Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Quá trình thực hiện DHVM là một vòng tuần hoàn, mỗi SV sẽ tiến hành giảng dạy lặp lại nhiều lần để có những sự thay đổi theo ý muốn của mình. Sau mỗi lần dạy lại có sự phản hồi, góp ý, tự nhận xét thông qua các video ghi lại được hoặc nhận xét trực tiếp.

Quá trình thực hiện DHVM là một vòng tuần hoàn, mỗi SV sẽ tiến hành giảng dạy lặp lại nhiều lần để có những sự thay đổi theo ý muốn của mình. Sau mỗi lần dạy lại có sự phản hồi, góp ý, tự nhận xét thông qua các video ghi lại được hoặc nhận xét trực tiếp.

Tải bản đầy đủ - 0trang

- Công tác chỉ đạo, giám sát điều hành, kiểm tra, đánh giá các hoạt động

có liên quan đến đào tạo NVSP đang gặp rất nhiều khó khăn và chưa thực sự có

hiệu quả

- Sự phù hợp giữa những gì người giáo viên tương lai đã được chuẩn bị trong

các trường Sư phạm với các kiến thức, kĩ năng, thái độ người đó phải có khi hành

nghề trong thực tế giáo dục đa dạng. Có sự khác biệt lớn giữa lí luận sư phạm và

thực hành giảng dạy.

Đặc trưng của bộ môn Sinh học

Đối tượng nghiên cứu của Sinh học là thế giới sống bao gồm 5 giới với

khoảng 1.8 triệu loài. Tuy thế giới sống rất đa dạng và phong phú như vậy nhưng lại

có những đặc điểm chung phân biệt với giới vơ sinh đó là: các tổ chức sống đều là

hệ mở, thường xuyên có sự trao đổi vật chất với môi trường, sinh sản, vận động,

cảm ứng, sinh trưởng và phát triển. Thế giới sống lại có các cấp độ tổ chức sống: Tế

bào, cơ thể, quần thể, quần xã, hệ sinh thái, sinh quyển. Mỗi cấp độ tổ chức sống lại

có sự thống nhất nội bộ và giữa tổ chức sống với môi trường. Trong lịch sử q

trình phát triển ấy, sự sống ln khơng ngừng phát triển. Thế giới sống phân hóa

thành nhiều nhóm phân loại các cấp độ tổ chức cơ thể

Sinh học là môn khoa học thực nghiệm, nghiên cứu về thế giới sốn gắn với

thực tiễn đời sống. Vì vậy dạy và học theo môn học này phải tuân thủ 4 nguyên tắc

đặc thù của bộ môn là: nguyên tắc tiếp cận cấu trúc – hệ thống, nguyên tắc trực

quan, nguyên tắc lấy không gian bù thời gian và nguyên tắc tích hợp.

Sinh học có sự tích hợp kiến thức của nhiều chuyên ngành (Cổ sinh vật học,

Di truyền học, Tiến hóa học, Sinh thái học, Thực vật học, Động vật học…) và nhiều

ngành khoa học khác như Tốn học, Hóa học, Vật lý…

Kiến thức sinh học thay đổi rất nhanh theo thời gian và có nhiều sự đổi mới,

đặc biệt trong giai đoạn ngày nay có sự bùng nổ cơng nghệ thơng tin

1.4.2. Vai trò của bồi dưỡng và tự bồi dưỡng kỹ năng dạy học Sinh học

của sinh viên sư phạm

Hoạt động dạy của giáo viên nhằm truyền đạt tri thức nhân loại cho học sinh,

dồng thời người dạy còn có nhiệm vụ phát triển nhận thức và năng lực cho HS hình

thành thế giới quan duy vật biện chúng và những hành vi đạo đức của học sinh. Dạy



31



là sự điều khiển tối ưu hóa q trình chiếm lĩnh khoa học để phát triển và hình

thành nhân cách cho học sinh. Như vậy, hoạt đơng dạy học trò chủ đạo, nghĩa là tổ

chức, điều khiển hoạt động nhận thức của học sinh. Dù khoa học phát triển đến đâu,

áp dụng phương tiện máy móc hiện đại như thế nào cũng khơng thể thay thế được

vai trò của người thầy.

Sinh viên sư phạm nói chung và sinh viên sư phạm Sinh học nói riêng được

trang bị rất nhiều kiến thức, kỹ năng khi còn ngồi trên ghế giảng đường Đại học.

Đặc biệt là đặc thù của ngành sư phạm, sau khi ra trường sinh viên sẽ giảng dạy trực

tiếp các em học sinh. Vấn đề rất được quan tâm khơng chỉ là kiến thức mà chính là

kỹ năng nghề nghiệp của các em sinh viên. Hiện nay, hình thức học tập theo tín chỉ

lại dành cho sinh viên nhiều thời gian tự học ở nhà và thời gian học tập trên lớp ít

hơn. Chính vì thời gian học tập khơng có nhiều nên đơi khi giảng viên khơng thể chỉ

bảo uốn nắn cho từng sinh viên một về kỹ năng giảng dạy mà phải tự mỗi sinh viên

phải luyện tập. Học là q trình học tập khơng ngừng. Khơng phải cứ nghe thầy cô

giảng bài, chăm chú nghe giảng hoặc cứ ra đời thì mình sẽ tự có kiến thức mà mỗi

người cần có kỹ năng học và tự học. Là sinh viên sư phạm cần phải rèn luyện các

kỹ năng dạy học. Và mỗi SV cần đề cho mình kế hoạch và mục tiêu. Mục tiêu chính

là động lực cho học tập.

* Chúng tôi tiến hành điều tra đối với sinh viên sư phạm Sinh học K63 –

ĐHSP với các nội dung như sau:

(1) Nhận thức của sinh viên về mức độ tự tin về KNDH trong dạy học Sinh học

(2) Nhận thức của sinh viên về tự rèn luyện KNDH Sinh học

(3) Thực trạng tự rèn luyện KNDH Sinh học của sinh viên

* Đối tượng điều tra 79 SV (Phụ lục số 2) thuộc khoa Sinh học trường ĐHSP

Hà Nội năm 4, khóa 2014-2017 cụ thể gồm:

- 64 SV của lớp K63A Trường ĐHSPHN

- 15 SV của lớp K63C Trường ĐHSPHN

* Hình thức điều tra: Sử dụng phiếu hỏi (Phụ lục số 3) thông qua việc gặp gỡ

trực tiếp và điền phiếu.



32



Bảng 1.2. Kết quả điều tra về mức độ tự tin của SV khi giảng dạy môn Sinh học



K

ỹ năng



Tỉ lệ các mức độ

Rất tự

tin

S



%



L

1



6



3



3



4



4



2



5



4



6



1



7



0



8



9



1



0



8

3



0



8

3



2

5



.06



0.51

1



1

1



.27



3.92

3



4

0

1



1.39



3.04

3



.00



.80



1

1



4

3.04



3.92

2



1

1



.27



9

3



2

.53



3

1



3

1



5



4



S

L



1

4



2



9

0



1

1



Tự tin



6.58

3



4



3.04



Tương

đối tự tin

tự tin

S

S

%

%

L

L

3

3

3

4

0

8

3

3

4

1

2

1

0

3

2

2

2

1

7

2

4

1

1

3

0

2.66

3

1

6

7

2

1

7.22

4

1

1

3

0

2.66

0

3

3

4

4

2

0.51

1

1

4

5

3

6

8.23

2

1

1

1

0

2.66

2

4

4

5

2

2

3.16



Không



Rất

không tự tin

S

%

L

5

1



3

2

8

4

2

3



2



3



3



4



4



7.97

5



3



1.90

3

1

2



2

.53

0

.00

5

.06

3

.80



1

0



5.19

.53



4



0



.53



.80



3



2



1.77



1

2.66



2

0



2

.53

0

.00



( Các kỹ năng: 1 - Soạn bài dạy; 2 - Mở bài/Đặt vấn đề; 3 - Tự tin đứng lớp;

4 - Thuyết giảng; 5 - Giao tiếp sư phạm; 6 - Liên hệ thực tiễn bằng ví dụ;7 - Sự dễ

dàng trong việc đặt câu hỏi; 8 – Trình bày bảng; 9 - Sử dụng thiết bị dạy học; 10 –

Tổng kết nội dung)

Từ bảng 1.2 cho thấy KN sử dụng thiết bị dạy học là kỹ năng được nhiều SV

cảm thấy rất tự tin nhất. Điều này cho thấy xu hướng tốt khi hoạt động dạy học hiện

đại lấy người học làm trung tâm. Các SV là thế hệ trẻ rất nhanh nhạy với cơng nghệ.

Bên cạnh đó thì KN sự dễ dàng trong đặt câu hỏi lại khơng có SV nào dám khẳng

định sự tự tin của mình (0%) và mức độ khơng tự tin của KN này đạt 51.90%. Kỹ

năng soạn bài giảng và KN mở bài/ đặt vấn đề hếu hết các SV ở mức độ tự tin và

tương đối tự tin. Mức độ tự tin đứng lớp được phân bố đều ở các mức tự tin, tương

đối tự tin và không tự tin. Với KN thuyết giảng chiếm tyr lệ cao giữa tự tin (40.51



33



%



%) và không tự tin (41.77%) điều này cho thấy khả năng của mỗi SV và do vậy sự

luyện tập ở KN này là cần thiết. Ở KN giao tiếp sư phạm hầu hết các SV đều cảm

thấy tương đối tự tin chiếm đến 77%. KN về sự liên hệ thực tiễn bằng ví dụ mức độ

tự tin và không tự tin ngang nhau. KN sự dễ dàng trong đặt câu hỏi có đến 51.90%

SV cho rằng không tự tin và đến 40.51% SV cho rằng tương đối tự tin – đây là kỹ

năng cần luyện tập nhiều cả kiến thức và KN thì mỗi SV mới có thể làm tốt được.

KN trình bày bảng có tới 58.23 SV cho rằng mình tự tin. Ở KN tổng kết nội dung

hầy như các SV đều cảm thấy tự tin hoặc tương đối tự tin.

Từ kết quả này cho thấy, các SV thiên về các kỹ năng sử dụng công nghệ

nhiều hơn, các KN liên quan đến nội dung bài dạy, truyền đạt tri thức vẫn chưa thực

sự tự tin đặc biệt kỹ năng đặt câu hỏi, lấy ví dụ minh họa. Hoặc các KN ở mức độ

tương đối tự tin khá nhiều. Do vậy, cần rèn luyện bản lĩnh đứng lớp cho các SV là

điều cần thiết.

Bảng 1.3. Kết quả điều tra sự rèn luyện các KNDH của SV trong dạy học Sinh học

MỨC ĐỘ

K

Rất

Thườn



thường xuyên

g xuyên

năng

S

%

S

L

L

1

2

2

5

0

5.32

4

8.35

2

1

1

3

0

2.66

4

3.04

3

1

1

2

1

3.92

3

9.11

4

2

4

2 .53

4

5.70

5

0

3

0 .00

5

4.30

6

1

1 .27

9 1.39

7

1

3

9 1.39

5

4.30

8

2

5

2 .53

3

7.09

9

1

1

2

1

3.92

0

5.32

1

1

5

0

1 .27

7

2.15



Thi

thoảng

%

S

L

6

1

4

3

1

2

3

2

5

3

2

4

4

2

1

4

3

4

3

4

6

1

0

2

2

7

2

0



34



Hiếm

khi

%



S

L



1

.27



2 .53

3



9.24

4

0.51



0



3 .80

1

2.66



4

0.51



1 .27

5



3.16

5

4.43



4



2 .53

2

0.38



4

3.04

1

2.66



2

2



.53



5



0 .00

1

5.19

4

6.96



2

5.32



1 .27



Không

bao giờ

%

S

L

2

2

3

1

1

3

1

0

2

0

3

2

0

1

1

2

5

1

1

0



%

2

.53

1

.27

3

.80

0

.00

0

.00

2

.53

1

.27

2

.53

1

.27

0

.00



( Các kỹ năng: 1 - Soạn bài dạy; 2 - Mở bài/Đặt vấn đề; 3 - Tự tin đứng lớp; 4 - Thuyết

giảng; 5 - Giao tiếp sư phạm; 6 - Liên hệ thực tiễn bằng ví dụ;7 - Sự dễ dàng trong việc

đặt câu hỏi; 8 – Trình bày bảng; 9 - Sử dụng thiết bị dạy học; 10 – Tổng kết nội dung)

Kết quả thu được trong bảng 1.3 cho thấy: Mức độ rất thường xuyên luyện

tập các KN không nhiều. KN luyện tập ở mức độ rất thường xuyên nhiều nhất là kỹ

năng soạn bài dạy – đây là kỹ năng bắt buộc các SV phải làm không thể bỏ qua. KN

mở bài/ đặt vấn đề. KN thuyết giảng được rất nhiều SV quan tâm được thể hiện qua

55.70 SV luyện tập thường xuyên và 40% SV thi thoảng tập giảng. Tương tự KN

thuyết giảng thì KN giao tiếp sư phạm, đặt câu hỏi cũng được nhiều SV quan tâm

và chú ý. Là KN khó và SV cũng tránh luyện tập nhiều (có 54.43 SV thi thoảng

luyện tập). KN được luyện tập thường xun là KN trình bày bảng (có đến 67% SV

thường xuyên luyện tập). Sử dựng thiết bị dạy học rất ít SV luyện tập tường xuyên

nhưng tổng kết nội dung bài học các SV lại quan tâm rất nhiều.

Từ kết quả của bảng tổng kết trên, nhận thấy sự rèn luyện của mỗi kỹ năng đối

với các SV là khác nhau. Trong đó phải kể đến KN viết bảng được SV quan tâm và

luyện tập nhiều nhất, KN lấy ví dụ minh họa, sử dụng thiết bị dạy học được ít SV

luyện tập.

Bảng 1.4. Kết quả điều tra vềnhững yếu tố ảnh hưởng



đến sự thành công các tiết dạy của SV đối với mơn Sinh học

Yếu tố

1

2

3

4

5



Mức độ

Rất lớn

SL

56

23

10

11

12



%

70.89

29.11

12.66

13.92

15.19



Lớn

SL

20

45

31

23

65



%

25.32

56.96

39.24

29.11

82.28



Bình thường

SL

%

2

2.53

10

12.66

35

44.30%

43

54.43

0

0.00



Ít ảnh hưởng

SL

%

1

1.27

1

1.27

3

3.80

2

2.53

2

2.53



(Các yếu tố: 1- Sự tự tin; 2 – Kiến thức;

3 – Kỹ năng dạy học; 4 – Giáo án; 5 – Sự luyện tập trước)

Kết quả bang 1.4. cho thấy: Các SV cho rằng sự tự tin ảnh hướng rất lớn đến

sự thành cơng của bài dạy (có tới 70.89 SV chọn mức độ rất lớn). Tiếp theo phải kể

đến sự luyện tập trước có đến 82.28 SV cho rằng cần có luyện tập trước sẽ ảnh

hưởng lớn đến bài dạy. Sự ảnh hưởng của KNDH các SV cho rằng sẽ ảnh hưởng lớn



35



hoặc bình thường đến sự thành công của tiết dạy. Hơn nửa SV cho rằng giáo án chỉ

ảnh hướng mức độ bình thường đến sự thanh công của tiết dạy.

Kết hợp kết quả thu được từ bảng 1.2, 1.3, 1.4 cùng với thực tiễn chúng tôi đi

đến kết luận chung là: Hầu hết các SV đều ý thức được nghề dạy học của mình, bên

cạnh đó cũng khơng ít SV khơng thực sự có nhiều đam mê với nghề dạy học. Sự tự

tin để đứng trước lớp học giảng bài cũng bị phân tán ở các kỹ năng khác nhau. SV

có thể tự tin ở KN này nhưng lại không tự tin ở KN khác dù các SV đã có thời gian

kiến tập và thực tập tại các trường học trong năm 2, năm 3. Sự luyện tập KNDH

cũng diễn ra không thường xuyên nhiều, chỉ khi cần thiết như môn học bắt buộc hay

khi thực tập. Qua kết quả điều tra, chúng tôi nhận thấy cần có những phương pháp

giúp SV có cơ hội, thời gian luyện tập, rèn luyện KNDH cũng như sự tự tin đứng

lớp. Dạy học vi mô để rèn luyện KNDH Sinh học cho SV sư phạm Sinh học năm 4

nếu thành cơng sẽ góp phần vào việc hồn thiện KNDH cho SV



36



Kết luận chương 1

Trên thế giới và trong nước đã có nhiều cơng trình nghiên cứu về kỹ năng

dạy học và dạy học vi mô. Tùy theo cách tiệp cận hay mục đích nghiên cứu mà mỗi

tác giả lựa chọn những định hướng khác nhau để nghiên cứu. Từ đó, các tác giả phát

triển các cách khác nhau để rèn luyện KNDH cho SV hoặc có thể là bồi dưỡng GV

bằng dạy học vi mô.

Qua việc nghiên cứu tổng quan các vấn đề đó chũng tơi đã xác định khái

niệm kỹ năng dạy học, các dạng thang đo KNDH, khái niệm DHVM, các bước

trong DHVM, vai trò của DHVM đối với rèn luyện KNDH. Đây là những định

hướng quan trọng trong việc nghiên cứu xác định thang đo để đo hiệu quả rèn luyện

KNDH cho SV sư phạm SH bằng DHVM.

Bên cạnh đó, chúng tơi cũng tiến hành điều tra các SV về sự cần thiết của rèn

luyện KNDH, mức độ tự tin khi thể hiện KNDH; mức độ thường xuyên rèn luyện

KNDH và những yếu tố ảnh hưởng đến sự thành công trong tiết dạy của mỗi SV sư

phạm Sinh học. Kết quả cho thấy nhu cầu cần thiết rèn luyện của SV là rất lớn, song

các SV chưa tìm ra được phương pháp hiệu quả đúng đắn để rèn luyện. Điều này có

ý nghĩa đáp ứng được nhu cầu phát triển khả năng nghề dạy học của mỗi SV bằng

tự học nghề thông qua DHVM.



37



Chương 2

XÁC ĐỊNH THANG ĐO KỸ NĂNG DẠY HỌC

CỦA SINH VIÊN SƯ PHẠM SINH HỌC

2.1. Phân tích học phần PPDH Sinh học 12

Để chuẩn bị cho học tập học phần PPDHSH 12 mỗi sinh viên cần biết được

nội dung học phần, mục tiêu của học phần. Từ đó, mỗi SV sẽ đề ra những nhiệm vụ

cũng như mục tiêu cụ thể cho bản thân để hồn thành học phần tốt nhất.

Vị trí học phần: PPDH Sinh học 12 là học phần cần thiết dành cho tất cả các

SV sư phạm Sinh học trong q trình đào tạo: Tâm lí học  Giáo dục học  LL và

PPDH bộ môn  TTSP. Trong đó, q trình rèn luyện kỹ năng được rèn luyện được

tác giả An Biên Thùy [35] tổng kết thông qua các học phần sau:

Bảng 2.1. Quá trình rèn luyện kỹ năng dạy học

Học phần



NLDH

(TC - Tc)



Kỹ năng cần tập trung rèn luyện



Học kỳ



- Kỹ năng soạn bài cơ bản: trình bày được ý

nghĩa của từng kỹ năng; khái quát được

1. LLDHSH



1.1 – 1.10



quy trình tiến hành; chỉ ra được điểm cần



6



lưu ý khi thực hiện kỹ năng



2. PPDHSH

10



- Mức độ cần đạt được kỹ năng: thao tác

-Kỹ năng soạn bài: Vận dụng được trong

1.1 – 1.10



môn học cụ thể



7



- Mức độ cần đạt kỹ năng: Chuẩn hóa

- Kỹ năng thể hiện bài giảng cơ bản: ý

nghĩa của từng kỹ năng, quy trình tiến



3. PPDHSH

11



4. PPDHSH

12



1.1 – 1.10



1.1 – 1.10



hành, điểm cần lưu ý khi thực hiện kỹ năng

- Mức độ cần đạt kỹ năng: Thao tác



- Kỹ năng thể hiện bài giảng: các KN nâng cao.

- Mức độ cần đạt kỹ năng: Chuẩn hóa



38



7



8



- Kỹ năng soạn bài nâng cao, kỹ năng thể

5. TTSP



1.1 – 1.10



hiện bài giảng nâng cao, kỹ thuật dạy học

tích cực



8



- Mức độ cần đạt kỹ năng: Phối hợp

Ghi chú: Tham khảo thêm khung chuẩn đầu ra khối ngành sư phạm [7]

Thang phân loại của Bloom (1956) về lĩnh vực nhận thức.

Thang phân loại của của Dave (1972) về lĩnh vực kỹ năng [10

Vai trò của học phần: Học phần này dành cho các SV năm 4 và được học vào

học kì 8. Đây như là một học phần cụ thể trong chương trình dạy phổ thông. Học

phần này được học sau khi các SV được học Tâm lí học, Giáo dục học và LLDH

Sinh học nên được kế thừa cũng như có kiến thức nhất định về ba học phần đó. Mỗi

Sv cũng đã nắm rõ được tâm lý lứa tuổi HS THPT qua học phần Tâm lí học; hiểu rõ

quy luật của q trình giáo dục – dạy học thông qua phọc phần Giáo dục học; nội

dung môn Sinh học ở trường PT, PP dạy của GV và PP học của học sinh qua học

phần LLDHSSH. Qua 2 phần PPDHSH 10 và 11, mỗi SV cũng tích lũy cho mình

thêm kiến thức và rèn luyện kỹ năng dạy học cơ bản. Học phần PPDHSH 12 là học

phần cuối cùng về rèn luyện kỹ năng trước khi các SV chính thức thực tập tại các

trường THPT. Đó cũng là lý do để mỗi SV cố gắng để hồn thiện mình hơn nữa.

Trong học phần này mỗi sinh viên không chỉ tiếp tục rèn luyện các kỹ năng dạy học

mà cần phải chuẩn hóa các kỹ năng và thực hiện được các kỹ năng nâng cao. Mỗi

SV cần biết vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học của mình vào mỗi bài

giảng cũng như cách xử lý tình huống lớp học. Theo đúng mục tiêu lấy người học

làm trung tâm, trong học phần này các SV không chỉ được học lý thuyết về PPDH

Sinh học 12 mà SV được rèn luyện nhiều kỹ năng như thông qua các hoạt động

DHVM, thiết kế các tập san Tiến hóa sau khi tổ chức tham quan Bảo tàng thiên

nhiên Việt Nam,được trao đổi kinh nghiệm dạy học với GV lâu năm, yêu nghề.

Trong các hoạt động cụ thể, SV được nghe, được dạy học, được đánh giá, được làm,

được tham gia các kỹ thuật dạy học như kỹ thuật “chạm”, hoạt động theo nhóm. Đó



39



cũng là những hoạt động sau này dạy học mỗi SV – những GV tương lai áp dụng

trong dạy học.

2.2. Xác định các kỹ năng dạy học cần đo của sinh viên Sinh học trường

ĐHSPHN

Theo tác giả Trần Bá Hoành, kỹ năng dạy học Sinh học gồm có 4 nhóm kĩ

năng cơ bản, bao gồm (1) Nhóm kĩ năng chuẩn bị lên lớp: xác định mục tiêu bài

học, phân tích chương trình và SGK, nghiên cứu đặc điểm trình độ HS, xây dựng kế

hoạch dạy học, soạn giáo án, chuẩn bị các phương tiện dạy học; (2) Nhóm kĩ năng

lên lớp: ổn định lớp, kiểm tra bài cũ, thực hiện bài mới, củng cố bài học, hướng dẫn

tự học, ra bài tập về nhà; (3) Nhóm kĩ năng thực hiện các hình thức dạy học khác: tổ

chức các hoạt động ngoại khóa, tham quan, thực tập; (4) Nhóm kĩ năng kiểm tra,

đánh giá kết quả dạy học: làm đề kiểm tra, làm đáp án và thang điểm, tổ chức kiểm

tra – thi, trả bài [16].

Rèn luyện kỹ năng bằng phương pháp dạy học vi mơ mỗi sinh viên cần phát

huy tính độc lập, sáng tạo trong quá trình vận dụng tri thức và kỹ xảo vốn có của

mình để giải quyết các tình huống mới trong dạy học. Sau mỗi lần giảng bài, sinh

viên nghe nhận xét từ SV khác và xem lại video bài giảng của mình nên cần nắm

được thơng tin phản hổi để tìm ra chỗ tốt, chỗ chưa tốt của KN đã thực hiện. Sau

đó, mỗi sinh viên sẽ điều chỉnh động tác hay các công cụ và luyện tập để đạt được

kết quả tốt hơn.Và trong các nhóm kỹ năng chính nêu trên thì chỉ có nhóm (2)

Nhóm kĩ năng lên lớp: ổn định lớp, kiểm tra bài cũ, thực hiện bài mới, củng cố bài

học, hướng dẫn tự học, ra bài tập về nhà là có thể áp dụng được PPDHVM. Bởi vì

các kỹ năng trong nhóm (2) này mới là “hành động dạy học” có thể thực hiện ghi

hình và phân tích đánh giá dễ dàng được theo nguyên tắc của DHVM.

Với mỗi sinh viên, việc rèn luyện kỹ năng là điều cần thiết. Mỗi sinh viên

sẽ phải rèn luyện cho mình rất nhiều kỹ năng để dạy học: kỹ năng thuyết trình, kỹ

năng giải thích, kỹ năng mở đầu, kỹ năng nhận xét, kỹ năng viết bảng, kỹ năng đặt

câu hỏi… Sự thành thạo các kỹ năng dạy học sẽ góp phần rất lớn và sự thành công

của bài học. Với phương pháp DHVM chúng tôi tiến hành phân tích hiệu quả rèn



40



luyện của phương pháp này đối với nhóm SV. Thơng qua thực tế tìm hiểu các kỹ

năng cơ bản nhất của SV và những kỹ năng mà chúng tơi nhận thấy có thể quan

sát rõ ràng nhất sự thay đổi của các SV thông qua các video bài dạy. Chúng tơi

tiến hành phân tích 3 kỹ năng của sinh viên: Kỹ năng thuyết trình, kỹ năng đặt câu

hỏi, kỹ năng viết bảng có những lí do sau:

- Với mơn Sinh học, tác giả Wallace (1980) có u cầu đối với giáo viên mơn

Sinh học về kỹ năng cũng như lĩnh vực sư phạm về: sự dễ dàng đặt câu hỏi, sự trợ

giúp bằng hình ảnh, sự lặp lại, sự sửa sai, sự sử dụng các trò chơi, sự sử dụng các quy

tắc, sự xác thực về ngôn ngữ, sự tái giao tiếp và sự chuẩn bị các bài dạy học [1].

- Đây là 3 kỹ năng cơ bản mà chúng tôi thấy cần thiết phải rèn luyện cho sinh

viên.

- Tiến hành DHVM đối với 3 kỹ năng này đều có thể quan sát và đánh giá

được. Đoaa là những kỹ năng dễ dàng nhận thấy ở SV

- Có thể xây dựng được các tiêu chí đánh giá cho cả ba kỹ năng này thơng

qua dạy học vi mơ

2.2.1. Kỹ năng sử dụng bảng

Vai trò của bảng viết

- Chính xác hóa nội dung bài học, lưu lại lâu hơn bằng lời nói, trực quan hóa

nơi dung bài học

- Học sinh dễ nhớ bài khi giáo viên sử dụng hình vẽ, sơ đồ,… tạo hứng thú,

khích lệ trí tưởng tượng và óc thẩm mỹ

- Học sinh hiểu bài hơn, dễ theo dõi tiến trình bài giảng

- Trình bày bảng, gọn gàng, khoa học sẽ hình thành cho học sinh tính cẩn

thận, tính cẩn thận, chính xác.

- Đôi khi giáo viên dùng động tác viết bảng để điều khiển lớp

- Viết bảng đẹp sẽ gây thiện cảm với học sinh

Việc ghi và trình bày bảng nói chung ln đòi hỏi những u cấu về tính

khoa học nội dung chính xác), tính sư phạm (có những tác dụng giáo dục) và tính

thấm mỹ (viết chữ trình bày đẹp). Muốn thực hiện tốt những yêu cầu trên người



41



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Quá trình thực hiện DHVM là một vòng tuần hoàn, mỗi SV sẽ tiến hành giảng dạy lặp lại nhiều lần để có những sự thay đổi theo ý muốn của mình. Sau mỗi lần dạy lại có sự phản hồi, góp ý, tự nhận xét thông qua các video ghi lại được hoặc nhận xét trực tiếp.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×