại, học tập nâng cao trình dộ

chun mơn, vui chơi, giải trí,…V.V..Mặt khác, người lao động sáng tạo ra sản

phẩm không chỉ nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân họ mà còn thỏa mãn nhu

cầu của gia đình họ và góp phần vào sư phát triển của xã hội.

Động cơ là động lực tâm lý nội sinh gây ra và duy trì hoạt động của cá

nhân và khiến cho hoạt động ấy diễn ra theo mục tiêu và phương hướng nhất

định. Động cơ là những gì thơi thúc con người có những ứng xử nhất định một

cách vô thức hay hữu ý và thường gắn với nhu cầu. Động lực là cái thúc đẩy làm

cho biến đổi, phát triển.

Như vậy, có thể hiểu động cơ thúc đẩy là các yếu tố nhằm thôi thúc, thúc

đẩy người lao động làm thay đổi hành động theo hướng phát triển. Động cơ thúc

đẩy đúng đắn dẫn đến hành động đúng đắn, hoàn thiện nhân cách góp phần phát

triển nguồn nhân lực của tổ chức.

27



Các nhà khoa học chỉ ra rằng, nhu cầu của con người khơng chỉ giới

hạn ở hình thái vật chất mà còn là những nhu cầu về mặt tinh thần; nhu cầu

của con người ngày càng phong phú về số lượng cũng như về chất lượng; đó

chính là động cơ, là nguyên nhân thúc đẩy các cá nhân tham gia vào các hoạt

động sản xuất xã hội. Để nâng cao động cơ thúc đẩy người lao động thì tổ

chức phải có hoặc tạo ra những yếu tố động lực thúc đấy, các yếu tố đó bảo

gồm:

Yếu tố vật chất được hiểu là lương cơ bản, thưởng, các khoản phụ cấp,

các khoản phúc lợi xã hội… Đây là những yếu tố con người cần phải có và dùng

nó để thỏa mãn các nhu cầu tối thiểu của mình. Chính vì vậy yếu tố vật chất

được sử dụng như một đòn bẩy dể kích thích tính tích cực của người lao động

[19][17]

Yếu tố tình thần là những yếu tố thuộc về tâm lý con người và không thể

định lượng được như: khen, tuyên dương, ý thức thành đạt, sự kiểm soát của cá

nhân đối với công việc và cảm giác công việc của mình được đánh giá cao, củng

cố lại cách hành xử của cá cấp quản lý đối với người lao động và phát động

phong trào văn thể mỹ trong tập thể cán bộ công nhân viên …Các yếu tố này

đem lại sự thỏa mãn về tinh thần cho người lao động, sẽ tạo ra tâm lý tin tưởng,

yên tâm, cảm giác an toàn cho người lao động. Nhờ vậy, họ sẽ làm việc bằng

niềm hăng say và tất cả sức sáng tạo của mình.[19][17]

Theo Abraham Maslow, nhu cầu của con người có sự phân cấp từ nhu cầu

thấp đến nhu cầu cao nhất. Khi một nhóm nhu cầu được thỏa mãn thì loại nhu

cầu này khơng còn là động cơ thúc đẩy nữa. Thuyết nhu cầu Maslow sắp xếp

nhu cầu con người từ thấp lên cao. Khi con người thỏa mãn tương đối nhu cầu ở

mức thấp thì có xu hướng phát sinh

nhutự cầu ở mức cao hơn, nó trở thành động

Nhu cầu

hồn thiện



lực khuyến khích hành vi của con người để được thỏa mãn, từ đó thúc đẩy sự

Nhu cầu



được tôn trọng

phát triển của bản thân mỗi người.

Nhu cầu

xã hội



Nhu cầu

an toàn28

Nhu cầu

cơ bản



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của một vị trí làm việc hay của một công việc là toàn bộ những năng lực (kiến thức, kỹ năng, thái độ hành vi) hợp thành một tổng thể thống nhất, cần thiết để có thể nắm vững một cấp độ việc làm nào đó có thể đảm nhiệm một vị

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×