Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 1.2: Mô hình 7C trong đánh giá một website

Bảng 1.2: Mô hình 7C trong đánh giá một website

Tải bản đầy đủ - 0trang

STT



2



3



4



5



6



7



Yếu tố đánh giá



Các biến số



- Thuận tiện trong tìm kiếm sản phẩm

- Sự đảm bảo về chất lượng chương trình du

lịch với khách hàng

- Sơ đồ trang web

Giao diện của website

- Thanh menu chính

- Các hình thức đa phương tiện

(Context)

- Đơn giản, dễ hiểu

- Liên kết tới website của các doanh nghiệp

Liên kết trong website

khác (các nhà hàng, khách sạn...)

(Connection)

- Liên kết tới các website liên quan

Thông tin liên lạc (Trợ - Thư điện tử

giúp cho sự tương tác hai - Thông tin liên hệ

- Trung tâm cuộc gọi

chiều giữa người sử dụng

và

website) - Hỏi - đáp và các câu hỏi - đáp thường gặp

(Communication)

- Các yêu cầu về đặt chỗ trước

Thương mại (Commerce) - Đăng ký và mua hàng trực tuyến

- An toàn trong giao dịch

- Thông tin tương tác, mức độ

Tính

cộng

đồng

tạođiềukiệnchongườisử dụngtươngtác

(Community)

vớinhau

Cá

biệt

hóa: - Chức năng tìm kiếm

khảnăngbiếnđổiwebsitesa - Cá nhân hóa dịch vụ

ochophùhợpvớitừngngười

xem,đáp

ứng - Có nhiều ngôn ngữ khác nhau để khách

yêucầu,sởthíchriêngbiệtcủ hàng lựa chọn

atừngngườixem

(Customization)

(Jeffrey F.Rayport, Bernard J.Jaworski, 2001, trang 173)

* Quảng cáo qua các trang web khác:

-Quảng cáo bằng banner:Banner Ads là ô quảng cáo hình chữ nhật được đặt



trên các trang web, có dạng tĩnh hoặc động, liên kết đến một trang web chứa các nội

dung thông tin của quảng cáo. Khi người xem kích chuột vào ô quảng cáo, trang

web quảng cáo sẽ được mở ra để người xem theo dõi các thông tin quảng cáo trong



24



đó. Các quảng cáo này có thể đáp ứng mục tiêu cung cấp thông tin hoặc thuyết phục

khách hàng mua sản phẩm, dịch vụ.

Doanh nghiệp sẽ tìm website thu hút được lượng người xem lớn và phù hợp với

thị trường mục tiêu của mình để thuê chỗ đặt banner. Đó có thể là trên các trang web

của các hòm thư điện tử như yahoo.com, gmail.com, hotmail.com... hay các báo điện

tử, trang web có số lượng người truy cập đông Vnexpress.net, vietnamnet.vn,

tuoitre.com.vn



hay



thanhnien.com.vn,



dantri.com.vn,



dulichvietnam.com.vn,



kayak.com...

- Quảng cáo trên các công cụ tìm kiếm:là cách đăng ký trên các công cụ tìm

kiếm để người sử dụng khi tìm kiếm các nội dung liên quan thì nội dung quảng cáo

sẽ xuất hiện. Các công cụ tìm kiếm mà doanh nghiệp có thể đăng ký các từ khóa

quảng cáo là Google, Yahoo, bing, baidu, wolframalpha …

So với quảng cáo đặt banner trên các trang web, quảng cáo trên các công cụ

tìm kiếm có thế mạnh là khả năng nhắm đến khách hàng mục tiêu. Quảng cáo trên

các bộ máy tìm kiếm như dịch vụ Adwords của Google hay Yahoo Marketing của

Yahoo là hình thức quảng cáo theo từ khóa. Ví dụ, các khách sạn đặt quảng cáo trên

Google, khi khách hàng nhập một hay nhiều từ khóa liên quan đến du lịch, bộ máy

tìm kiếm này sẽ hiển thị ô thông tin (địa chỉ trang web) về khách sạn đó bên cạnh

kết quả tìm kiếm. Các trang web tìm kiếm như Google hay Yahoo sẽ tính phí theo

số lượng người tìm kiếm kích chuột vào trang web công ty du lịch đó. Như vậy, rõ

ràng hình thức quảng cáo này nhắm đến đúng đối tượng hơn so với quảng cáo

banner.

- Pop-up: đây là dạng quảng cáo được thể hiện dưới dạng một cửa sổ mới khi

người sử dụng mở một trang web nào đó. Cửa sổ này không có các nội dung và

hình thức giống một trang web thông thường mà chỉ chứa duy nhất nội dung quảng

cáo. Cách duy nhất để thoát khỏi cửa sổ pop-up này là kích vào nút đóng cửa sổ này

ở góc trên, bên phải. Nhiều người sử dụng rất không thích kiểu quảng cáo này. Đặc

biệt là khi các cửa sổ pop-up liên tục xuất hiện khi đóng một trang web nào đó. Nếu

người sử dụng không thao tác nhanh, các pop-up hiện ra liên tục có thể dẫn đến treo



25



máy tính. Một dạng quảng cáo, ít gây bực mình hơn cho người sử dụng là pop-up

behinds, tức là cửa sổ quảng cáo được hiện ra nhưng nằm ở phía sau trang web mà

người sử dụng mở. Người sử dụng có thể nhìn thấy cửa sổ này khi đóng trang web

liên quan đến pop-up.

- Quảng cáo trung gian (interstitial ads): là quảng cáo được hiện ra khi người

sử dụng muốn mở một trang web nào đó, tuy nhiên quảng cáo chỉ tồn tại trong thời

gian ngắn khoảng vài giây rồi tự đóng lại, sau đó trang web tiếp tục được hiển thị.

Cảm nhận của người dùng đối với loại quảng cáo này cũng tương tự như đối với

quảng cáo bằng pop-up, tuy nhiên việc sử dụng hay không vẫn tùy thuộc mục đích

của công ty đăng quảng cáo.

- Quảng cáo động (active ads): là quảng cáo chạy qua một phần nào đó trên

trang web mà người sử dụng đang xem. Quảng cáo này thường là một đoạn phim

ngắn, có âm thanh và hình ảnh động. Quảng cáo kiểu này thu hút sự chú ý cao hơn

nhưng cũng tạo cảm giác khó chịu hơn nếu người dùng không quan tâm đến nội

dung quảng cáo vì hầu như không có cách nào để người dùng tự loại bỏ quảng cáo

này ngoại trừ đóng trang web đó lại.

- Đăng ký vào các cổng thông tin thương mại điện tử: là cách đăng ký vào cơ

sở dữ liệu thành viên trong các cổng thông tin điện tử. Khi khách hàng tiềm năng

tìm kiếm trên cơ sở dữ liệu này về các nội dung liên quan, khả năng tìm thấy công

ty sẽ cao hơn so với việc đăng ký trên các công cụ tìm kiếm phổ thông.

* Bán hàng qua mạng internet:

Hiện nay, xu thế mua các sản phẩm du lịch qua mạng internet ngày càng trở

nên phổ biến tạo điều kiện cho công cụ xúc tiến bán hàng qua mạng internet phát

triển. Trong quá trình bán hàng, người bán hàng có những nhiệm vụ chủ yếu là:

- Thăm dò, tìm kiếm những khách hàng mới.

- Truyền đạt một cách khéo léo những thông tin về sản phẩm, dịch vụ của

doanh nghiệp.

- Thực hiện việc bán.

- Cung cấp các dịch vụ cho khách hàng, cố vấn về các vấn đề khác nhau cho



26



khách hàng như cách sử dụng các trang thiết bị, những chú ý cần thiết khi nghỉ tại

khách sạn, phong tục tập quán nơi du khách đến...

- Nghiên cứu, thu thập thông tin về thị trường.

- Đánh giá tính chất của khách hàng và tham gia điều phối các sản phẩm,

dịch vụ.

* Tuyên truyền và quan hệ công chúng qua mạng internet:

Quan hệ với công chúng là một công cụ xúc tiến quan trọng. Các khách sạn

không những phải có mối quan hệ tốt với khách hàng, với các đối tác là những

người cung ứng, đại lý của mình mà còn phải quan hệ tốt với đông đảo công chúng

có quan tâm.

Công chúng có thể tạo thuận lợi hay gây trở ngại cho công ty đạt được những

mục tiêu của mình: du khách, doanh nghiệp, cư dân địa phương và chính quyền có

quan hệ và ảnh hưởng trực tiếp đến nhau. Các doanh nghiệp phải có bộ phận quan

hệ với công chúng để tham mưu cho lãnh đạo đề ra những chương trình marketing

tích cực và dàn xếp những dư luận không tốt và ngăn ngừa được nguyên nhân gây

ra dư luận không tốt.

Doanh nghiệp có thể quan hệ công chúng qua mạng internet thông qua các

công cụ sau:

- Quan hệ với báo chí, bao gồm các thông cáo báo chí, các cuộc họp báo trực

tuyến, cung cấp các bức ảnh để đăng báo mạng, các cuộc thi trên báo mạng.

- Xuất bản phẩm, bao gồm các báo cáo hàng năm, cuốn sách nhỏ, những bài

báo, những tư liệu nghe nhìn, bản tin, tạp chí của doanh nghiệp hay những bài viết

ngắn gọn của lãnh đạo doanh nghiệp được đăng tải trên website của doanh nghiệp

hay các website có liên quan khác.

- Đưa tin tức về sản phẩm, doanh nghiệp hay con người của doanh nghiệp

trên website của doanh nghiệp.

- Đăng lên mạng internet các video clip về các bài nói chuyện trước diễn giả,

hay trả lời phỏng vấn của lãnh đạo doanh nghiệp trước các phóng viên báo chí...

- Hoạt động công ích, doanh nghiệp có thể tham gia các hoạt động công ích



27



xã hội như tài trợ cho trẻ mồ côi, người già, các công trình công ích, các khu vực

thiên tai, lũ lụt, tài trợ cho các hoạt động khác... vấn đề là ở chỗ các thông tin trên

phải được lan truyền qua mạng internet đưa ra rộng rãi cho công chúng.

- Đăng tải trên website của doanh nghiệp những đặc điểm nhận dạng nổi bật

về sản phẩm, về doanh nghiệp như logo, danh thiếp, đồng phục của nhân viên... các

đặc điểm nhận dạng trên giúp khách hàng nhanh chóng nhận ra sản phẩm, doanh

nghiệp trong thị trường đầy những quảng cáo, thông điệp thương mại.

* Xúc tiến bán (Khuyến mại):

Nếu như quảng cáo là đưa ra những lý lẽ để mua hàng thì khuyến mại lại đưa

ra những hình thức kích thích tiêu thụ.

Kích thích tiêu thụ được hiểu là: ”Những hình thức thưởng trong thời gian

ngắn để khuyến khích dùng thử hay mua một sản phẩm hay dịch vụ” (Philip Kotler,

2009, trang 672)

Các công cụ khuyến mại chủ yếu với người tiêu dùng thông qua mạng

internet là:

- Phiếu mua hàng, là xác nhận người cầm giấy được hưởng quyền ưu đãi

giảm giá khi mua sản phẩm nhất định qua mạng internet

- Bán rẻ theo giá trọn gói, là cách khuyến khích khách hàng mua trọn gói

nhiều dịch vụ qua mạng internet

- Thưởng, là việc bán với giá thấp hay cho không một sản phẩm, dịch vụ nào

đó khi muốn khuyến khích khách mua sản phẩm, dịch vụ cụ thể khác qua mạng

internet

- Giải thưởng (thi, cá cược, trò chơi), là hình thức tạo cơ may để trúng giải

bằng tiền hay hiện vật thông qua các trò chơi, cuộc thi trên internet

- Phần thưởng cho khách thường xuyên, là các khoản tiền mặt hay các phần

thưởng khác cho những khách hàng đã sử dụng một số lần các dịch vụ nhất định

qua mạng internet.

* Marketing trực tiếp qua mạng internet:

Hầu hết các doanh nghiệp đều dựa chủ yếu vào quảng cáo, kích thích tiêu thụ



28



và bán hàng trực tiếp để đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm và dịch vụ của mình. Họ sử

dụng quảng cáo để tạo ra sự biết đến và quan tâm, kích thích tiêu thụ để khuyến

khích mua hàng và bán hàng trực tiếp để hoàn tất việc bán hàng. Marketing trực tiếp

cố gắng kết hợp cả 3 yếu tố này lại để đi đến chỗ bán hàng trực tiếp không qua

trung gian. Marketing trực tiếp được Hiệp hội marketing trực tiếp định nghĩa như

sau: “Marketing trực tiếp la một hệ thống tương tác của marketing có sử dụng mợt

hay nhiều phương tiện quảng cáo để tác động đến một phản ứng đáp lại đo được

va/hay việc giao dịch tại bất kỳ địa điểm nao” (Philip Kotler, 2009, trang 739).

Marketing trực tiếp qua mạng internet thường sử dụng thư điện tử. Các

doanh nghiệp lữ hành có thể gửi thư điện tử thông qua hệ thống cơ sở dữ liệu khách

hàng của mình để nhằm vào đối tượng khách hàng hiện tại hoặc có thể mua địa chỉ

thư điện tử khách hàng của các nhà cung cấp hộp thư điện tử để marketing trực tiếp

tới đối tượng khách hàng tiềm năng. Ngoài ra, các doanh nghiệp lữ hành cũng có

thể gửi catalogue các chương trình du lịch mới, chương trình khuyến mại, website

cũng như các nội dung quảng cáo tới hộp thư điện tử của khách hàng.

Tuy nhiên, do có nhiều doanh nghiệp áp dụng loại hình này (cả những doanh

nghiệp bán các sản phẩm hàng hóa và sản phẩm dịch vụ) nên số lượng thư gửi tới

cho khách hàng khá lớn và gây tác dụng ngược lại (Spam), khiến cho khách hàng

cảm thấy bị phiền nhiễu, không mở thư xem, thậm chí là xóa bỏ. Mặt khác, do sợ

nhiễm virut nên khách hàng thường không mở những hộp thư lạ do doanh nghiệp

gửi đến. Chính vì vậy, marketing trực tiếp qua mạng internet đạt hiệu quả cao hơn

đối với đối tượng khách hàng quen thuộc của doanh nghiệp.

Marketing trực tiếp qua mạng internet cũng có thể sử dụng công cụ điện

thoại internet. Nếu thường xuyên phải gọi điện thoại đường dài cho khách du lịch,

đây là cơ hội để các doanh nghiệp có thể sử dụng điện thoại IP. Điện thoại IP sử

dụng công nghệ Voice-over IP (VoIP) là cách truyền dẫn các cuộc gọi điện thoại qua

mạng internet.

Điện thoại internet không phải là điện thoại thật sự, đó là chương trình cho

phép một người chuyện trò với người khác qua internet. Nhưng nếu máy tính có



29



Windows, card âm thanh, loa, micro, modem và một ISP (Internet Service Provider:

Nhà cung cấp dịch vụ Internet) thu tiền sử dụng hàng tháng, doanh nghiệp có thể

biến Internet thành phương tiện truyền thông đường dài miễn phí. Tuy nhiên, chất

lượng của công cụ marketing trực tiếp này không cao và phải điều chỉnh nhiều

trong quá trình trò chuyện để có được một cuộc trò chuyện tương đối hoàn chỉnh.

Khi đánh giá tất cả những cuộc hội đàm internet theo điểm số từ 1 đến 10,

điện thoại thường sẽ đạt điểm 10 còn một cuộc hội đàm trên internet suôn sẻ nhất

cũng chỉ đạt điểm 5.

1.5.2. Xúc tiến qua các phương tiện điện tử khác

Ngoài việc xúc tiến trên internet, các khách sạn còn quảng cáo trên các

PTĐT dưới đây:

- Truyền thanh, đài truyền thanh địa phương thường là nơi quảng cáo tốt cho

du lịch, truyền thanh có số lượng độc giả đông, nhưng thời gian nghe quảng cáo lại

ngắn do vậy việc quảng cáo phải được lặp đi lặp lại nhiều lần, quảng cáo trên

phương tiện truyền thanh thích hợp nhất với khách đi xe hơi. Quảng cáo truyền

thanh thường được bán theo những đoạn xen vào giữa các chương trình phát thanh

chính và được bán theo giây, giá biến đổi theo thời điểm trong ngày. Nhược điểm

của phương tiện này là thời gian tiếp xúc quá ngắn, khán giả có thể không nghe kịp

những chi tiết quan trọng như số điện thoại, địa chỉ...khó trình bày được khung cảnh

của khách sạn hay nơi du lịch.

- Truyền hình: quảng cáo bằng truyền hình có ưu điểm là có thể tác động đến

người nghe bằng cả âm thanh và hình ảnh, đây là phương tiện hay được sử dụng

nhất để quảng cáo nói chung. Giống như truyền thanh, quảng cáo bằng truyền hình

khó uyển chuyển và lưu lại lâu trong trí nhớ của người xem. Quảng cáo bằng truyền

hình thường được xen vào giữa chương trình chính, vào đầu giờ buổi tối giá phát

chương trình quảng cáo thường là cao nhất, nếu kèm theo các chương trình đặc biệt

thì giá lại càng cao hơn. Người mua các chương trình quảng cáo thường muốn chọn

những đoạn thời gian liền cận với các chương trình hấp dẫn mà khán giả sẽ đón

xem như thể thao, các phim truyện hay, các game show lớn,...Vì thời gian chuẩn bị



30



cho quảng cáo khá dài nên quảng cáo truyền hình thường chịu sự sai lệch thời gian

từ lúc quyết định đến khi phát hình quảng cáo thực sự.

- Phát tuyến hẹp, là hình thức quảng cáo trên truyền hình cáp đến thẳng

những phân khúc thị trường tại một địa điểm đã chọn. Chi phí cho việc phát tuyến

hẹp thường rẻ hơn so với truyền hình thông thường.

- Phim ảnh du lịch là các hình thức quảng cáo thông qua các phòng trưng bày

du lịch của một địa phương hay chiếu các cuốn phim về địa phương hay điểm du

lịch của mình để lôi kéo khách.

- Xúc tiến qua màn hình điện tử: đó có thể là các bảng điện tử cỡ lớn được

đặt tại các ngã ba, ngã tư hoặc những nơi đông người qua lại như siêu thị, các trung

tâm thương mại.

- Xúc tiến qua điện thoại bàn và điện thoại di động: thực tế quảng cáo trên

điện thoại di động ở nước ta hiện nay mới phổ biến ở dạng quảng cáo banner và

nhắn tin, chỉ đáp ứng được các mục tiêu marketing đơn giản. Bên cạnh đó các hình

thức quảng cáo thường này thường bị phớt lờ thậm chí gây khó chịu cho khách

hàng. Tuy nhiên, các doanh nghiệp khách sạn cũng thường sử dụng công cụ xúc tiến

qua điện thoại trợ giúp trong quá trình đặt phòng của khách. Với công cụ bán hàng

cá nhân, điện thoại là PTĐT mang lại hiệu quả xúc tiến khá cao.



31



CHƯƠNG 2. PHƯƠNG PHÁP VÀ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

Trong nghiên cứu này tác giả sử dụng phối hợp cả việc sử dụng dữ liệu thứ

cấp và dữ liệu sơ cấp trong phân tích kết quả nghiên cứu để hỗ trợ và kiểm tra lẫn

nhau nhằm khẳng định các kết quả nghiên cứu.

2.1. Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu thứ cấp

Việc thu thập các dữ liệu thứ cấp được thực hiện thông qua 3 bước cơ bản sau:

- Bước 1: Xác định dữ liệu cần thu thập

Dựa vào nội dung của đề tài, tác giả xác định những dữ liệu cần và có thể thu

thập được để phục vụ cho quá trình nghiên cứu đề tài. Bao gồm:

+ Các thông tin về bán hàng và khách hàng mà doanh nghiệp đã bán được.

Số liệu bán hàng cung cấp những thông tin về khối lượng sản phẩm dịch vụ đã bán

được như công suất sử dụng buồng phòng, số lượng buồng có khách theo đêm...,

trong đó xem xét số lượng khách hàng đặt phòng hoặc các dịch vụ qua các PTĐT

chiếm tỷ lệ bao nhiêu phần trăm. Trong số liệu về khách hàng hỗn hợp thường bao

hàm cả doanh thu bán hàng và số lượng khách hàng của thị trường mục tiêu. Thông

tin cụ thể về khách hàng mục tiêu là cơ sở để đánh giá hoạt động XTHH của Khách

sạn có nhắm đúng vào đối tượng khách hàng mục tiêu hay không, việc thiết kế

thông điệp có phù hợp với thị trường mục tiêu đó hay không.

+ Các thông tin từ những cơ sở dữ liệu và số liệu thống kê. Khách sạn

thường thiết lập cho mình một cơ sở dữ liệu nội bộ về khách hàng cá nhân bằng

cách thiết lập các chương trình phần mềm vi tính riêng để lưu giữ các thông tin về

khách hàng cá nhân, thông tin về bán hàng cho khách, về nhân khẩu học và các

thông tin khác để có thể đưa ra hình thức xúc tiến phù hợp.

+ Các thông tin từ các câu hỏi thăm dò, các yêu cầu trực tiếp của khách hàng

hoặc các đơn vị trung gian được Khách sạn ghi chép lại cũng là những nguồn thông

tin tốt cho việc nghiên cứu những đánh giá cũng như mong muốn của khách hàng

về hoạt động XTHH qua các PTĐT của Khách sạn.

+ Các số liệu thống kê về việc đặt hàng của khách bị từ chối do khách sạn

không đủ khả năng đáp ứng, do quá tải... là những thông tin tốt giúp tác giả có thể



32



nghiên cứu hoàn thiện hoạt động xúc tiến qua các PTĐT để đáp ứng tốt hơn nhu cầu

của khách hàng.

+ Các thông tin liên quan đến cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp cũng như kết

quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, sự phân bổ doanh thu cho ngân sách

dành cho hoạt động XTHH, các hoạt động cụ thể của hoạt động XTHH, trong đó có

XTHH qua các PTĐT để từ đó tác giả có thể phân tích, tính tỷ lệ phần trăm ngân

sách dành cho hoạt động XTHH qua các PTĐT của Khách sạn.

- Bước 2: Thu thập dữ liệu

Từ việc xác định dữ liệu cần thu thập, tác giả tiến hành tìm kiếm, thu thập

trong các nguồn tài liệu khác nhau. Bao gồm các nguồn sau:

+ Các báo cáo sản xuất kinh doanh, nguồn dữ liệu nội bộ của khách sạn

Sofitel Legend Metropole Hà Nội.

+ Các bài viết, các thông cáo báo chí, các quảng cáo của hoạt động XTHH

trong Khách sạn qua mạng internet, qua các PTĐT khác, về các hình thức marketing

online, tiếp thị số... trên các sách, báo, tạp chí, mạng internet...

+ Các nghiên cứu của các tác giả khác nhau từ các trường đại học,các công

trình liên quan đến hoạt động XTHH của Khách sạn Sofitel Metropole Hà Nội đã

được đăng tải, công bố.

- Bước 3: Xử lý dữ liệu

Dữ liệu thứ cấp thu thập được từ nhiều nguồn khác nhau và đã được sử dụng

cho nhiều mục đích khác nhau. Vì vậy, sau khi đã thu thập, tác giả tiến hành tổng

hợp lại cho phù hợp với nội dung của đề tài thông qua việc ghi chép, tổng hợp lại

các thông tin liên quan đến xúc tiến qua các PTĐT của khách sạn Sofitel Legend

Metropole Hà Nội.

Nhằm kết nối các dữ liệu thứ cấp, tác giả sử dụng phương pháp phân tích và

phép tư duy biện chứng để đưa ra những đánh giá, nhận định về thực trạng hoạt

động xúc tiến qua các PTĐT của khách sạn Sofitel Legend Metropole Hà Nội. Từ

những bảng, biểu của dữ liệu thứ cấp này, tác giả tiến hành biểu diễn các số liệu qua

các biểu đồ hình tròn, hình cột... để thể hiện rõ ràng hơn số liệu thu thập được và tạo



33



điều kiện cho việc đánh giá thực trạng hoạt động XTHH qua các PTĐT của Khách

sạn Sofitel Legend Metropole Hà Nội.

2.2. Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu sơ cấp

2.2.1. Nghiên cứu dữ liệu sơ cấp trên cơ sở điều tra khách hàng

Để có thêm thông tin cho quá trình nghiên cứu, tác giả tiến hành khảo sát,

nghiên cứu tại khách sạn Sofitel Legend Metropole Hà Nộivà đối tượng khách hàng

của khách sạn này. Quy trình tiến hành nghiên cứu hoạt động xúc tiến qua các

PTĐT của khách sạn Sofitel Legend Metropole Hà Nội của tác giả bao gồm các

bước cụ thể sau:

2.2.1.1. Xác định vấn đề va mục tiêu nghiên cứu

Việc xác định mục tiêu nghiên cứu là giai đoạn cơ bản của cuộc nghiên cứu

vì nó sẽ quyết định cách thức tiến hành cũng như phạm vi thu thập thông tin, xử lý

thông tin, kế hoạch thực hiện...

Sau khi tiến hành nghiên cứu trên các dữ liệu thứ cấp, tác giả đã có những

hiểu biết nhất định về hoạt động xúc tiến qua các PTĐT của khách sạn Sofitel

Legend Metropole Hà Nội. Tuy nhiên, vẫn có một số vấn đề và mục tiêu nghiên cứu

cần phải làm rõ. Và những thông tin cần thiết phải thu thập thêm đó là:

- Mức độ ứng dụng hoạt động xúc tiến qua các PTĐT của doanh nghiệp; sự

phân bổ nguồn lực con người, tài chính cho hoạt động xúc tiến này; sự phối hợp các

công cụ xúc tiến ra sao?

- Tìm hiểu cách mà thông tin truyền thông của doanh nghiệp đến với

khách hàng;

- Những đánh giá, mong đợi của khách hàng về hoạt động xúc tiến của doanh

nghiệp.

2.2.1.2. Xây dựng kế hoạch nghiên cứu

Khi thiết kế một kế hoạch nghiên cứu, tác giả quyết định về các vấn đề cơ

bản sau: nguồn thông tin; phương pháp nghiên cứu; công cụ nghiên cứu; kế hoạch

lấy mẫu và phương pháp tiếp xúc. Với đề tài này, kế hoạch nghiên cứu của tác giả

cụ thể như sau:



34



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 1.2: Mô hình 7C trong đánh giá một website

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×