Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
HỘI NHẬP QUỐC TẾ

HỘI NHẬP QUỐC TẾ

Tải bản đầy đủ - 0trang

hoảng” đã đề cập đến những bất cập của thị trường lao động của nước ta. Tác

giả nhận định thị trường lao động Việt Nam khơng có những biện pháp hữu hiệu

giải quyết vấn đề này. Nguyên nhân của việc này là do các doanh nghiệp thiếu

thông tin về thị trường lao động và chưa tiếp cận một cách hiệu quả với các dịch

vụ đào tạo, các sinh viên không được định hướng tốt trong việc lựa chọn trường,

chọn ngành nghề học. Từ đó tác giả đề xuất 10 giải pháp tập trung chủ yếu vào

nâng cao chất lượng đào tạo.

Cơng trình “Nghiên cứu con người và nguồn lực đi vào cơng nghiệp hố,

hiện đại hố”, (2001) của tác giả Phạm Minh Hạc, Nhà xuất bản Chính trị quốc

gia, Hà Nội. Cơng trình phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn thực hiện chiến lược

con người với tư tưởng coi nhân tố con người, phát triển con người, nguồn lực

con người có ý nghĩa quyết định đối với việc sáng tạo vật chất và tinh thần; trình

bày mối quan hệ giữa giáo dục - đào tạo, sử dụng và tạo việc làm với phát triển

nguồn nhân lực đất nước; từ đó xác định trách nhiệm quản lý của giáo dục - đào

tạo đối với việc phát triển nguồn nhân lực đi vào cơng nghiệp hố, hiện đại hố.

Cuốn sách “Xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam phục vụ sự

nghiệp chấn hưng đất nước”, (2010) do tác giả Nguyễn Văn Khánh (chủ biên),

Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội. Cuốn sách là tập hợp các bài tham

luận tại hội thảo khoa học có cùng chủ đề. Một điểm chung của các bài viết

trong cuốn sách này là “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, ngun khí thịnh

thì thế nước mạnh mà hưng thịnh, ngun khí suy thì thế nước yếu mà thấp

hèn”. Như vậy tư tưởng chủ đạo của cuốn sách là nhân tài hay chính là nguồn

nhân lực là nhân tố quyết định sự phát triển của một đất nước. Vì vậy, muốn đất

nước phát triển thì nhất thiết phải quan tâm, chú trọng và đặt mục tiêu hàng đầu

vào phát triển nguồn nhân lực.

Sách “Nguồn lực con người trong quá trình cơng nghiệp hóa, hiện đại

hóa ở Việt Nam”, (2005) của Đồn Văn Khái, Nhà xuất bản Lý luận chính trị.

Tác giả đã trình bày một số vấn đề chung về cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa trên

thế giới và Việt Nam; vai trò của nguồn lực con người trong cơng nghiệp hóa,

hiện đại hóa; thực trạng nguồn lực con người ở Việt Nam và những vấn đề đặt ra

6



trước yêu cầu cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa; những giải pháp cơ bản nhằm khai

thác và phát triển có hiệu quả nguồn lực con người đáp ứng u cầu cơng nghiệp

hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay.

“Giáo trình nguồn nhân lực”, (2010) do tác giả Nguyễn Tiệp chủ biên,

Nhà xuất bản Lao động - xã hội. Giáo trình trình bày một cách có hệ thống

những vấn đề cơ bản về nguồn nhân lực, như khái niệm, tiêu chí, phân loại,

những yếu tố chi phối đến nguồn nhân lực; trình bày vấn đề giáo dục đào tạo

nguồn nhân lực, quản lý, bố trí, sử dụng, trọng dụng, các chính sách, cơ chế đối

với nguồn nhân lực của đất nước.

Sách “Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện

đại hóa và hội nhập quốc tế”, (2012) do tác giả Vũ Văn Phúc và Nguyễn Duy

Hùng (đồng chủ biên), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. Cuốn sách trình

bày một số khái niệm cơ bản về nhân lực, nguồn nhân lực, phân tích đặc điểm

của nguồn nhân lực Việt Nam, những vấn đề cơ bản để phát triển nguồn nhân

lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Đây là

cuốn sách có giá trị tham khảo trong nghiên cứu và trong chỉ đạo thực tiễn phát

triển nguồn nhân đất nước hiện nay.

Nghiên cứu “Phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp nhỏ và vừa ở

Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế”, (2009). Luận án Tiến sĩ của Lê Thị

Mỹ Linh, trường Đại học kinh tế Quốc dân. Tác giả đã đánh giá tổng thể về tình

hình phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam, cơ hội và thách thức trong

quá trình hội nhập quốc tế. Tác giả nêu các ưu nhược điểm, nguyên nhân và các

giải pháp cho Doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam.

Giáo trình “Quản lý nhân lực trong doanh nghiệp”,(2008) của Nguyễn

Tấn Thịnh, Nhà xuất bản Khoa học - Kỹ thuật, Hà Nội. Giáo trình đã đưa ra

những quan điểm về ngồn nhân lực là toàn bộ các khả năng về thể lực và trí lực

của con người được vận dụng ra trong quá trình lao động sản xuất, các khái

niệm, nội dung cơ bản của hoạt động quản lý nhân lực trong doanh nghiệp từ lúc

hình thành nguồn nhân lực đến việc tổ chức sử dụng có hiệu quả và phát triển

nguồn nhân lực đó trong doanh nghiệp. Tác giả cũng nêu ra những thách thức

7



đối vói cơng tác quản lý nhân lực trong một môi trường đầy biến động với các

yếu tố khoa học, kỹ thuật, kinh tế và xã hội ngày càng phát triển và hiện đại.

Bài viết “Công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong công ty

nhà nước“, (2008) của tác giả Ngô Thị Minh Hằng. Bài viết trình bày một

nghiên cứu về thực trạng phát triển nguồn nhân lực mà chủ yếu là hoạt động đào

tạo ở các doanh nghiệp nhà nước thông qua khảo sát một số doanh nghiệp ở địa

bàn Hà Nội. Tác giả đã phân tích, đưa ra một số nhận định khái quát về những

yếu kém, tồn tại của công tác đào tạo trong các doanh nghiệp này trong thời gian

vừa qua.

Bài viết “Phát huy nguồn nhân lực bằng động lực thúc đẩy“ , (2010) của

tác giả Nguyễn Văn Long đăng trên tạp chí Khoa học và cơng nghệ, Đại học Đà

Nẵng. Tác giả đưa ra ý kiến trong nền kinh tế tri thức, khi giá trị sản phẩm hơn

80% là hàm lượng chất xám, tài sản nguồn nhân lực càng được đặt vào một vị trí

quan trọng.Thúc đẩy người lao động làm việc hiệu quả là vấn đề hết sức quan

trọng trong các tổ chức. Người lao động làm việc nhiệt tình, năng suất và hiệu quả

cơng việc cao thì các mục tiêu của tổ chức sẽ dễ dàng đạt được hơn, từ đó tạo

thuận lợi khơng ngừng phát triển. Phát huy nguồn nhân lực bằng động lực thúc

đẩy, bài viết dựa trên các lập luận góp phần phát huy nguồn lực con người làm

yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững.

Sách “Suy nghĩ về phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam”, (2010) tác giả

Nguyễn Trung khi nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực, cho rằng cần phải

nhìn nhận nguồn nhân lực bao gồm tất cả mọi người thuộc mọi tầng lớp xã hội

và nghề nghiệp khác nhau, mọi địa vị xã hội từ thấp đến cao - kể từ người làm

nghề lao động đơn giản nhất, nông dân, công nhân, người làm việc chuyên môn,

người làm khoa học, người làm quản lý, nhà kinh doanh, người chủ doanh

nghiệp, giới nghệ sỹ, người hoạch định chính sách quản lý đất nước…Tất cả đều

nằm trong tổng thể cộng đồng xã hội, từng người phải được đào tạo, phát triển

và có điều kiện để tự phát triển. Với cách tiếp cận này, tác giả đã coi vấn đề phát

triển nguồn nhân lực thực chất là ngày càng làm tốt hơn việc giải phóng con

người. Điều này đòi hỏi cùng một lúc đặt ra hai yêu cầu: Tập trung trí tuệ và

8



nguồn lực cho phát triển nguồn nhân lực và thường xuyên đổi mới, cải thiện mơi

trường chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, giữ gìn mơi trường tự nhiên của quốc

gia.

Các cơng trình nghiên cứu trên đã có những đóng góp to lớn trong việc

cung cấp lý luận về phát triển nguồn nhân lực nói chung trên các lĩnh vực, các

vùng của nền sản xuất xã hội trong phạm vi cả nước, song đối với vấn đề phát

triển nguồn nhân lực của Tổng cục Thuế thì chưa có cơng trình nào nghiên cứu

cụ thể, một cách có hệ thống.

Từ những vấn đề trên cho thấy, cần phải tiếp cận trên góc độ khoa học

quản lý để lý giải cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn của việc phát triển nguồn nhân

lực một cách toàn diện. Từ việc đánh giá thực trạng của cơng tác phát triển

nguồn nhân lực, phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển nguồn nhân

lực như chính sách sử dụng, chính sách thu hút, đãi ngộ, chính sách đào tạo - bồi

dưỡng, mơi trường làm việc... để nhìn thấy các ưu điểm, tồn tại và nguyên nhân

của những tồn tại. Từ đó xác định được mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp, phương

hướng để phát triển nguồn nhân lực trong sự phát triển bền vững của quốc gia,

của tổ chức nhằm đẩy mạnh hoạt động phát triển nguồn nhân lực trong các tổ

chức công cho phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội trong quá trình mở cửa

hội nhập kinh tế, quốc tế.

Luận văn này mong muốn sẽ góp phần nâng cao chất lượng của công tác

phát triển nguồn nhân lực của Tổng cục Thuế. Luận văn xin kế thừa và tiếp thu

có chọn lọc những kết quả nghiên cứu đã cơng bố có liên quan để phục vụ cho

mục đích nghiên cứu của mình.

1.2. Cơ sở lý luận về phát triển nguồn nhân lực trong điều kiện hội

nhập quốc tế.

1.2.1. Khái niệm nguồn nhân lực

Về ý nghĩa sinh học, nguồn nhân lực là nguồn lực sống, là thực thể thống

nhất của cái sinh vật và cái xã hội. C. Mác đã khẳng định: "Trong tính hiện thực

của nó, bản chất con người là tổng hòa các quan hệ xã hội". Về ý nghĩa kinh tế,

nguồn nhân lực là "tổng hợp các năng lực lao động trong mỗi con người của một

9



quốc gia, một vùng lãnh thổ, địa phương, đã được chuẩn bị ở mức độ nhất định

và có khả năng huy động vào quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước

hoặc vùng địa phương cụ thể" [14, tr. 22].

Qua các quan điểm trên, có thể nói: nguồn nhân lực được hiểu là lực

lượng lao động xã hội, là những người lao động cụ thể và chỉ thuần túy về mặt

số lượng người lao động.

Theo quan điểm của kinh tế học phát triển, nguồn nhân lực là nguồn tài

nguyên nhân sự của quốc gia hoặc của một tổ chức, là vốn nhân lực. Ở tầm vĩ

mơ đó là nguồn lực xã hội, ở tầm vi mơ đó là một tập hợp của rất nhiều cá nhân,

nhân cách khác nhau với những nhu cầu và tâm lý khác nhau, là toàn bộ đội ngũ

nhân viên của tổ chức, vừa có tư cách là khách thể của hoạt động quản lý vừa là

chủ thể hoạt động và là động lực của tổ chức đó. Từ góc độ hạch tốn kinh tế,

coi đó là vốn lao động (human capital), với phần đóng góp chi phí của nguồn

vốn lao động trong sản phẩm sản xuất ra. Từ góc độ của kinh tế phát triển, người

lao động trong một tổ chức được coi là nguồn nhân lực với những khả năng thay

đổi về số lượng và chất lượng của đội ngũ trong quá trình phát triển của tổ chức,

hay còn gọi là "vốn nhân lực, được hiểu là tiềm năng, khả năng phát huy tiềm

năng của người lao động, là cái mang lại nhiều lợi ích hơn trong tương lai so với

những lợi ích hiện tại" [9, tr. 9]..

Theo định nghĩa của UNDP (Chương trình phát triển Liên Hiệp quốc):

"Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ

cuộc sống con người hiện có thực tế hoặc đang là tiềm năng để phát triển kinh tế

- xã hội trong một cộng đồng". Thực chất nguồn nhân lực là tiềm năng của con

người về số lượng, chất lượng và cơ cấu" [9, tr. 9]. . Tiềm năng về thể lực con

người thể hiện qua tình trạng sức khỏe của cộng đồng, tỷ lệ sinh, mức độ dinh

dưỡng của xã hội. Cơ cấu dân số thể hiện qua tháp tuổi của dân số. Năng lực thế

chất của con người là nền tảng và cơ sở để các năng lực về trí tuệ và nhân cách

phát triển. Tiềm năng về trí lực là trình độ dân trí và trình độ chun mơn kỹ

thuật hiện có, cũng như khả năng tiếp thu tri thức, khả năng phát triển tri thức

của nguồn nhân lực. Năng lực về nhân cách liên quan đến truyền thống lịch sử

10



và nền văn hóa của từng quốc gia. Nó được kết tinh trong mỗi con người và

cộng đồng, tạo nên bản lĩnh và tính cách đặc trưng của con người lao động trong

quốc gia đó.

Quan điểm trên đây nhìn nhận nguồn nhân lực một cách toàn diện, coi

nguồn nhân lực không chỉ trên giác độ số lượng (nguồn lực lao động) mà cả về

chất lượng (tiềm năng phát triển). Theo cách tiếp cận này, cho rằng nguồn nhân

lực là tất cả các kỹ năng và năng lực của con người liên quan tới sự phát triển

của mỗi cá nhân và của quốc gia. Các nguồn lực cơ bản của sự phát triển quốc

gia thường có là: nguồn lực tài chính, nguồn lực con người và nguồn lực vật

chất; trong đó nguồn nhân lực có vai trò quyết định. Là "lao động sống" (C.

Mác), nó làm cho các nguồn lực khác trở nên hữu dụng. Ngày nay thế giới đang

bước vào kỷ nguyên của nền văn minh thứ 5, trong đó trí tuệ và nền kinh tế trí

thức đang là cột trụ của sự phát triển. Các thành quả khoa học trở thành yếu tố

sản xuất và trở thành cấu phần của sản phẩm. Tỷ trọng hàm lượng chất xám

trong mỗi sản phẩm cao hay thấp thể hiện khả năng cạnh tranh của ngành nghề

hay quốc gia đó. Vì vậy, mặt chất lượng của nguồn nhân lực, yếu tố trình độ

chuyên môn, kỹ năng chuyên nghiệp, nhân cách, phẩm chất là những tiêu chí

quan trọng trong việc đánh giá thực trạng và khả năng phát triển nguồn nhân lực

của tổ chức hoặc của từng quốc gia.

Như vậy: Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động con người

của một quốc gia đã được chuẩn bị ở một mức độ nhất định, có khả năng huy

động vào q trình phát triển kinh tế- xã hội của đất nước; tiềm năng đó bao

hàm tổng hòa các năng lực về thể lực, trí lực, nhân cách con người của một

quốc gia, đáp ứng với một cơ cấu nhất định của lao động do nền kinh tế đòi hỏi.

1.2.2. Khái niệm phát triển nguồn nhân lực

Từ quan điểm coi con người là trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội,

phát triển nguồn nhân lực là quá trình gia tăng về kiến thức kỹ năng và năng lực

của mọi người trong xã hội. Dưới góc độ kinh tế, q trình này được mơ tả như

sự tích lũy vốn con người và sự đầu tư vốn đó một cách hiệu quả vào sự phát

triển của nền kinh tế. Dưới góc độ của chính trị, phát triển nguồn nhân lực là

nhằm chuẩn bị cho con người tham gia chín chắn vào hoạt động chính trị như là

11



công dân của một nền dân chủ. Dưới góc độ của xã hội học thì phát triển nguồn

nhân lực là góp phần giúp mọi người biết sống một cuộc sống trọn vẹn, phong

phú hơn; con người tiến từ cá nhân thành nhân cách, thành con người xã hội.

Phát triển nguồn nhân lực được hiểu là "cả một quá trình quan trọng mà qua đó

sự lớn mạnh của cá nhân hay tổ chức có thể đạt được những tiềm năng đầy đủ

nhất của họ theo thời gian" [2118, tr. 23].

Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, các quốc gia trên thế giới đều quan

tâm đến sự phát triển nguồn nhân lực, tạo ra đội ngũ nhân lực có chất lượng, có

trình độ cao, có khả năng nắm bắt khoa học công nghệ mới và ứng dụng vào sản

xuất đời sống. Phát triển nguồn nhân lực là một "quá trình làm biến đổi về số

lượng, chất lượng và cơ cấu nguồn nhân lực ngày càng đáp ứng tốt hơn yêu cầu

của nền kinh tế- xã hội" [9, tr. 13], đó là tổng thể các hình thức, phương pháp,

chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng cho nguồn

nhân lực (trí tuệ, thể chất và phẩm chất tâm lý - xã hội) nhằm đáp ứng đòi hỏi về

nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn phát triển.

Với quan niệm con người là động lực và đồng thời là mục tiêu của sự phát triển

thì phát triển nguồn nhân lực khơng chỉ có mục đích làm gia tăng về thu nhập

của cải vật chất mà là mở rộng và nâng cao khả năng lựa chọn của con người đối

với mơi trường xung quanh; tạo cho họ có cơ hội tiếp cận với điều kiện và môi

trường sống tốt hơn, đồng thời qua đó tăng cường năng lực và tiềm năng của con

người phù hợp hơn với yêu cầu khách quan của sự phát triển kinh tế - xã hội.

Quá trình phát triển nguồn nhân lực gồm phát triển về thể lực, trí lực, khả năng

nhận thức, tiếp thu kiến thức, tính năng động xã hội và sức sáng tạo của con

người.

Như vậy, trên giác độ vĩ mô, phát triển nguồn nhân lực là các hoạt động

đầu tư nhằm tạo ra nguồn nhân lực xã hội với số lượng và chất lượng đáp ứng

được nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đồng thời đảm bảo sự phát

triển của mỗi cá nhân phù hợp với yêu cầu của mơi trường. Phát triển nguồn

nhân lực có các cách thức sau:



12



- Phát triển về số lượng: là sự gia tăng về số lượng và thay đổi cơ cấu của

đội ngũ nhân lực theo hướng phù hợp với môi trường và điều kiện hoạt động

mới. Sự thay đổi về cơ cấu nhân lực của quốc gia diễn ra theo cơ cấu độ tuổi, cơ

cấu khu vực phân bố nhân lực và cơ cấu về giới.

- Phát triển về chất lượng: là sự gia tăng mức sống, trình độ học vấn,

trình độ chun mơn kỹ thuật và sức khỏe của các thành viên trong xã hội hoặc

trong tổ chức. Thước đo để so sánh sự phát triển nguồn nhân lực qua các thời kỳ

phát triển của một quốc gia hoặc giữa các quốc gia với nhau là chỉ số phát triển

con người, do Liên hợp quốc sử dụng.

Trong mỗi tổ chức, phát triển nguồn nhân lực là việc phát triển về số

lượng và chất lượng nhân lực thông qua thực hiện các chức năng của công tác

phát triển nguồn nhân lực, nhằm có được một đội ngũ nhân lực phù hợp với mục

tiêu và định hướng phát triển của tổ chức trong từng thời gian nhất định. Phát

triển nguồn nhân lực là một hoạt động hướng đích, phát triển nguồn nhân lực có

các mục tiêu cụ thể cho từng giai đoạn. Có thể nêu một số mục tiêu ngắn hạn

của phát triển nguồn nhân lực trong một tổ chức như sau:

- Chuẩn bị nhân sự để đảm nhận những nhiệm vụ trách nhiệm mới.

- Đào tạo nhân sự mới để thích nghi với hệ thống và q trình tổ chức của

đơn vị.

- Nâng cao năng lực và kỹ năng của đội ngũ nhân lực để họ có thể thực

hiện nhiệm vụ một cách hiệu quả hơn.

- Xây dựng đội ngũ nhân lực cho những thử thách mới của tổ chức trong

điều kiện hoạt động mới, hoặc cho sự sự phát triển tăng tiến của chính nhân sự

đó.

- Tạo mơi trường thuận lợi về vật chất tinh thần cho sự phát triển của đội

ngũ nhân viên

Theo nghĩa hẹp, phát triển nguồn nhân lực là hoạt động đào tạo, nhưng

trên thực tế, phát triển nguồn nhân lực có nghĩa rộng hơn. Nó không chỉ nhằm

làm tăng năng lực thực thi nhiệm vụ của tổ chức và từng thành viên mà còn

13



nhằm bảo đảm sự phát triển hiệu quả của tổ chức, là sự gia tăng số lượng phù

hợp với mục tiêu và qui mô phát triển của tổ chức trong tương lai. Phát triển

nguồn nhân lực là hoạt động mang tính chiến lược lâu dài, trang bị và nâng cao

kiến thức, kỹ năng toàn diện cho nhân lực, nhằm hướng tới những nhu cầu dài

hạn của tổ chức. Phát triển nguồn nhân lực chính là việc thực hiện các chức

năng và cơng cụ quản lý nhằm có được một đội ngũ nhân lực phù hợp về mặt số

lượng và có chất lượng cao, và thông qua hoạt động của đội ngũ nhân viên đó để

khơng ngừng nâng cao hiệu quả và sự phát triển bền vững của tổ chức.

1.2.3.Phát triển nguồn nhân lực trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc

tế

* Khái niệm hội nhập kinh tế quốc tế

Có nhiều cách hiểu khác nhau về hội nhập kinh tế. Giáo sư Phùng Thế

Trường khi nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực và thị trường lao động của

Việt Nam đã đưa ra định nghĩa Hội nhập kinh tế thế giới. “Quá trình hội nhập

kinh tế thế giới là một quá trình giao lưu, trao đổi giữa Việt Nam và các nước

trên thế giới về hàng hố, dịch vụ, tiền tệ, cơng nghệ mới, nguồn nhân lực…

theo hai chiều ra, vào” [2825].

Trong sách Doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam trong điều kiện hội

nhập kinh tế quốc tế của tác giả Lê Xuân Bá, Trần Kim Hào và Nguyễn Hữu

Thắng [2006] thì khái niệm hội nhập kinh tế được nêu như sau:

“Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình gắn kết nền kinh tế của đất nước với

nền kinh tế thế giới, tham gia vào sự phân công lao động quốc tế, gia nhập các tổ

chức quốc tế, tuân thủ những quy định, các “luật chơi“ chung” [52.Tr. 15].

Theo giáo trình Kinh tế Quốc tế của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

xuất bản năm 2008 do tác giả Đỗ Đức Bình và Nguyễn Thường Lạng chủ biên

thì: “Hội nhập kinh tế quốc tế là sự gắn kết nền kinh tế của mỗi quốc gia vào

các tổ chức hợp tác kinh tế khu vực và tồn cầu trong đó các nước thành viên

chịu sự ràng buộc theo những quy định chung của cả khối. Nói một cách khái

quát, hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình các quốc gia thực hiện mơ hình kinh

tế mở, tự nguyện tham gia vào các định chế và tài chính quốc tế, thực hiện

14



thuận lợi hóa và tự do hóa thương mại, đầu tư và các hoạt động kinh tế đối

ngoại khác” [63. Tr. 237].

Theo tác giả thì khái niệm hội nhập kinh tế quốc tế của giáo trình Kinh tế

Quốc tế của Đại học kinh tế quốc dân là rất đầy đủ.

Hội nhập là xu thế tất yếu trong quá trình phát triển, tác động lên tất cả

các khía cạnh của đời sống từ kinh tế, chính trị đến văn hố và xã hội. Hội nhập

là quá trình gia tăng các luồng hàng hố, dịch vụ, vốn, cơng nghệ, lao động giữa

các quốc gia. Hội nhập kinh tế là cơ hội to lớn để thu nhận tri thức, khoa học

công nghệ của thế giới cho sự phát triển của quốc gia. Tuy nhiên nó cũng có tính

hai mặt của nó mà mặt trái của nó có ảnh hưởng khơng nhỏ tới q trình phát

triển của các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam

* Các yêu cầu về phát triển nguồn nhân lực trong điệu kiện hội nhập kinh

tế quốc tế

Trong bối cảnh tồn cầu hóa, việc phát triển con người, phát triển nguồn

nhân lực là yếu tố quyết định nhất của sự phát triển bền vững. Yêu cầu phát triển

nguồn nhân lực trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế bao gồm những vấn đề

sau:

Yêu cầu trước hết và chủ yếu trong quá trình hội nhập kinh tế là cần chú

trọng phát triển một cách toàn diện nguồn nhân lực, khuyến khích và bồi

dưỡng nhân tài. Cụ thể hơn, phát triển nguồn nhân lực không chỉ hướng tới

việc tạo ra cho mỗi người có một nghề để mưu sinh, tức là cung cấp cho mỗi

người những kiến thức cơ bản về nghề nghiệp. Trong điều kiện hội nhập kinh

tế quốc tế, mở cửa thị trường, thì yêu cầu lại càng nhiều hơn về số lượng, nâng

cao về chất lượng đối với nhân lực để có thể nâng cao năng suất lao động xã

hội, sớm đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu và nâng cao đời sống

nhân dân, nhất là các tầng lớp lao động như nông dân, công nhân, tri thức.

Yêu cầu thứ hai là đào tạo nguồn nhân lực phải có chất lượng, đáp

ứng được các yêu cầu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Thực tiễn sản xuất,

phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội trong quá trình hội nhập vừa qua cho thất rõ

rằng, đầu tư cho con người, cho giáo dục phát triển nguồn nhân lực chính là đầu

15



tư cho phát triển. Đồng thời cũng trong đổi mới, chuyển sang kinh tế thị trường

đi vào cơng nghiệp hóa và kinh tế tri thức, hội nhập, tham gia tồn cầu hóa đã

bộc lộ những bất cập của nguồn nhân lực mà nguyên nhân là do yếu kém, hạn

chế của giáo dục đào tạo. Nhiều cơng trình, dự án khơng thể tuyển chọn được

nhân lực mà phải thuê nhân lực quốc tế nhất là nhân lực quản trị và kỹ thuật,

công nghệ. Trong khi ở nước ta các trường đại học mở ra nhiều, sinh viên tốt

nghiệp khơng tìm được việc làm ngày càng tăng, điều đó cho thấy chất lượng

đào tạo của nước ta chưa đáp ứng yêu cầu để thích ứng với thực tiễn sản xuất và

phát triển của các ngành kinh tế, văn hóa, xã hội.

Yêu cầu thứ ba của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đối với

nguồn nhân lực đó là: nguồn nhân lực phải có sức khỏe và tiếp thu nhanh kiến

thức khoa học, công nghệ mới, có kỹ năng làm việc trong mơi trường cơng

nghệ, kỹ thuật ngày càng đổi mới và phát triển. Do vậy phát triển nhân lực phải

tập trung vào thế hệ trẻ. Vấn đề đặt ra là trong điều kiện đẩy mạnh cơng nghiệp

hóa, hội nhập thì giáo dục, đào tạo phải làm sao để thanh niên, thế hệ trẻ trở

thành đội qn xung kích đi vào khoa học cơng nghệ mới. Tuy lực lượng lao

động trẻ nước ta được xếp vào hạng quốc gia có trình độ học vấn khá, có nhiều

học sinh, sinh viên thông minh đạt giải quốc tế, nhưng lại thiếu những nhà kỹ

nghệ trẻ tài năng, những doanh nhân, nhà doanh nghiệp trẻ có tài và những lao

động tinh thơng cơng nghệ mới.

Như vậy q trình hội nhập kinh tế quốc tế, đòi hỏi cần phải đáp ứng

nhiều yêu cầu về các mặt của nền kinh tế, trong đó yêu cầu đặt ra đối với sự phát

triển yếu tố nguồn nhân lực là rất quan trọng, cần phải có chiến lược phát triển

phù hợp để nguồn nhân lực đáp ứng được yêu cầu của quá trình hội nhập kinh tế

quốc tế.

1.2.4. Vai trò của cơng tác phát triển nguồn nhân lực

1.2.4.1. Vai trò phát triển nguồn nhân lực đối với sự phát triển kinh tế - xã

hội

Nguồn nhân lực là nguồn lực con người và là một trong những

nguồn lực quan trọng nhất của sự phát triển kinh tế –- xã hội. Vai trò đó bắt

16



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

HỘI NHẬP QUỐC TẾ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×