Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN TÀI LIỆU

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Tải bản đầy đủ - 0trang

bàn Hà Nội (nghiên cứu điển hình tại 5 doanh nghiệp lữ hành trên địa bàn Hà Nội),

không đề cập đến hoạt động xúc tiến tại các doanh nghiệp khách sạn.

* Hoàng Văn Thành, 2005.Một số giải pháp nhằm hoan thiện quản trị

marketing kinh doanh khách sạn ở vùng du lịch Bắc Bộ nước ta. Luận án tiến sĩ

kinh tế, Trường Đại học Thương mại.

Trong nội dung của luận án,người nghiên cứu đã đưa ra khái niệm, nội dung

lý luận của quản trị marketing trong khách sạn phù hợp với điều kiện cơ chế thị

trường và hội nhập kinh tế Việt Nam. Thực trạng và các giải pháp hoàn thiện quản

trị marketing trong các khách sạn nhà nước ở vùng du lịch Bắc Bộ.

Phương pháp nghiên cứu: Tác giả dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa

duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, phương pháp tiếp cận logic, hệ thống

Những phương pháp nghiên cứu cụ thể là: các phương pháp thống kê,

phương pháp điều tra phỏng vấn, các phương pháp toán, phân tích, phương pháp

chuyên gia và mô hình hóa.

* Trương Sỹ Vinh, 2008. Một số ứng dụng của internet marketing trong kinh

doanh



du



lịch.


cua-internet-marketing-trong-kinh-doanh-du-lich.html>. [Ngày truy cập: 18 tháng 3

năm 2015].

Bài viết giới thiệu một số hình thức Internet marketing có khả năng áp dụng

trong kinh doanh du lịch.

Tác giả cũng trình bày một số hình thức Internet marketing mang tính phổ

biến, được nhiều doanh nghiệp trên thế giới ưa dùng, bao gồm: Marketing thông

qua Email; Website marketing; Blog marketing

Tuy nhiên, các công trình trên mới chỉ đề cập đến hoạt động xúc tiến trong

kinh doanh khách sạn nói chung, hoặc hoạt động XTHH của khách sạn Sofitel

Legend Metropole, hoặc hoạt động XTHH qua mạng internet trong kinh doanh du

lịch marketing – mix cho khách sạn Sofitel Legend Metropole Hà Nội, chưa có

công trình nào nghiên cứu về hoạt động xúc tiến du lịch của khách sạn Sofitel

Legend Metropole Hà Nội thông qua phương tiện hiện đại là PTĐT.



6



1.1.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu nước ngoài

Một số nghiên cứu điển hình:

* Philip Kotler, et al., 2010.Marketing for Hospitality and Tourism. Prentice, Inc.

Cuốn sách đề cập đến tất cả những vấn đề mà một người quản trị marketing

trong lĩnh vực du lịch cần phải biết. Nó nêu lên những vấn đề chính đang đặt ra

trong ngành du lịch: bao gồm cả các hoạt động marketing chiến lược và chiến thuật.

Cuốn sách tập trung vào những quyết định chủ yếu và những người quản trị

marketing trong lĩnh vực du lịch và ban lãnh đạo tối cao phải thông qua nhằm phối

hợp hài hòa những mục tiêu, sở trường cốt lõi và các nguồn tài nguyên của tổ chức

với những nhu cầu và mong muốn trên thị trường mục tiêu của mình.

Cuốn sách đã trình bày cụ thể các nội dung liên quan đến quản trị marketing

trong các doanh nghiệp khách sạn và du lịch. Bằng sự lồng ghép các nội dung lý

thuyết và các ví dụ ứng dụng thực tế, nghiên cứu này đã làm cho người đọc hiểu

một cách rõ ràng hơn về các quyết định về marketing trong kinh doanh khách sạn và

du lịch

* Juline E. Mills and Rob Law, 2005.Handbook of Consumer Behavior,

Tourism, and the Internet (Journal of Travel & Tourism Marketing Monographic

Separates).Routledge

Việc chấp nhận sự phát triển và sử dụng Internet như một công cụ du lịch

ngày càng có giá trị cho kinh doanh du lịch và khách sạn. Chính điều này đã cho

thấy một cái nhìn quan trọng về môi trường trực tuyến và vai trò của nó trong mối

quan hệ giữa doanh nghiệp và khách hàng. Doanh nghiệp sẽ phải chú ý cân nhắc

những câu hỏi như: "Làm thế nào để doanh nghiệp có khách hàng ghé thăm trang

web của mình?" "có phải trang web của doanh nghiệp thu hút sự 'đúng' loại người

tiêu dùng điện tử?" và "làm thế nào để doanh nghiệp có thể biến những người truy

cập vào website thành người mua?". Sổ tay của hành vi khách hàng, du lịch, và

Internet này phân tích những chiến lược mới nhất liên quan đến các ứng dụng kinh

doanh Internet mà sẽ giúp doanh nghiệp thu hút và giữ khách hàng lữ hành trực

tuyến. Các nhà nghiên cứu đến từ Hoa Ky, Châu Âu, Châu Á trình bày các kết quả



7



nghiên cứu mới nhất mà các doanh nghiệp du lịch cần để thực hiện các quyết định

đúng đắn về phát triển các kế hoạch dài hạn thương mại điện tử.

* Susan Sweeney, 2010.Internet Marketing for Your Tourism Business:

Proven Techniques for Promoting Tourist-Based Businesses Over the Internet, Jim

Hoskins

Số lượng người dân sử dụng Internet để lập kế hoạch cho ky nghỉ và du lịch

đã tăng hơn 300% trong vòng bốn năm qua và hiện nay vẫn tiếp tục tăng trưởng

bùng nổ. Chi tiêu tiêu dùng trong ngành công nghiệp du lịch trực tuyến dự kiến sẽ

tăng cao. Đó là lý do tại sao các doanh nghiệp du lịch đã đổ xô quảng bá qua

Internet với số lượng kỷ lục. Nhưng nhiều khi, đó là chưa đủ khi chỉ cần lập một

trang web. Doanh nghiệp phải biết làm thế nào để thu hút du khách đến với trang

web của mình và quan trọng hơn là làm thế nào để biến khách truy cập trang web để

thành khách hàng thực sự. Trong marketing qua Internet cho kinh doanh du lịch,

chuyên gia marketing qua Internet và diễn giả chuyên nghiệp Susan Sweeney sẽ

cung cấp nhiều kỹ năng cho doanh nghiệp để trả lời các câu hỏi này.

* Mercedes Tabano II, 2012.Internet Marketing for Tourism Businesses: 5

Proven Ways To Attract Tourists To Your Business And Make More Money,

CreateSpace Independent Publishing Platform

Các công ty du lịch có những thách thức mà các ngành kinh doanh khác không

có. Những thách thức này bao gồm không kinh doanh được cả năm mà chỉ theo mùa,

thời gian hạn chế, và phải marketing cho những người sống ở xa khu vực công ty bạn.

Cuốn sách này sẽ chỉ ra cho bạn cách để tăng cường sự hiện diện của bạn trên internet

bằng cách sử dụng các trang web, các web trên điện thoại di động và làm thế nào để

sử dụng hiệu quả các phương tiện truyền thông xã hội như Facebook, Twitter, và

YouTube để mang lại hiệu quả lớn nhất về đầu tư. Cạnh tranh về giá cả du lịch chưa

bao giờ khốc liệt hơn, nhưng không vì lý do kinh tế, nhiều người vẫn đi nghỉ mát. Vì

vậy, câu hỏi thực sự không phải là làm thế nào để họ đến khu nghỉ mát của bạn, mà là

làm thế nào để họ biết doanh nghiệp của bạn. Cuốn sách này sẽ chỉ cho bạn cách để

chạy một chiến dịch marketing qua Internet thành công.



8



* World Tourism Organization, 2014.Handbook on E-marketing for Tourism

Destinations – Fully revised and extended version 3.0

Cập nhật đầy đủ và mở rộng phiên bản của ETC / Handbook UNWTO về EMarketing cho các điểm du lịch, cuốn cẩm nang trình bày một cái nhìn tổng quan

toàn diện về môi trường liên tục thay đổi của e-marketing trong ngành du lịch.

Cuốn cẩm nang này bao gồm tất cả các khía cạnh quan trọng của một chiến

lược e-marketing bao gồm hoạch định chiến lược, biện pháp xây dựng thương hiệu,

nội dung xây dựng, tối ưu hóa công cụ tìm kiếm, thương mại điện tử và tiếp thị

email. Nó cũng bao gồm các thông tin có giá trị về cách sử dụng e-marketing như là

một cách để hợp tác với thương mại du lịch và các phương tiện truyền thông cùng

với các khuyến nghị cho truyền thông khủng hoảng.

* Zongqing Zhou, 2008.E-Commerce and Information Technology in

Hospitality and Tourism

Thương mại điện tử và công nghệ thông tin trong khách sạn du lịch đã đáp

ứng đầy đủ các thông tin cần thiết về các ứng dụng của thương mại điện tử và công

nghệ thông tin trong ngành công nghiệp này. Tác giả có quan điểm rằng ngành công

nghiệp tiếp tục có những trải nghiệm về những thay đổi lớn từ kết quả của công

nghệ internet. Cuốn sách cung cấp một thảo luận rộng rãi của công nghệ thông tin,

thương mại điện tử và marketing điện tử là những công nghệ mới áp dụng cho

ngành công nghiệp khách sạn và du lịch. Người đọc được tiếp cận với danh sách

rộng rãi của các điều khoản kinh doanh thương mại điện tử và cuốn sách cũng giúp

thiết lập các mục tiêu học tập chứa trong mỗi chương, cũng như cách tận dụng các

thông tin về tài nguyên dữ liệu lớn có sẵn trên trang web có liên quan.

Như vậy, những nghiên cứu trên chỉ đề cập đến nội dung liên quan đến

những cơ sở lý luận, đề tài hoặc những nghiên cứu thực tế có liên quan đến

marketing qua các PTĐT nói chung, chưa một nghiên cứu nào nói về hoạt động xúc

tiến qua các PTĐT của khách sạn Sofitel Legend Metropole Hà Nội.



9



1.2. Một số khái niệm cơ bản

1.2.1. Khách sạn

Thuật ngữ “hotel”- khách sạn có nguồn gốc từ tiếng Pháp. Vào thời trung cổ,

nó được dùng để chỉ những ngôi nhà sang trọng của các lãnh chúa. Đến đầu thế kỷ

XX, sự phát triển của khách sạn thay đổi cả về số lượng và chất lượng. Tại các

thành phố lớn của Châu Âu, những khách sạn sang trọng được xây dựng để phục vụ

tầng lớp thượng lưu. Bên cạnh đó, các khách sạn nhỏ với tiện nghi trung bình cũng

được hình thành. Do vậy, có sự khác nhau trong phong cách phục vụ và cấp độ cung

cấp dịch vụ của các khách sạn. Sự khác nhau này dựa trên mức độ phát triển của

hoạt động kinh doanh khách sạn của mỗi quốc gia. Và điều đó dẫn đến sự tồn tại

nhiều khái niệm khác nhau về khách sạn ở các quốc gia này.

Ở Vương quốc Bỉ, khách sạn phải có ít nhất 10-15 buồng ngủ với các tiện

nghi tối thiểu như phòng vệ sinh, máy điện thoại. Ở Nam Tư, khách sạn là một tòa

nhà độc lập với ít nhất 15 buồng ngủ để cho thuê. Ở Cộng hòa Pháp, khách sạn là

một cơ sở lưu trú được xếp hạng, có các buồng và căn hộ với trang thiết bị tiện nghi

nhằm thỏa mãn nhu cầu nghỉ ngơi của khách trong một khoảng thời gian dài (có thể

hàng tuần hoặc hàng tháng nhưng không lấy đó làm nơi cư trú thường xuyên); nhà

hàng, khách sạn có thể hoạt động quanh năm hoặc theo mùa.

Sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động du lịch sau đại chiến thứ hai càng tạo

ra sự khác biệt trong nội dung của khái niệm khách sạn.

”Cơ sở lưu trú du lịch là cơ sở cho thuê buồng, giường và cung cấp các dịch

vụ khác phục vụ khách lưu trú, trong đó khách sạn là cơ sở lưu trú du lịch chủ yếu”

(Luật du lịch, 2005, trang 3)

Kế thừa các quan điểm trên, trong Thông tư số 01/2002/TT-TCDL ngày

27/04/2001 của Tổng cục Du lịch về hướng dẫn thực hiện Nghị định số

39/2000/NĐ-CP của Chính phủ về cơ sở lưu trú du lịch đã nêu: “Khách sạn (hotel)

la cơng trình kiến trúc được xây dựng đợc lập, có quy mơ từ 10 buồng ngủ trở lên,

đảm bảo chất lượng về cơ sở vật chất, trang thiết bị, dịch vụ cần thiết phục vụ

khách du lịch ”. Trong phạm vi đề tài, tác giả sẽ sử dụng khái niệm khách sạn theo

quan điểm của Tổng cục Du lịch.



10



1.2.2. Kinh doanh khách sạn

Sơ khởi hoạt động kinh doanh khách sạn ban đầu chỉ là hoạt động kinh

doanh dịch vụ nhằm đảm bảo chỗ ngủ qua đêm cho khách có trả tiền. Sau đó, cùng

với sự phát triển về nhu cầu của khách du lịch, khách sạn tổ chức thêm hoạt động

kinh doanh ăn uống phục vụ nhu cầu của khách. Từ đó, tồn tại khái niệm kinh

doanh khách sạn theo hai nghĩa: nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Theo nghĩa hẹp, kinh

doanh khách sạn chỉ phục vụ nhu cầu ngủ, nghỉ cho khách. Theo nghĩa rộng, kinh

doanh khách sạn là hoạt động cung cấp các dịch vụ phục vụ nhu cầu nghỉ ngơi và

ăn uống cho khách. Khi nhu cầu lưu trú ngày càng đa dạng thì kinh doanh khách

sạn mở rộng thêm đối tượng và bao gồm khu cắm trại, làng du lịch, motel,… Tuy

nhiên, khách sạn vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất và là cơ sở lưu trú đặc trưng nhất của

hoạt động kinh doanh phục vụ nhu cầu lưu trú của khách nên loại hình kinh doanh

này mang tên “kinh doanh khách sạn”.

Ngày nay, khái niệm kinh doanh khách sạn ngày càng được mở rộng, phong

phú và đa dạng về thể loại. Người ta thừa nhận cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp của kinh

doanh khách sạn theo hướng bao gồm cả hoạt động kinh doanh các dịch vụ bổ sung

phục vụ cho khách lưu trú tại khách sạn. Các dịch vụ bổ sung này thường phải phù

hợp với vị trí, thứ hạng, quy mô và thị trường khách hàng mục tiêu của từng cơ sở

kinh doanh lưu trú. Bên cạnh đó, các khách sạn không chỉ kinh doanh khách sạn mà

còn mở rộng kinh doanh các dịch vụ khác như kinh doanh lữ hành, kinh doanh vận

chuyển,… Điều đó không những góp phần nâng cao doanh thu và lợi nhuận cho

doanh nghiệp mà còn làm cho nguồn khách đến với khách sạn trở nên ổn định hơn.

Trong đề tài, tác giả sử dụng quan điểm “kinh doanhkhách sạn la những

doanh nghiệp cung cấp dịch vụ lưu trú, ăn uống va các dịch vụ bổ sung cho khách

nhằm đáp ứng nhu cầu của họ trong quá trình lưu trú tại khách sạn nhằm mục đích

có lãi.”

1.2.3. Xúc tiến trong kinh doanh khách sạn

Theo cách hiểu truyền thống, xúc tiến thương mại là hoạt động trao đổi và hỗ

trợ thông tin giữa bên bán và bên mua hoặc khâu trung gian nhằm tác động tới thái

độ và hành vi mua bán, qua đó thúc đẩy việc mua bán, trao đổi hàng hóa và dịch vụ.



11



Theo giáo sư Tom Cannon, xúc tiến là một quá trình thiết lập sự nhất trí đồng

cảm có tính công chúng hoặc cá nhân về một tư duy giữa người gửi và người nhận”.

Trên góc độ về kinh doanh nói chung cũng tồn tại nhiều khái niệm về xúc tiến kinh

doanh:

Các nhà lý luận của các nước tư bản phát triển khi định nghĩa về xúc tiến chủ

yếu tập trung vào hiệu lực thương mại của xúc tiến. Vì vậy, việc tiếp nhận các tin tức

xúc tiến là những khâu có tầm quan trọng đặc biệt so với quá trình truyền tải và phát

các thông tin xúc tiến. Như vậy, xúc tiến được quan niệm là một hình thái quan hệ xác

định giữa người bán và người mua, là một lĩnh vực hoạt động được định hướng vào

việc chào hàng với mục đích bán hàng một cách năng động và có hiệu quả nhất.

Theo Dennis W.Goodwin, xúc tiến thương mại là một lĩnh vực hoạt động

marketing đặc biệt và có chủ đích được định hướng vào việc chào hàng, chiêu

khách và xác lập mối quan hệ thuận lợi nhất giữa doanh nghiệp và đối tác và tập

khách hàng tiềm năng nhằm triển khai các chính sách thuộc chương trình marketing

hỗn hợp đã lựa chọn cho doanh nghiệp.

“Xúc tiến thương mại là hoạt động thúc đẩy tìm kiếm cơ hội mua bán hàng

hóa và cung ứng dịch vụ, bao gồm hoạt động khuyến mại, trưng bày giới thiệu hàng

hóa, dịch vụ và hội chợ, triển lãm thương mại” (Luật Thương mại, 2005, trang 2).

”Xúc tiến du lịch là hoạt động tuyên truyền, quảng bá, vận động nhằm tìm

kiếm, thúc đẩy cơ hội phát triển du lịch” (Luật Du lịch, 2005, trang 3)

Kế thừa các khái niệm trên, trong luận văn tác giả sử dụng khái niệm “Xúc

tiến thương mại trong kinh doanh khách sạn la hoạt động marketing mang tính

hướng đích, thúc đẩy tìm kiếm cơ hợi mua bán va cung ứng dịch vụ lưu trú thông

qua các công cụ xúc tiến như quảng cáo, khuyến mãi, bán hang cá nhân, marketing

trực tiếp, quan hệ công chúng va một số công cụ đặc thù khác”.

1.2.4. Phương tiện điện tử và xúc tiến qua các phương tiện điện tử

Theo mục 10, điều 4, Luật giao dịch điện tử năm 2005, “Phương tiện điện tử

la phương tiện hoạt động dựa trên công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính,

truyền dẫn không dây, quang học, điện từ hoặc công nghệ tương tự” (Luật giao

dịch điện tử, 2005, trang 2)



12



Vậy xúc tiến qua các PTĐT có thể hiểu làhoạt động marketing mang tính

hướng đích, thúc đẩy tìm kiếm cơ hợi mua bán va cung ứng dịch vụ lưu trú thông

qua các công cụ xúc tiến như quảng cáo, khuyến mãi, bán hang cá nhân, marketing

trực tiếp, quan hệ công chúng va một số công cụ đặc thù khác dựa trên công nghệ

điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện từ hoặc

công nghệ tương tự.

Xúc tiến qua các PTĐT hay còn gọi là tiếp thị số là sự phát triển của xúc

tiến. Nhiều doanh nghiệp hiện nay đã sử dụng toàn bộ các kênh kỹ thuật số cho hoạt

động xúc tiến của mình. Các PTĐT là các kênh tiếp cận mà các nhà quản trị có thể

giao tiếp liên tục, hai chiều và mang tính cá nhân với từng khách hàng. Các cuộc

giao tiếp với khách hàng qua các PTĐT này sẽ cho ra những dữ liệu để xây dựng kế

hoạch xúc tiến trong tương lai. Ngoài ra, thông qua các PTĐT, ngay lập tức, doanh

nghiệp có thể biết được những phản hồi trực tiếp của khách hàng để cải thiện và tối

ưu hóa các tương tác.

1.3. Lợi ích của hoạt động xúc tiến qua các phương tiện điện tử trong

kinh doanh khách sạn

Xúc tiến qua các PTĐT bao trùm đầy đủ kỹ thuật của các công cụ xúc tiến

truyền thống bằng các công cụ hiện đại như truyền hình trực tuyến, điện thoại trực

tuyến, các trang báo mạng, bảng hiệu điện tử...

Đối với hoạt động xúc tiến, PTĐT là một phương tiện truyền thông đặc biệt

với nhiều ưu việt hơn so với các phương tiện truyền thông khác. Cụ thể:

* Đối với khách hàng:

- Thuận tiện: Khi công nghệ điện tử ngày càng chiếm ưu thế thì lợi thế xúc

tiến các sản phẩm khách sạn trên các PTĐT ngày càng cao. Không chỉ giúp du

khách chủ động lên kế hoạch cho chuyến hành trình, khách hàng có thể tìm kiếm

thông tin và đặt phòng suốt 24h trong ngày và ở bất cứ đâu một cách nhanh chóng

chỉ bằng những cú click chuột. Khi đã quyết định mua sản phẩm, khách hàng cũng

không cần đến tận khách sạn để mua.

- Giá rẻ: Sử dụng thông tin trên các PTĐT, đặc biệt là internet giá rẻ hơn. Ví



13



dụ, một tờ báo với giá 15.000 đồng, chúng ta chỉ có thể xem được những thông tin

gói gọn trong đó, song với 15.000 đồng tiền cước phí mạng internet, chúng ta có thể

vào mạng để tìm kiếm được rất nhiều thông tin trên rất nhiều loại báo, thời gian tìm

thông tin cũng nhanh hơn nhiều và có thể kiếm được chùm những thông tin về các

khách sạn cũng như thông tin về đặt phòng và các dịch vụ khác liên quan.

- Thông tin đa dạng, chuyên sâu: chưa có phương tiện truyền thông nào lại

có khả năng chứa đựng lượng thông tin khổng lồ, đa dạng và phong phú như thông

tin trên các PTĐT, đặc biệt là thông tin qua mạng internet. Các thông tin về khách

sạn được phân theo nhiều nhóm (mức giá, mức chất lượng, địa điểm…) và cấp độ

khác nhau: từ các mẩu thông tin cho đến các bài nghiên cứu, bình luận, chia sẻ kinh

nghiệm đặt phòng, cảm nghĩ khi sử dụng dịch vụ lưu trú từ các khách sạn khác

nhau; từ hình ảnh khách sạn cho đến hình ảnh cơ sở vật chất tiện nghi trong một

phòng của khách sạn cùng các dịch vụ liên quan ngoài dịch vụ lưu trú… đều được

trình bày cụ thể với nhiều cách tiếp cận khác nhau. Qua internet dường như khách

hàng có được tất cả những thông tin cần thiết cho chuyến đi của mình.

* Đối với doanh nghiệp:

- Khả năng cá nhân hóa thông tin cao:

Xúc tiến qua các PTĐT cung cấp cho doanh nghiệp một số lượng khách hàng

rộng lớn. Nhưng bên cạnh đó, các khách sạn khi xúc tiến qua các PTĐT rất có thể

nhắm vào từng đối tượng khách hàng đã được định sẵn, nhắm vào các công ty, các

quốc gia hay khu vực địa lý cũng như họ có thể sử dụng cơ sở dữ liệu để làm cơ sở

cho xúc tiến trực tiếp. Họ cũng có thể dựa vào sở thích cá nhân và hành vi của

người tiêu dùng để nhắm vào đối tượng thích hợp.

- Khả năng theo dõi sát sao hành vi của khách hàng:

Doanh nghiệp khi xúc tiến qua các PTĐT có thể theo dõi hành vi của người

sử dụng đối với nhãn hiệu của họ và tìm hiểu sở thích cũng như mối quan tâm của

những khách hàng triển vọng. Các khách sạn có thể theo dõi hành vi của người sử

dụng qua website của họ và xác định xem có nhiều người quan tâm đến quảng cáo

của họ hay không? Khi họ quan tâm tới quảng cáo của doanh nghiệp tức là họ đang

quan tâm tới doanh nghiệp hoặc các sản phẩm mà doanh nghiệp cung cấp.



14



- Tính linh hoạt cao:

Các xúc tiến qua các PTĐT có thể được truyền tải 24/24 giờ một ngày, cả

tuần, cả năm. Hơn nữa, chiến dịch xúc tiến có thể được bắt đầu cập nhật hoặc huỷ

bỏ bất cứ lúc nào. Nhà quảng cáo có thể theo dõi tiến độ xúc tiến hàng ngày, xem

xét hiệu quả xúc tiến ở tuần đầu tiên và có thể thay thế các hình thức xúc tiến ở tuần

thứ hai nếu cần thiết. Điều này khác hẳn kiểu xúc tiến trên báo chí truyền thống, chỉ

có thể thay đổi quảng cáo khi có đợt xuất bản mới.

- Tăng khả năng tương tác và phản hồi của khách hàng:

Mục tiêu của doanh nghiệp khi xúc tiến là gắn khách hàng triển vọng với

nhãn hiệu hoặc sản phẩm của họ. Điều này có thể thực hiện hiệu quả thông qua các

PTĐT, vì khách hàng có thể tương tác với sản phẩm, kiểm tra sản phẩm và nếu thoả

mãn thì có thể mua. Ví dụ, một quảng cáo cho một loại phòng khách sạn mới, doanh

nghiệp khách sạn có thể đưa khách hàng tới website của doanh nghiệp để lấy thông

tin và kiểm tra cơ sở vật chất, trang thiết bị, tầm nhìn... Nếu khách hàng thích phòng

đó, họ có thể mua trực tiếp và thanh toán thông qua các hình thức thanh toán trực

tuyến. Khách hàng của xúc tiến qua các PTĐT không còn là những khán giả thụ

động của quá trình truyền thông mà khách hàng tham gia ngày càng nhiều hơn vào

quá trình truyền thông. Qua các trang web, các mạng xã hội, khách hàng bày tỏ

quan điểm, thái độ của mình một cách chủ động. Truyền thông qua các PTĐT hiện

đại cho phép khách hàng kiểm soát thông tin nhiều hơn và do đó tăng cường tính

liên quan tới khách hàng. Thêm vào đó, tính di động của nhiều thiết bị (wifi, USB

3G, GPRS) cho phép khách hàng có thể chủ động tham gia tại bất cứ nơi nào. Sự

tham gia của khách hàng qua các PTĐT hào hứng và có cảm xúc. Lúc này, công

việc chính của doanh nghiệp là phải làm sao để khách hàng muốn phản hồi và tương

tác với doanh nghiệp về thông điệp mà doanh nghiệp gửi tới khách hàng.

Ngoài ra, khách hàng là những người có hiểu biết, trình độ sử dụng công

nghệ nhất định và thu nhập ổn định.

- Thông điệp truyền thông đa dạng với nhiều tính năng ưu việt:

Thông điệp của quá trình xúc tiến qua các PTĐT có thể ngay lập tức lan



15



truyền trên toàn thế giới. Chỉ với một cú nhấp chuột trong vòng 1s, khách hàng có

thể vượt qua biên giới một quốc gia để đến với một website ở một quốc gia khác.

Tất cả các thông tin trên website đều có khả năng trở thành nội dung toàn cầu. Các

nội dung thông điệp mà doanh nghiệp gửi tới khách hàng có thể gửi tới từng khách

hàng cụ thể, vài chục khách hàng, vài trăm khách hàng, thậm chí là gửi tới mọi

khách hàng trên thế giới rộng mở không còn cách biệt bởi biên giới địa lý này.

Bên cạnh đó, nội dung thông điệp ngày càng được giải phóng khỏi những thể

thức cụ thể. Các doanh nghiệp có thể thoải mái thiết kế thông điệp xúc tiến. Tất cả

các thông tin có thể viết hoặc trình bày theo thể thức của phương tiện truyền thông

in ấn như báo, tạp chí, tờ rơi cũng có trong xúc tiến qua các PTĐT. Thậm chí, với

lợi thế có công nghệ hình ảnh và âm thanh chuyển động với máy móc và các kênh

phát mới, tốc độ cao hơn giúp cho việc đưa âm thanh, nhạc, hình ảnh và xúc tiến

trên mạng internet, trên tivi và các PTĐT khác tác động vào nhận thức của khách

hàng mục tiêu nhanh hơn, cao hơn, ấn tượng hơn.

- Dễ dàng hơn trong việc tính toán chi phí cho hoạt động xúc tiến:

Nhưng ngày càng có nhiều PTĐT mới kéo theo nhiều cấu trúc định giá ra

đời. Ngày nay, các mô hình định giá có đủ loại từ giá cố định, đến tính giá theo số

lần xem một mục quảng cáo, tính giá theo số người nhấn vào quảng cáo, tính theo

số lần quảng cáo truyền phát được, số hàng được mua,… Điều này tạo điều kiện cho

doanh nghiệp có thể tính toán được chi phí cho hoạt đợng xúc tiến chính xác hơn.

1.4. Quy trình xúc tiến qua các phương tiện điện tử trong kinh doanh

khách sạn

Quy trình xúc tiến qua các PTĐT trong kinh doanh khách sạn được tiến hành

theo các bước cơ bản sau:

Bước 1: Xác định người nhận tin mục tiêu

Tất cả các khách sạn cần phải xác định người nhận tin mục tiêu mà mình sẽ

hướng tới. Người truyền thông marketing phải bắt đầu từ một công chúng mục tiêu

được xác định rõ ràng. Công chúng có thể là những người mua tiềm ẩn đối với các

sản phẩm của công ty, người sử dụng hiện tại, người thông qua quyết định hay



16



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×