Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Tải bản đầy đủ - 0trang

Việt Nam vẫn chưa có một chính sách, chiến lược quốc gia cho lĩnh vực đầy

tiềm năng này. Vì chưa có chính sách và chiến lược tởng thể, nên các thành

phố đầy tiềm năng như Hà Nội, Hồ Chí Minh, Bình Dương vẫn đang tự “lần

mò” nghiên cứu tìm hướng phát triển CNST cho riêng mình.

Việt Nam được đánh giá là quốc gia có nhiều tiềm năng phát triển trong

lĩnh vực này. Việt Nam có nguồn lao động trẻ dồi dào, nhạy bén, linh hoạt

sáng tạo trong lao động sản xuất; có nhiều đặc điểm ưu việt về địa lý, văn

hóa, truyền thống; có thế mạnh về các ngành cơng nghiệp nhẹ, thiết kế mỹ

thuật, du lịch, thủ công,…Trong quá trình hội nhập quốc tế, để tăng trưởng

kinh tế, phát triển văn hóa, xã hội; Việt Nam cần nâng cao nhận thức và tận

dụng lợi thế của mình để phát triển CNST. Trong đó, việc xây dựng chính

sách và chiến lược tổng thể quốc gia là việc cấp bách cần được thực hiện đầu

tiên.

Trung Quốc là quốc gia có nhiều điểm tương đồng về văn hóa với Việt

Nam, có lịch sử phát triển song hành với lịch sử Việt Nam. Các ngành CNST

của Trung Quốc đã có những bước tiến vượt bậc trong thập kỉ vừa qua, và là

một trong những thị trường tiềm năng nhất không chỉ ở châu Á mà còn trên

tồn thế giới. Theo báo cáo của Cục Thống kê quốc gia Trung Quốc năm

2014, sản phẩm của các ngành CNST Trung Quốc đã tăng lên 60 lần chỉ trong

10 năm, từ 30 tỷ nhân dân tệ trong năm 2003 đến 1807 tỷ nhân dân tệ, chiếm

3,84% GDP. Thành cơng của CNST Trung Quốc đạt được chính là vì nước

này có một chiến lược hành động cụ thể với mục tiêu rõ ràng và kèm theo đó

là hệ thống chính sách ưu việt nhằm thúc đẩy CNST phát triển như vũ bão.

Việt Nam cần học hỏi chính sách phát triển công nghiệp sáng tạo của Trung

Quốc, để xây dựng chính sách, chiến lược phát triển phù hợp với tình hình

kinh tế - xã hội hiện nay.

Học tập các kinh nghiệm về chính sách phát triển các ngành CNST trong

bối cảnh phát triển nền kinh tế sáng tạo, bối cảnh hội nhập toàn cầu là điều

2



cần được thực hiện trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam, đồng thời cũng là

một trong những điều kiện để giúp Việt Nam thốt khỏi bẫy thu nhập bình

qn, hội nhập nhanh với các quốc gia trên thế giới. Xuất phát từ những lý do

trên, đề tài “Chính sách phát triển các ngành công nghiệp sáng tạo của Trung

Quốc và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” với mong muốn được lựa chọn

nghiên cứu nhằm tìm ra những bài học kinh nghiệm về chính sách phát triển

các ngành CNST của Trung Quốc góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã

hội cho Việt Nam.

2. MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

2.1. Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở phân tích, đánh giá chính sách phát triển cơng nghiệp sáng

tạo của Trung Quốc, đề tài rút ra những bài học kinh nghiệm về chính sách

phát triển CNST cho Việt Nam.

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tởng hợp và phân tích cơ sở lý luận về mặt lý thuyết liên quan đến các

ngành CNST: Tổng quan về các ngành CNST; Cơ sở lý luận về nền KTST và

các ngành CNST: Khái niệm, Lịch sử phát triển, vai trò, phân loại các ngành

CNST; Các chính sách phát triển CNST trong q trình hội nhập quốc tế; Các

nhóm chính sách và yếu tố ảnh hưởng đến chính sách phát triển CNST.

- Nghiên cứu về chính sách phát triển các ngành CNST, những điều

kiện thuận lợi, hạn chế cũng như những thành quả đạt được của CNST Trung

Quốc; từ đó đề xuất bài học kinh nghiệm về chính sách phát triển CNST cho

Việt Nam.

- Đánh giá Tổng quan về KT-XH của Việt Nam giai đoạn 2008 – 2014,

phân loại các ngành CNST ở Việt Nam, đánh giá thực trạng chính sách phát

triển các ngành CNST ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Phân tích khả



3



năng vận dụng những bài học kinh nghiệm của Trung Quốc để phát triển CNST

ở Việt Nam.

- Từ những bài học kinh nghiệm được rút ra và những phân tích về điều

kiện vận dụng bài học kinh nghiệm cho Việt nam, luận văn đề xuất giải pháp

về chính sách phát triển các ngành CNST tại Việt Nam.

3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

3.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận và thực tiễn

về chính sách phát triển các ngành CNST của Trung Quốc và bài học kinh

nghiệm cho Việt Nam.

Hiện nay trên thế giới đã có nhiều nước phát triển mạnh về CNST như

Anh, Mĩ, Nhật Bản,… Tuy nhiên, do hạn chế về mặt thời gian, đề tài tập trung

nghiên cứu CNST tại một quốc gia, đồng thời cũng tham khảo thêm tài liệu về

CNST của một số các quốc gia khác. Trung Quốc là quốc gia được lựa chọn

nghiên cứu vì nước này là một quốc gia châu Á có nền kinh tế nói chung và

CNST phát triển nhanh chóng trong thời gian vừa qua; có sự tương đồng về

địa lý, phong tục tập quán và có mối quan hệ giao thương văn hóa – kinh tế xã hội với Việt Nam.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi không gian: Đề tài nghiên cứu kinh nghiệm phát triển các

ngành công nghiệp sáng tạo của Trung Quốc. Nghiên cứu các ngành cơng

nghiệp sáng tạo trong đó, đi sâu nghiên cứu 3 ngành CNST: ngành công

nghiệp điện ảnh, ngành cơng nghiệp trò chơi điện tử và ngành cơng nghiệp du

lịch. Đây là những ngành CNST là thế mạnh của Trung Quốc, đồng thời cũng

là những ngành Việt Nam có điều kiện phát triển nhưng vẫn còn thể hiện sự

yếu kém, tụt hậu.



4



Phạm vi thời gian: Thu thập số liệu nghiên cứu từ năm 2005 – 2014

đối với các ngành CNST Trung Quốc; từ năm 2008 – 2014 đối với Việt Nam.

4. NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI

Là một đề tài nghiên cứu có tính hệ thống về các ngành CNST, đề tài có

những đóng góp về cả lý luận và thực tiễn như sau:

- Về lý luận:

+ Luận văn khái quát hóa và phát triển những vấn đề lý luận liên quan

đến các ngành CNST trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng. Trong

đó, đi sâu tìm hiểu 3 ngành CNST: cơng nghiệp điện ảnh, cơng nghiệp trò

chơi điện tử và cơng nghiệp du lịch.

+ Luận văn nghiên cứu và tìm hiểu sự phát triển cũng như những bài

học kinh nghiệm quốc tế trong chính sách phát triển các ngành CNST.

+ Những nội dung lý luận trong luận văn sẽ trở thành nguồn tài liệu

tham khảo thiết thực và bở ích cho những nghiên cứu sau này về chính sách

phát triển CNST.

- Về thực tiễn:

+ Qua phân tích, luận văn xem xét và đánh giá tởng thể tình hình phát

triển CNST ở Việt Nam hiện nay, đánh giá những cơ hội và thách thức gặp

phải. Luận văn đưa ra những bài học kinh nghiệm và giải pháp từ thực tiễn

chính sách phát triển của Trung Quốc nhằm phát triển các ngành CNST tại

Việt Nam. Tìm hiểu sâu về thực trạng, kinh nghiệm phát triển 3 ngành CNST

của Trung Quốc: cơng nghiệp điện ảnh, cơng nghiệp trò chơi điện tử và công

nghiệp du lịch.

+ Việc ứng dụng kết quả nghiên cứu góp phần giải quyết những hạn chế,

bất cập phát sinh trong thực tiễn phát triển ngành CNST, tạo cơ sở thực tiễn

cho việc hoàn thiện các chính sách và pháp luật phát triển ngành cơng nghiệp



5



sáng tạo trong quá trình phát triển và hội nhập quốc tế, và nâng cao vai trò

quản lý Nhà nước đối với các ngành CNST ở Việt Nam.

5. KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN

Ngoài phần mở đầu, mục lục, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận

văn có kết cấu 04 chương:

Chương 1. Cơ sở lý luận về nền kinh tế sáng tạo và chính sách phát

triển các ngành cơng nghiệp sáng tạo

Chương 2. Phương pháp và thiết kế nghiên cứu

Chương 3. Thực trạng và kinh nghiệm về chính sách phát triển các

ngành công nghiệp sáng tạo của Trung Quốc

Chương 4. Thực trạng và giải pháp về chính sách phát triển các ngành

công nghiệp sáng tạo ở Việt Nam



6



CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NỀN KINH TẾ SÁNG TẠO VÀ CHÍNH SÁCH

PHÁT TRIỂN CÁC NGÀNH CÔNG NGHIỆP SÁNG TẠO



1.1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1.1. Tình hình nghiên cứu ngồi nước

CNST tuy là ngành công nghiệp mới nhưng lại thu hút được sự quan

tâm nghiên cứu và phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là ở các

nước phát triển. Trên thế giới có rất nhiều tài liệu, báo cáo về CNST với nội

dung phong phú và tính chuyên sâu cao.

- Báo cáo của Liên Hiệp Quốc về kinh tế sáng tạo năm 2008 “Thách

thức của nền Kinh tế sáng tạo: Xây dựng chính sách” là nghiên cứu đầu tiên

của Liên Hợp Quốc với cái nhìn tồn cảnh về kinh tế sáng tạo. Mục đích

chính của báo cáo là cung cấp khung chính sách và khái niệm về kinh tế sáng

tạo, tìm ra những cơng cụ phân tích để xây dựng các chính sách. Báo cáo này

đã xem xét lại các khái niệm, tìm ra những đặc điểm và thông số nhằm đo

lường tác động của công nghiệp sáng tạo ở cấp độ quốc gia và quốc tế. Những

nghiên cứu định hướng chính sách được đưa ra thể hiện tư duy kinh tế hiện

đại và công cụ phân tích so sánh được sử dụng để xây dựng chính sách ở cấp

quốc gia và quốc tế. Báo cáo đã đưa ra rằng trí tuệ sáng tạo của con người là

yếu tố để phát triển bền vững chứ không phải là những yếu tố sản xuất truyền

thống như lao động và sản xuất tập trung. Đây là một nguồn tham khảo hữu

ích cho các nước đang phát triển đế xây dựng kinh tế sáng tạo và tối đa hóa sự

phát triển đất nước thông qua việc nhận ra kinh tế sáng tạo là lựa chọn khả thi

nhất để kết nối các lĩnh vực kinh tế, kĩ thuật và phát triển văn hóa – xã hội của

đất nước trong bối cảnh tồn cầu hóa.



7



- Báo cáo của Liên Hiệp Quốc về kinh tế sáng tạo năm 2010 “Kinh tế

sáng tạo: Sự lựa chọn khả thi” là một bước nghiên cứu tiếp theo và sâu hơn

của báo cáo năm 2008. Trong đó, kinh tế, văn hóa, xã hội và phát triển cơng

nghệ được tái hiện trong bối cảnh toàn cầu cùng với những hệ quả của khủng

khoảng kinh tế và suy thoái mơi trường. Trong báo cáo, những phân tích, số

liệu và bảng biểu được cập nhật thể hiện thị phần phát triển của các sản phẩm

công nghiệp sáng tạo trên thị trường thế giới.

- Báo cáo của Liên Hiệp Quốc về kinh tế sáng tạo năm 2013 “Xuất bản

đặc biệt . Các phương thức mở rộng phát triển địa phương” đã đưa ra những

bằng chứng về hoạt động, kinh nghiệm và nguồn lực nhằm phát triển công

nghiệp sáng tạo ở cấp độ địa phương. Các yếu tố tác động đến phát triển công

nghiệp sáng tạo ở địa phương cũng được đưa ra phân tích theo hướng phát

triển nhân văn và bền vững. Các nghiên cứu cũng cung cấp những chỉ số đánh

giá hiệu quả và thành công của công nghiệp sáng tạo cho các nhà xây dựng

chính sách.

- Viện chính sách Fiscal (2009) với nghiên cứu “Những đóng góp của

các ngành CNST Thái Lan” đã giới thiệu về các ngành công nghiệp sáng tạo ở

Thái Lan, và đóng góp của các ngành này vào nền kinh tế chung trong thời

điểm hiện tại và dự kiến trong tương lai. Báo cáo xác định những đóng góp

này thơng qua phân tích đầu vào và đầu ra của các ngành công nghiệp sáng

tạo được lựa chọn; đưa ra đặc điểm chuỗi giá trị có được trong mỗi ngành.

Bên cạnh đó báo cáo còn cung cấp số liệu so sánh các ngành công nghiệp

sáng tạo của Thái Lan với các nước khác; đánh giá tác động của việc vi phạm

quyền sở hữu trí tuệ và đưa ra một vài kiến nghị đối với chính sách của chính

phủ nhằm đạt hiệu quả cao hơn trong việc phát triển các ngành công nghiệp

sáng tạo tại Thái Lan.

- Jin, Y.D. (2012) với nghiên cứu “Hallyu 2.0: Làn sóng Hàn Quốc mới

trong ngành CNST” đã tái hiện lại làn sóng văn hóa Hàn Quốc du nhập vào

8



các nước Asean (Nhật Bản, Trung Quốc, Việt Nam…) và nhiều nước khác

trên tồn thế giới. Một số các hoạt động giải trí Hàn Quốc như các chương

trình tivi, phim truyện, nhạc (K-pop), trò chơi điện tử (trò chơi điện tử trực

tuyến) đã trở nên phổ biến ở các nước này. Bài báo cũng phân tích và đánh giá

vai trò và tác động của công nghệ kĩ thuật, truyền thông xã hội và sở hữu trí

tuệ đến làn sóng Hàn Quốc.

- Nhóm tác giả Jeong-gon Kim, Eun-Ji Kim, Yun-ok Kim (2013) với

nghiên cứu “Các mơ hình thức đẩy kinh tế sáng tạo và cách thức thực hiện”

đã nêu ra các biện pháp chính sách phát triển công nghiệp sáng tạo ở một số

nước như Anh, Phần Lan, Đức, Nhật, và Singapore được đưa ra phân tích.

Bên cạnh đó, báo cáo cũng bàn luận về việc thực thi chính sách đúng đắn

nhằm phát triền công nghiệp sáng tạo tại Hàn Quốc.

- Can-seng Ooi (2006) với nghiên cứu “Du lịch và CNST ở Singapore”

đã nhận định rằng nhiều thành phố trên thế giới đang nỗ lực phát triển công

nghiệp sáng tạo và thu hút đầu tư. Bài báo trình bày trường hợp phát triển

cơng nghiệp sáng tạo tại Singapore. Tác giả nhấn mạnh du lịch đóng vai trò

quan trọng đối với văn hóa và nghệ thuật của Singapore. Tác giả đồng thời

cũng phân tích thực trạng và tác động tích cực của chính phủ trong việc phát

triển công nghiệp sáng tạo tại quốc gia này.

Xét một cách tổng thể, nhiều tài liệu đã khẳng định ý nghĩa và tầm quan

trọng của phát triển các ngành CNST ở nhiều nước trên thế giới. Đồng thời,

những nghiên cứu cũng luận giải chuyên sâu về quá trình phát triển, thành tựu

đạt được cũng như những thách thức của việc phát triển các ngành CNST tại

nhiều nước. Qua đó, các giải pháp đúc kết kinh nghiệm từ phát triển ngành

công nghiệp sáng tạo của các nước này bao gồm:

(1) tạo công ăn việc làm và thị trường thông qua đởi mới và sáng tạo,

(2) tăng cường lãnh đạo tồn cầu đối với nền kinh tế sáng tạo của

quốc gia trong mối tương quan với các nền kinh tế quốc tế khác, và

(3) tơn trọng tính sáng tạo và khuyến khích sáng tạo trong xã hội.

9



Các chiến lược mà các quốc gia đưa ra để phát triển các ngành công

nghiệp sáng tạo bao gồm:

(1) xây dựng hệ sinh thái kinh tế trong đó tính sáng tạo được tơn vinh

xứng đáng và các doanh nghiệp khởi nghiệp phát triển thuận lợi;

(2) khuyến khích các hãng tài chính và doanh nghiệp nhỏ và vừa

đóng vai trò chủ chốt trong nền kinh tế sáng tạo và thâm nhập vào thị

trường toàn cầu;

(3) tạo động lực tăng trưởng đối với ngành công nghiệp mới và thị

trường của nó

(4) phát triển nguồn nhân lực có tài mang tính sáng tạo, có tầm nhìn

và có đủ năng lực để trở thành một phần quan trọng của nền kinh tế sáng

tạo;

(5) phát triển năng lực khoa học và công nghệ và đổi mới công nghệ

thông tin và truyền thơng và coi đó là cơ sở của nền kinh tế sáng tạo; và

(6) hình thành nền văn hóa kinh tế sáng tạo khuyến khích sự tham

gia của cả chính phủ và người dân.

Tình hình nghiên cứu CNST ở Trung Quốc

- Nhóm tác giả Hongman Zhang, Jing Wang và Di Liu (2011) với

nghiên cứu “Kinh nghiệm phát triển các ngành CNST tại các nước phát triển”.

Trong bài báo này, các tác giả đã tổng kết các kinh nghiệm phát triển công

nghiệp sáng tạo ở các nước phát triển và đưa ra chiến lược phát triển của

Trung Quốc, Anh, Mỹ và Đức là các quốc gia có nền cơng nghiệp sáng tạo

phát triển với nhiều đặc điểm khác biệt được đưa ra trong bài báo.

- Hai tác giả Chee Yew Wong và Ruihong Gao (2008) với nghiên cứu

“Công nghiệp sáng tạo ở Anh, Nhật và Trung Quốc: toàn cảnh quản lý chuỗi

cung ứng” đã cung cấp một cái nhìn tởng quan về các ngành công nghiệp

sáng tạo và so sánh những ví dụ từ các nước Anh, Nhật và Trung Quốc. Từ



10



đó, tác giả muốn tạo dựng một nền tảng để quản lý và nghiên cứu chuỗi cung

ứng của các ngành công nghiệp sáng tạo.

- Báo cáo về Công nghiệp sáng tạo Trung Quốc 2012 – 2013 của tạp

chí Xuất bản – Truyền thơng Trung Quốc đã phân tích 06 xu hướng phát triển

công nghiệp sáng tạo ở Trung Quốc hiện nay, đồng thời cũng đưa ra những

thách thức trong và ngồi nước trong việc phát triển các ngành cơng nghiệp

sáng tạo.

Các nghiên cứu về CNST ở Trung Quốc đều cho thấy sự phát triển

vượt bậc của các ngành CNST ở nước này trong thập kỷ vừa qua. Trong đó,

vai trò của chính sách chiến lược phát triển CNST đóng vai trò chủ chốt trong

q trình phát triển này.

1.1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước

Ở Việt Nam, do đặc thù mới mẻ và chưa được quan tâm nhiều, các tài

liệu về CNST còn rất hạn chế. Nguồn tài liệu trong nước ít về số lượng và

chưa có những nghiên cứu mang tính chất tởng quan, hệ thống và chính xác

về CNST.

- Phan Tất Thứ (2013) với nghiên cứu “Đổi Mới và Sáng tạo Trong Kinh

Doanh: Một Cách Tiếp Cận Thực Tiễn” trong “Hội thảo quốc tế “Kinh doanh

trong công nghiệp sáng tạo” đã đưa ra vấn đề về đổi mới và sáng tạo trong

hoạt động kinh doanh. Tác giả đã đưa ra kết luận rằng đởi mới kinh doanh có

vai trò đặc biệt quan trọng trong hoạt động của doanh nghiệp. Nghiên cứu

chia hoạt động đổi mới trong doanh nghiệp làm 6 vấn đề: Cải tiến chiến lược;

đổi mới tổ chức, cải tiến sản phẩm, đổi mới marketing, cải tiến quy trình và

đởi mới cơng nghệ. Phan Tất Thứ (2013) cũng đề cập đến vấn đề khởi tạo

kinh doanh từ ý tưởng và coi đó là nền tảng tư duy để có thể tiến hành xây

dựng nên nền CNST. Nghiên cứu mới chỉ đưa một ý tưởng sáng tạo vào kinh

doanh chứ chưa đi vào vấn đề phát triển ngành CNST.



11



- Hồng Hà (2014) với nghiên cứu “Cơng nghiệp sáng tạo: Việt Nam

đang ở đâu trong chuỗi giá trị” đã nhận định được vấn đề ngành CNST ở Việt

Nam còn ít được quan tâm, khá mới mẻ, tự phát và chủ yếu là nhập khẩu dây

chuyền công nghệ từ các nước. Theo số liệu cung cấp trong nghiên cứu, cuối

năm 2013, ngành CNST của Việt Nam mới chỉ đóng góp được 3-5% tổng giá

trị xuất khẩu. Tại thị trường Việt Nam, nguồn cung ứng CNST chủ yếu là

nhập ngoại. Mỗi năm, Việt Nam bỏ ra 10-15 tỷ USD cho việc mua máy móc,

thiết bị, phụ tùng, chiếm 15% tởng kim ngạch nhập khẩu cả nước. Việt Nam

nhập khẩu công nghệ nhưng thực chất là nhập trang thiết bị, dây chuyền cơng

nghệ tồn bộ mà chưa chú ý khai thác trí tuệ. Đồng thời, tác giả cũng đưa ra

được các tiềm năng cùng với thách thức đối với nền công nghiệp sáng tạo của

Việt Nam. Tuy nhiên hạn chế của nghiên cứu là mới chỉ dừng lại ở chỗ đưa ra

những tiềm năng hay thách thức chứ chưa phân tích rõ và cũng chưa đưa ra

được các giải pháp để thúc đẩy ngành CNST Việt Nam phát triển.

- Nguyễn Văn Tình (2013) với nghiên cứu “Việt Nam chưa có chiến

lược phát triển ngành cơng nghiệp văn hóa” đã đề cập tới các ngành cơng

nghiệp văn hóa ở các nước Nhật Bản, Hàn Quốc… và cho thấy doanh thu từ

các ngành CNVH ở các nước này là rất lớn. Tác giả cũng đưa ra nhận định

rằng đầu tư cho CNVH ở Việt Nam còn q ít so với đầu tư so với các ngành

khác. Quy mơ CNVH ở Việt Nam còn nhỏ so với các nước trong khu vực.

Nghiên cứu cũng đưa ra các nguyên nhân tại sao CNVH Việt Nam chưa phát

triển, tuy nhiên các nguyên nhân đưa ra chưa rõ ràng nên không thể lấy làm

cơ sở để đề xuất phương hướng và giải pháp phát triển.

Qua các nghiên cứu trên đều cho thấy, Việt Nam chưa hề có chiến lược,

chính sách phát triển CNST và đang phải lựa chọn cho mình một hướng đi,

một vị trí xứng đáng trong nền kinh tế sáng tạo toàn cầu.



12



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×