Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 2. PHƯƠNG PHÁP VÀ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 2. PHƯƠNG PHÁP VÀ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ - 0trang

nghiên cứu hoàn thiện hoạt động xúc tiến qua các PTĐT để đáp ứng tốt hơn nhu cầu

của khách hàng.

+ Các thông tin liên quan đến cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp cũng như kết

quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, sự phân bổ doanh thu cho ngân sách

dành cho hoạt động XTHH, các hoạt động cụ thể của hoạt động XTHH, trong đó có

XTHH qua các PTĐT để từ đó tác giả có thể phân tích, tính tỷ lệ phần trăm ngân

sách dành cho hoạt động XTHH qua các PTĐT của Khách sạn.

- Bước 2: Thu thập dữ liệu

Từ việc xác định dữ liệu cần thu thập, tác giả tiến hành tìm kiếm, thu thập

trong các nguồn tài liệu khác nhau. Bao gồm các nguồn sau:

+ Các báo cáo sản xuất kinh doanh, nguồn dữ liệu nội bộ của khách sạn

Sofitel Legend Metropole Hà Nội.

+ Các bài viết, các thông cáo báo chí, các quảng cáo của hoạt động XTHH

trong Khách sạn qua mạng internet, qua các PTĐT khác, về các hình thức marketing

online, tiếp thị số... trên các sách, báo, tạp chí, mạng internet...

+ Các nghiên cứu của các tác giả khác nhau từ các trường đại học,các công

trình liên quan đến hoạt động XTHH của Khách sạn Sofitel Metropole Hà Nội đã

được đăng tải, công bố.

- Bước 3: Xử lý dữ liệu

Dữ liệu thứ cấp thu thập được từ nhiều nguồn khác nhau và đã được sử dụng

cho nhiều mục đích khác nhau. Vì vậy, sau khi đã thu thập, tác giả tiến hành tổng

hợp lại cho phù hợp với nội dung của đề tài thông qua việc ghi chép, tổng hợp lại

các thông tin liên quan đến xúc tiến qua các PTĐT của khách sạn Sofitel Legend

Metropole Hà Nội.

Nhằm kết nối các dữ liệu thứ cấp, tác giả sử dụng phương pháp phân tích và

phép tư duy biện chứng để đưa ra những đánh giá, nhận định về thực trạng hoạt

động xúc tiến qua các PTĐT của khách sạn Sofitel Legend Metropole Hà Nội. Từ

những bảng, biểu của dữ liệu thứ cấp này, tác giả tiến hành biểu diễn các số liệu qua

các biểu đồ hình tròn, hình cột... để thể hiện rõ ràng hơn số liệu thu thập được và tạo



33



điều kiện cho việc đánh giá thực trạng hoạt động XTHH qua các PTĐT của Khách

sạn Sofitel Legend Metropole Hà Nội.

2.2. Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu sơ cấp

2.2.1. Nghiên cứu dữ liệu sơ cấp trên cơ sở điều tra khách hàng

Để có thêm thông tin cho quá trình nghiên cứu, tác giả tiến hành khảo sát,

nghiên cứu tại khách sạn Sofitel Legend Metropole Hà Nộivà đối tượng khách hàng

của khách sạn này. Quy trình tiến hành nghiên cứu hoạt động xúc tiến qua các

PTĐT của khách sạn Sofitel Legend Metropole Hà Nội của tác giả bao gồm các

bước cụ thể sau:

2.2.1.1. Xác định vấn đề va mục tiêu nghiên cứu

Việc xác định mục tiêu nghiên cứu là giai đoạn cơ bản của cuộc nghiên cứu

vì nó sẽ quyết định cách thức tiến hành cũng như phạm vi thu thập thông tin, xử lý

thông tin, kế hoạch thực hiện...

Sau khi tiến hành nghiên cứu trên các dữ liệu thứ cấp, tác giả đã có những

hiểu biết nhất định về hoạt động xúc tiến qua các PTĐT của khách sạn Sofitel

Legend Metropole Hà Nội. Tuy nhiên, vẫn có một số vấn đề và mục tiêu nghiên cứu

cần phải làm rõ. Và những thông tin cần thiết phải thu thập thêm đó là:

- Mức độ ứng dụng hoạt động xúc tiến qua các PTĐT của doanh nghiệp; sự

phân bổ nguồn lực con người, tài chính cho hoạt động xúc tiến này; sự phối hợp các

công cụ xúc tiến ra sao?

- Tìm hiểu cách mà thông tin truyền thông của doanh nghiệp đến với

khách hàng;

- Những đánh giá, mong đợi của khách hàng về hoạt động xúc tiến của doanh

nghiệp.

2.2.1.2. Xây dựng kế hoạch nghiên cứu

Khi thiết kế một kế hoạch nghiên cứu, tác giả quyết định về các vấn đề cơ

bản sau: nguồn thông tin; phương pháp nghiên cứu; công cụ nghiên cứu; kế hoạch

lấy mẫu và phương pháp tiếp xúc. Với đề tài này, kế hoạch nghiên cứu của tác giả

cụ thể như sau:



34



- Nguồn thông tin: Thông tin được thu thập từ nguồn số liệu sơ cấp, bao gồm

cả dữ liệu sơ cấp định lượng và dữ liệu sơ cấp định tính

- Phương pháp nghiên cứu: Tác giả sử dụng phương pháp điều tra thăm dò.

Trong đó tác giả soạn sẵn những câu hỏi để điều tra khách hàng. Phương pháp này

thích hợp nhất với nghiên cứu mô tả, có thể điều tra căn cứ trên thực tế.

- Công cụ nghiên cứu: Sử dụng bảng câu hỏiđược thiết kế riêng cho đối

tượng khách hàng tại khách sạn Sofitel Legend Metropole Hà Nội.

2.2.1.3. Thực hiện việc thu thập thông tin

Khi tiến hành thu thập thông tin qua dữ liệu sơ cấp, trước khi đưa ra bảng hỏi

chính thức, tác giả tiến hành thực hiện các bước sau:

* Điều tra sơ bộ:

Đầu tiên, tác giả tiến hành nghiên cứu sơ bộ theo phương pháp thảo luận

nhóm: Nhóm tiêu điểm được thành lập gồm 5 người. Trong buổi thảo luận, người

nghiên cứu trình bày về mục đích và nội dung của cuộc thảo luận. Sau đó buổi thảo

luận diễn ra dưới sự dẫn dắt của người nghiên cứu về chủ đề nghiên cứu hoạt động

XTHH qua các PTĐT của Khách sạn Sofitel Legend Metropole Hà Nội

- Kết quả: Việc thảo luận nhóm giúp người nghiên cứu hoàn thiện hơn nội

dung các câu hỏi mà đề tài cần phải nghiên cứu.

Từ việc thảo luận nhóm, tác giả thiết kế bảng hỏi ban đầu.

* Điều tra thử:

Thực hiện việc điều tra thử nhằm hiệu chỉnh lại ngữ, nghĩa của các câu hỏi

trong bảng hỏi, tìm ra đâu là những câu hỏi mà người trả lời dễ hiểu nhầm. Ngoài

việc có thể hiệu chỉnh lại bảng hỏi, đây còn là cơ sở để tập huấn cho các phỏng vấn

viên, giảm bớt những sai sót trong quá trình thu thập thông tin. Tác giả tiến hành

điều tra thử như sau:

Người nghiên cứu thông qua lễ tân của khách sạn Sofitel Legend Metropole

Hà Nộiđưa trực tiếp cho khoảng 5 khách hàng của khách sạn trả lời những câu hỏi

trong bản hỏi ban đầu, khách hàng suy nghĩ nội dung trong câu hỏi và trả lời theo ý

khách hàng. Có nội dung nào chưa rõ khách hàng phản hồi lại và được người

nghiên cứu giải thích.



35



Sau khi điều tra thử, người nghiên cứu tiến hành chỉnh sửa, hoàn tất nội

dung, ngữ, nghĩa các câu hỏi trong bảng hỏi cho phù hợp hơn.

Phiếu khảo sát dành cho khách hàng gồm 3 phần: (nội dung phiếu khảo sát

bằng tiếng Việt, Anh, Pháp được trình bày trong phần phụ lục 1):

Phần I: Các câu hỏi liên quan đến hành vi mua của khách: số lần đã nghỉ tại

khách sạn, cách thức tìm kiếm thông tin và đặt phòng hoặc các dịch vụ liên quan

khác tại Khách sạn

Phần II: Những đánh giá của khách hàng về hoạt động xúc tiến qua các

PTĐT của khách sạn: được tiếp cận với những hoạt động xúc tiến nào, đánh giá về

hiệu quả của các hoạt động đó trong hành vi mua sản phẩm khách sạn của chính

khách hàng, mong muốn của khách hàng về hoạt động xúc tiến của khách sạn. Đặc

biệt, khách hàng sẽ đánh giá các tiêu chí liên quan đến mô hình 7C trong đánh giá

website của khách sạn Sofitel Legend Metropole Hà Nội.

Phần III: Một số thông tin về người trả lời bảng hỏi bao gồm: Giới tính, độ

tuổi, quốc tịch.

* Điều tra chính thức:

Sau khi điều chỉnh bảng hỏi, người nghiên cứu sẽ tiến hành điều tra chính

thức với mẫu điều tra như sau:

Người điều tra gửi 160 phiếu khảo sát bằng bản cứng cho khách hàng ngẫu

nhiên của khách sạn Sofitel Legend Metropole Hà Nội. Ngoài ra, thông qua 10 địa

chỉ email khách hàng của khách sạn Sofitel Legend Metropole Hà Nội, người

nghiên cứu tiến hành thiết kế một bản điều tra qua survey online và bản phiếu điều

tra qua google docs (nội dung phiếu khảo sát online được trình bày trong phần phụ

lục 2) và gửi đường link bảng hỏi đến 10 địa chỉ mail trên.

Phiếu khảo sát ngoài phần tiếng Việt còn được dịch sang 2 thứ tiếng: Anh,

Pháp. Số lượng phiếu thu về là 123 phiếu, số phiếu hợp lệ là 123 phiếu, chiếm tỷ lệ

72,35%.

- Thời gian điều tra: Tháng 6 đến hết tháng 10/2014

- Địa điểm điều tra: Tại khách sạn Sofitel Legend Metropole Hà Nội, 15 Ngô

Quyền, Hà Nội.



36



2.2.1.4. Xử lý dữ liệu sơ cấp thu thập được

Các dữ liệu thu thập được ở dạng thô cần được phân tích để có giá trị hơn,

trước hết, tác giả kiểm tra các dữ liệu để phát hiện lỗi, những chỗ bỏ sót, những

đoạn không rõ nghĩa, sau đó mã hoá để nạp những câu trả lời vào máy tính. Từ

những số liệu đó có thể xử lý, tính toán các câu trả lời dưới dạng bảng biểu, sử dụng

các mô hình, các phương pháp thống kê để phát hiện ra các quy luật cần thiết, phân

tích các cụm nhân tố và các mối quan hệ, dùng phương pháp phân tích, phương

pháp thống kê và phép tư duy biện chứng để đưa ra những phân tích, đánh giá, nhận

định về thực trạng hoạt động xúc tiến qua các PTĐT của khách sạn Sofitel Legend

Metropole Hà Nội. Cụ thể như sau:

- Câu Q1, Q6, Q9: Đây là câu hỏi lựa chọn 1 đáp án duy nhất, đầu tiên, tác

giả thống kê số lựa chọn và tính tỷ lệ lựa chọn theo công thức

Tỷ lệ lựa chọn đáp án i = Số khách hàng lựa chọn đáp án i/Tổng số

khách hàng lựa chọn các đáp án

Tổng tỷ lệ các đáp án bằng 100%. Do đó,tác giả sử dụng biểu đồ hình tròn

trong thể hiện tỷ lệ lựa chọn

Q1 – tác giả tổng hợp các phiếu điều tra về các lựa chọn của khách hàng về

số lần đến với Khách sạn, sau đó dùng biểu đồ hình tròn để thể hiện tỷ lệ phần trăm

lựa chọn của khách hàng.

Tương tự như vậy, tác giả cũng sử dụng biểu đồ hình tròn để thể hiện tỷ lệ

phần trăm phạm vi tìm kiếm thông tin qua các trang web tìm kiếm của khách hàng

trong Q6 và trả lời của khách hàng về việc có hay không tiếp tục sử dụng PTĐT

trong tìm kiếm thông tin và giao dịch với Khách sạn (Q9).

- Câu Q2, Q3, Q5, Q7, Q8: Đây là các câu hỏi lựa chọn, nhưng khách hàng

có thể lựa chọn nhiều đáp án trong số các đáp án đưa ra. Tác giả thống kê số lựa

chọn và tính tỷ lệ lựa chọn theo công thức

Tỷ lệ lựa chọn đáp án i = Số khách hàng lựa chọn đáp án i/Tổng số

khách hàng lựa chọn các đáp án

Tuy nhiên, tổng tỷ lệ các lựa chọn ở đây không bằng 100%, do đó tác giả sử

dụng biểu đồ hình cột để thể hiện tỷ lệ lựa chọn các đáp án của khách hàng về hình



37



thức tiếp cận thông tin, hình thức đặt phòng, các trang web tìm kiếm thông tin, các

mạng xã hội mà khách hàng tham gia và những thông tin từ email mà khách hàng

muốn nhận.

- Câu Q4: Gồm 7 yếu tố để khách hàng đánh giá các mức điểm. Cụ thể:

+ Yếu tố nội dung của website bao gồm 5 biến số

+ Yếu tố giao diện website với 3 biến số

+ Yếu tố liên kết trong website với 2 biến số

+ Yếu tố thông tin liên lạc với 4 biến số

+ Yếu tố thương mại với 3 biến số

+ Yếu tố cộng đồng với 1 biến số

+ Yếu tố cá biệt hóa với 3 biến số

- Câu Q10: câu hỏi mở để khách hàng đóng góp ý kiến

- Câu Q11: một số thông tin về cá nhân khách hàng: độ tuổi, giới tính,

quốc tịch

Tác giả tính toán mức điểm đánh giá của khách hàng vềtừng biến số trong

yếu tố đánh giá 7C trong website của Khách sạn Sofitel Metropole Hà Nội dựa vào

công thức tính số bình quân:



xi 



x f

f

j



ij



ij



Trong đó:



- i, j = 1, 2, 3... n: số lựa chọn và mức điểm đánh giá



- xi : mức điểm đánh giá bình quân của yếu tố i

- xj: mức điểm đánh giá thứ j

- fij: tần số của mức điểm đánh giá thứ j thuộc yếu tố i

Dựa vào mức điểm đánh giá bình quân đó, tác giả đưa ra nhận xét về các tiêu

chí trong mô hình 7C khi đánh giá website của Khách sạn

Trên cơ sở kết quả điều tra và các tính toán có được, tác giả sẽ xác định được

mức điểm đánh giá của khách hàng đối với website của doanh nghiệp chính xác

hơn, giúp việc lựa chọn công cụ và phân bổ ngân sách cho từng công cụ XTHH qua

các PTĐT mang tính khoa học và hiệu quả hơn.



38



Các kết quả chi tiết thu thập được từ phiếu khảo sát dành cho khách hàng

được tác giả tổng hợp và trình bày trong phần phụ lục 3 (xem phụ lục 3).

2.2.2. Nghiên cứu dữ liệu sơ cấp trên cơ sở phỏng vấn chuyên sâu nhà

quản trị của Khách sạn

2.2.2.1. Xác định thông tin cần thu thập

Với các câu hỏi phỏng vấn chuyên sâu này, tác giả muốn tìm hiểu rõ hơn về

cách thức mà khách sạn Sofitel Legend Metropole Hà Nội tiến hành hoạt động xúc

tiến: Quy trình xúc tiến qua các PTĐT của các khách sạn: việc xác định đối tượng

nhận tin mục tiêu, phản ứng đáp lại của người nhận tin, thiết kế thông điệp, phương

pháp xác định và ngân sách dành cho hoạt động xúc tiến cũng như việc đánh giá

hiệu quả của hoạt động xúc tiến qua các PTĐT như thế nào? Tìm hiểu về nguyên

nhân của các quyết định trong hoạt động XTHH qua các PTĐT trong Khách sạn.

2.2.2.2. Thu thập thông tin

* Điều tra sơ bộ:

Cũng giống như bảng hỏi dành cho khách hàng, tác giả tiến hành nghiên cứu

sơ bộ theo phương pháp thảo luận nhóm. Trong buổi thảo luận, người nghiên cứu

trình bày về mục đích và nội dung của cuộc thảo luận. Sau đó buổi thảo luận diễn ra

dưới sự dẫn dắt của người nghiên cứu về các chủ đề cần nghiên cứu thêm, cần phải

làm rõ (khi đã có kết quả của bảng hỏi dành cho khách hàng). Việc thảo luận nhóm

giúp người nghiên cứu hoàn thiện hơn nội dung các câu hỏi phỏng vấn chuyên sâu

các nhà quản trị mà đề tài cần phải nghiên cứu.

Từ việc thảo luận nhóm, tác giả thiết kế các câu hỏi phỏng vấn chuyên sâu.

* Điều tra chính thức:

Khi tiến hành phỏng vấn chuyên sâu, tác giả không tiến hành điều tra thử, mà

trực tiếp phỏng vấn các nhà quản trị của khách sạn Sofitel Legend Metropole Hà

Nội, trong quá trình hỏi, có vấn đề gì không rõ, người được phỏng vấn chuyên sâu

phản hồi trực tiếp lại và người nghiên cứu sẽ giải đáp luôn.

Các câu trả lời được người phỏng vấn lĩnh hội và ghi lại thành một bản ghi.

Ngoài ra toàn bộ nội dung của cuộc phỏng vấn cũng được ghi âm (nội dung phỏng

vấn chuyên sâu - xem phụ lục 4)



39



Địa điểm phỏng vấn: Do tính chất công việc của người được phỏng vấn là

ban lãnh đạo Công ty thường bận rộn nên địa điểm phỏng vấn được chọn là tại trụ

sở khách sạn Sofitel Legend Metropole Hà Nội, 15 Ngô Quyền, Hà Nội.

Thời lượng phỏng vấn: Thời gian của cuộc phỏng vấn được thiết kế kéo dài

trong 30 phút.

Thời điểm phỏng vấn: Tác giả điện thoại liên hệ trước với đối tượng được

phỏng vấn. Sau đó thống nhất thời điểm phỏng vấn cho phù hợp với đối tượng

phỏng vấn sao cho người được hỏi có một khoảng thời gian thoải mái nhất khi trả

lời các câu hỏi của người nghiên cứu.

Thời gian phỏng vấn: Tháng 11/2014

Mợt số lưu ý trong quá trình phỏng vấn: Người phỏng vấn luôn giữ được tính

trung lập trong suốt quá trình phỏng vấn. Trong bất ky trường hợp nào phỏng vấn viên

cũng không để lộ quan điểm riêng của mình đối với vấn đề nghiên cứu. Đặc biệt trong

nghiên cứu này phỏng vấn sâu được thực hiện sau khi đã có kết quả của nghiên cứu

định lượng (bảng hỏi) do đó người nghiên cứu đưa ra những câu hỏi trung lập tránh

dẫn dắt cuộc phỏng vấn theo kết quả nghiên cứu định lượng đã có. Nhịp độ cuộc

phỏng vấn là vừa phải, với những câu hỏi đòi hỏi người được phỏng vấn cần suy luận

thì cần dành một khoảng thời gian nhưng không quá dài. Mọi diễn biến trong cuộc

phỏng vấn mặc dù được ghi âm toàn bộ nhưng tác giả vẫn ghi chép đầy đủ, trung thực,

rõ ràng bằng bút. Ngoài việc ghi chép các câu trả lời của người được phỏng vấn, tác

giả chú ý ghi chú cả ngữ điệu, hành vi, nét mặt, điệu bộ của người trả lời.

2.2.2.3. Xử lý dữ liệu thu thập được

Từ thông tin thu thập được qua quá trình phỏng vấn chuyên sâu nhà quản trị,

tác giả tiến hành phân tích, đưa từng nội dung phỏng vấn vào từng phần tương ứng

trong nội dung của hoạt động XTHH qua các PTĐT của khách sạn Sofitel Legend

Metropole Hà Nội.



40



CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN QUA

PHƯƠNG TIỆN ĐIỆN TỬ CỦA KHÁCH SẠN SOFITEL LEGEND

METROPOLE HÀ NỘI

3.1. Tổng quan về khách sạn Sofitel Legend Metropole Hà Nội

3.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của khách sạn Sofitel Legend

Metropole Hà Nợi

Tên tiếng Việt: CƠNG TY LIÊN DOANH KHÁCH SẠN THỐNG NHẤT

METROPOLE

Tên tiếng Anh: Sofitel Legend Metropole Hanoi Hotel

Địa chỉ: 15 Ngô Quyền, Hoan Kiếm, Ha Nội

Tel: + 84 4 38266919; Fax: 84 4 38266920; website: www.sofitellegend.com

Email: sofitelhanoi@hn.vnn.vn

Là khách sạn 5 sao đầu tiên ở Hà Nội với lịch sử hoạt động hơn một thế kỷ.

Nằm ở trung tâm thành phố Hà Nội, gần hồ Hoàn Kiếm, Sofitel Legend

Metropole Hà Nội là khách sạn được xây dựng theo phong cách kiến trúc thuộc địa

kiểu Pháp. Nổi bật với nước sơn trắng sang trọng, khung cửa xanh với những chi

tiết sắt gia công tinh tế, Sofitel Legend Metropole Hà Nội là một trong số ít những

khách sạn còn lại trong khu vực vẫn giữ được dáng vẻ kiến trúc cổ kính từ những

năm đầu thế kỷ XX.

Được xây dựng vào năm 1901 bởi hai nhà đầu tư người Pháp dưới tên gọi

Grand Hotel Metropole Palace, thuộc một chi nhánh của Công ty các khách sạn

Pháp ở Paris - Compagnie Francaise Hoteliere. Sau khi đi vào hoạt động, Khách sạn

nhanh chóng trở thành nơi gặp gỡ của xã hội thuộc địa trong nửa đầu thế kỷ XX.

Sau khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng (1954), Khách sạn trở thành tài sản

của Chính phủ Việt Nam, đổi tên thành nhà khách Thống Nhất và được sử dụng để

đón tiếp các đoàn khách cao cấp của Chính phủ. Trong suốt thời gian sau đó Khách

sạn trở thành nơi gặp gỡ của giới báo chí và chính trị.



41



Năm 1988, nhà khách Thống Nhất nằm dưới sự quản lý của Tập đoàn Accor

(Pháp) - một tập đoàn chuyên về du lịch và quản lý khách sạn, mở ra một thời ky

phát triển mới cho hoạt động kinh doanh của Khách sạn. Năm 1991, Khách sạn tạm

dừng hoạt động để nâng cấp lại. Giai đoạn đầu, sau hơn chín tháng trùng tu, nâng

cấp, Khách sạn hoạt động trở lại vào tháng 3 năm 1992 và được gọi lại dưới tên

Sofitel Metropole. Giai đoạn hai, đến năm 1994, sau khi hoàn thành công cuộc

trùng tu, sửa chữa 135 phòng Opera Wing và xây dựng trung tâm Metropole 4 tầng,

Khách sạn mở cửa trở lại vào tháng 12 năm 1996 nâng tổng số phòng lên 244

phòng. Tháng 9 năm 2004, Sofitel Metropole Hà Nội lại tiếp tục nâng cấp 48 phòng

khách và căn hộ tại Metropole Wing, xây dựng một trung tâm thương mại sang

trọng tại tầng trệt và lát sàn gỗ tất cả các phòng Opera Wing. Tháng 9 năm 2005,

Sofitel Metropole Hà Nội hoàn thành giai đoạn nâng cấp 61 phòng khách tại

Metropole Wing và toàn bộ khu vực tiền sảnh và cổng chính.

Hiện nay, Sofitel Metropole Hà Nội được coi là một ốc đảo quyến rũ trong

lòng Hà Nội, nổi tiếng với truyền thống hiếu khách và các trang thiết bị tốt nhất

theo tiêu chuẩn Châu Âu. Hãnh diện là khách sạn năm sao đầu tiên ở Hà Nội với bề

dày lịch sử đáng tự hào, gắn liền với tên tuổi của rất nhiều chính khách quốc tế,

nguyên thủ quốc gia và các nhân vật nổi tiếng như cựu Tổng thống Mỹ George

Bush, Tổng thống Pháp Jacques Chirac, diễn viên điện ảnh Mỹ Jane Fonda, diễn

viên hài Charlie Chaplin, tiểu thuyết gia Somerset Maugham - người viết cuốn tiểu

thuyết nổi tiếng “Người Mỹ trầm lặng” trong thời gian nghỉ tại Khách sạn… Không

chỉ vậy, Khách sạn còn liên tục nằm trong danh sách những khách sạn hàng đầu ở

Hà Nội, trên toàn lãnh thổ Việt Nam, khu vực Châu Á cũng như trên toàn thế giới

do các tạp chí và tổ chức có uy tín trong ngành bình chọn.

3.1.2. Các lĩnh vực kinh doanh của Khách sạn

- Kinh doanh lưu trú:

Hiện nay, khách sạn có 364 phòng sang trọng, lịch sự, được thiết kế theo

phong cách trang nhã và được trang bị đầy đủ các trang thiết bị theo tiêu chuẩn

quốc tế, mang đến cho quý khách sự tiện nghi và thoải mái với máy điều hoà 2



42



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 2. PHƯƠNG PHÁP VÀ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×